Thị trường chứng khoán ngày 24/4 ghi nhận diễn biến điều chỉnh sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh tâm lý nhà đầu tư có phần thận trọng khi kỳ nghỉ lễ kéo dài đang đến gần và số phiên giao dịch trong tuần tới bị rút ngắn.
Áp lực bán gia tăng rõ nét về cuối phiên đã khiến các chỉ số đảo chiều giảm điểm. VN-Index dù có thời điểm tăng hơn 10 điểm, tiệm cận mốc 1.880 điểm, nhưng sau đó suy yếu khi nhóm cổ phiếu dẫn dắt hụt lực, đặc biệt là nhóm ngân hàng. So với vùng đỉnh trong ngày, chỉ số này đã giảm khoảng 20 điểm trước khi đóng cửa.
Kết thúc phiên, VN-Index giảm 17,12 điểm, tương ứng 0,92%, xuống 1.853,29 điểm. Thanh khoản toàn thị trường sụt giảm đáng kể so với phiên trước, với tổng khối lượng khớp lệnh đạt khoảng 566 triệu cổ phiếu, tương ứng giá trị giao dịch hơn 19.286 tỷ đồng. Tính chung cả thỏa thuận, tổng khối lượng đạt hơn 673,8 triệu đơn vị, giá trị xấp xỉ 19.347,9 tỷ đồng.
Độ rộng thị trường nghiêng về bên bán với 389 mã giảm giá, trong khi có 328 mã tăng và 34 mã tăng trần; chiều giảm sàn ghi nhận 28 mã. Riêng rổ VN30 ghi nhận sự áp đảo của sắc đỏ với 21 mã giảm, chỉ 8 mã tăng và 1 mã đứng giá.
Xét về mức độ ảnh hưởng đến chỉ số, bộ ba cổ phiếu VIC, VHM và VPL đã lấy đi hơn 11 điểm của VN-Index, trong đó riêng VHM đóng góp hơn 6,5 điểm giảm. Bên cạnh đó, nhóm ngân hàng với các đại diện VCB, BID và CTG cũng kéo giảm gần 6 điểm.
Ở chiều tích cực, TCB là mã hỗ trợ thị trường tốt nhất nhưng cũng chỉ đóng góp khoảng 1,5 điểm, tiếp theo là VJC và GVR với mức ảnh hưởng hạn chế.
Xét theo nhóm ngành, phần lớn các lĩnh vực ghi nhận mức giảm điểm. Nhóm bất động sản giảm 1,72%, tài chính giảm 0,72%, công nghệ giảm 1,28%. Một số ngành giữ được sắc xanh nhẹ như năng lượng (+0,31%), vật liệu cơ bản (+0,17%) và dịch vụ hạ tầng (+0,53%), song mức tăng không đáng kể.
Nhóm thép cũng ghi nhận trạng thái trái chiều. HPG và HSG tăng nhẹ, trong khi NKG giảm điểm. Diễn biến này phản ánh sự phân hóa trong dòng tiền thay vì xu hướng đồng thuận.
Đáng chú ý, nhóm ngân hàng là tác nhân chính gây áp lực lên thị trường khi nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn giảm mạnh như VCB giảm 3,5%, BID giảm 2,04%, CTG giảm 1,41%, cùng với các mã khác như ACB, STB, SHB đồng loạt điều chỉnh.
Ở chiều ngược lại, chỉ một vài mã giữ được sắc xanh như TCB tăng 2,85% và HDB tăng 1,13%.
Tương tự, nhóm chứng khoán cũng chịu áp lực điều chỉnh trên diện rộng với các mã như SSI, HCM, VIX, SHS, VND, VCI đồng loạt giảm giá. VCK là điểm sáng hiếm hoi khi tăng gần 3%.
Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục là điểm trừ khi duy trì xu hướng bán ròng mạnh, với giá trị lên tới 1.946 tỷ đồng trong phiên.
Cụ thể, khối này mua vào 1.624 tỷ đồng nhưng bán ra hơn 3.570 tỷ đồng. FPT là cổ phiếu bị bán ròng mạnh nhất với giá trị hơn 414 tỷ đồng, theo sau là ACB và VCB.
Bộ Công thương đang lấy ý kiến dự thảo quyết định về việc quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia. Theo đó, Bộ đề xuất khung giờ cao điểm thay đổi theo từng mùa trong năm. Cụ thể, từ thứ hai đến thứ bảy vào tháng 1 - 4 và tháng 9 - 12, khung giờ cao điểm sẽ từ 14 - 19 giờ (5 tiếng); từ tháng 5 - 8, giờ cao điểm từ 14 giờ 30 - 16 giờ 30 (2 tiếng) và 19 giờ 30 - 22 giờ 30 (3 tiếng). Khung giờ thấp điểm là 6 tiếng mỗi ngày, từ 0 - 6 giờ sáng. Còn lại giờ bình thường có 13 tiếng mỗi ngày từ thứ hai đến thứ bảy và 18 tiếng ngày chủ nhật.
Bộ này lý giải, việc điều chỉnh các khung giờ sử dụng điện của hệ thống điện quốc gia xuất phát trong bối cảnh vận hành thực tế thay đổi nhiều so với 12 năm trước. Đặc biệt, từ năm 2019 đến nay, với sự thâm nhập mạnh mẽ và gia tăng tỷ trọng của nguồn điện mặt trời (ĐMT) trong cơ cấu nguồn điện, biểu đồ công suất các loại hình nguồn điện đã có sự thay đổi đáng kể. Thế nên việc điều chỉnh khung giờ giúp phản ánh đúng đặc điểm cung - cầu điện năng trong bối cảnh mới. Ngoài ra, việc xác định hợp lý các khung giờ giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng. Người dùng điện sẽ điều chỉnh hành vi tiêu thụ điện nhằm giảm chi phí, qua đó giảm áp lực cho hệ thống điện trong thời gian cao điểm. Hơn nữa, khi khung giờ cao điểm ngược (lệch) với giờ phát cao của các nguồn năng lượng tái tạo sẽ là động lực để người đầu tư ĐMT phát triển thiết bị lưu trữ để sử dụng vào khung giờ cao điểm.
Tuy nhiên, Tập đoàn Điện lực VN (EVN) lo ngại, với khoảng 1,25 triệu công tơ phục vụ mua bán, giao nhận điện, trong đó phần lớn công tơ được cài đặt theo khung giờ cố định; để triển khai cài đặt lại công tơ theo khung giờ mới có thể kéo dài đến 3 tháng, khối lượng công việc phát sinh rất lớn, bao gồm cập nhật cấu hình; đồng bộ dữ liệu giữa công tơ với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa, hệ thống quản lý khách hàng và tính hóa đơn (CMIS) và các hệ thống liên quan…
Quan trọng hơn, việc triển khai đồng loạt trên phạm vi rộng và thực hiện nhiều lần trong năm tiềm ẩn nhiều rủi ro sai sót, phát sinh khiếu nại của khách hàng và chi phí khi triển khai. Từ đó, EVN đề nghị chưa áp dụng điều chỉnh khung giờ theo mùa. Khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN tập trung vào 5 tiếng từ chiều tối đến đêm (17 giờ 30 - 22 giờ 30) từ thứ hai đến thứ bảy; giờ bình thường từ 6 - 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 - 24 giờ từ thứ hai đến thứ bảy; chủ nhật từ 6 - 24 giờ; khung giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.
Như vậy, khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN kéo dài vào buổi tối và không tính giá cao điểm vào ban ngày. Trong khi khung giờ cao điểm của Bộ Công thương đề xuất thay đổi theo mùa và phân bổ giờ cao điểm cả ban ngày (buổi chiều) và buổi tối.
Ông Nguyễn Quốc Việt, Tổng giám đốc Công ty CP Vinasol, nhận xét việc thay đổi các khung giờ cao điểm, thấp điểm của Bộ Công thương nhằm mục tiêu khuyến khích nhà đầu tư ĐMT phải đầu tư pin lưu trữ thì mới có hiệu quả. "Việc phân bổ lại các khung giờ nhằm giúp làm phẳng biểu đồ phụ tải của ngành điện, giảm áp lực lên lưới điện vì khi vào ban đêm sẽ có nguồn phát từ các hệ thống lưu trữ. Tôi nghĩ cơ quan quản lý đang tìm cơ chế tốt nhất nhằm tháo gỡ cho ĐMT mái nhà bên cạnh chính sách thay đổi về khung giờ nhằm thúc đẩy việc lắp pin lưu trữ. Nếu chính sách này được tổ chức tốt, chắc chắn sẽ kích hoạt mạnh việc sử dụng ĐMT kết hợp lưu trữ", ông Việt nói và thông tin thêm, chi phí đầu tư ĐMT có pin lưu trữ nay khá cạnh tranh, còn khoảng 12 - 15 triệu đồng/kWh, thời gian hoàn vốn chỉ còn khoảng 3 năm thay vì 5 năm như trước. Cùng với đó, chính sách mua điện dư thừa cởi mở hơn cũng là động lực thúc đẩy người dân lắp đặt.
Các chuyên gia cho rằng ĐMT tiềm năng lớn, song mức huy động không tăng như kỳ vọng do hạ tầng tải điện khó đáp ứng. TS Ngô Đức Lâm, nguyên Cục trưởng Cục An toàn kỹ thuật và môi trường, khuyến nghị cần tính toán phụ tải, nếu bảo đảm an toàn, hệ thống có thể nâng công suất mua điện dư của nguồn điện này cao hơn, chiếm tỷ trọng 20% trên toàn hệ thống. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 10 về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển ĐMT mái nhà tự sản tự tiêu, trong đó nói rõ ưu tiên lắp đặt tại cơ quan, công sở, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và hộ gia đình; khuyến khích lắp đặt kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm và tăng khả năng tự chủ nguồn điện tại chỗ.
"Chỉ đạo rất rõ ràng. Đầu tư ĐMT cho cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ chế về vốn đầu tư, ưu đãi tín dụng đầu tư thế nào, phải nhanh chóng hơn. Hiện ĐMT mái nhà cho công sở dường như vẫn giậm chân tại chỗ. Ngoài ra, đã khuyến khích pin lưu trữ thì cũng cần có chính sách ưu đãi để giúp cân bằng phụ tải hệ thống. Tôi từng đề xuất nếu nhà đầu tư có lắp đặt hệ thống lưu trữ thì EVN cần mua điện với giá cao hơn mức bình quân. Bởi nếu không có nguồn điện này, EVN vẫn phải nhập khẩu hoặc mua điện từ những nguồn đắt đỏ", ông Ngô Đức Lâm nói.
Ông Nguyễn Quốc Việt đồng tình, muốn đẩy nhanh ĐMT cần sửa gấp Nghị định 58 về giới hạn công suất lắp đặt; đẩy nhanh triển khai nâng tỷ lệ bán điện lên lưới. Hiện Bộ Công thương đã có đề xuất cho phép bán lên lưới 50% (thay vì 20% công suất lắp đặt), song đề xuất này vẫn còn trên giấy. Bên cạnh đó, sớm có chính sách khuyến khích bán điện vào giờ cao điểm và ưu đãi cho các hệ thống có pin lưu trữ. Ông Việt nói: "Tháo được chốt nghẽn, chắc chắn điện tái tạo sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, cũng như tăng độ tin cậy, an ninh năng lượng".
Theo Đài Khí tượng thủy văn Nam bộ, trong những ngày cuối tháng 6 đầu tháng 7 khu vực TP.HCM xuất hiện đợt mưa vừa, mưa lớn và giông. Tổng lượng mưa phổ biến 150 - 300 mm, có nơi trên 300mm.
Hiện tại, gió mùa tây nam cường độ trung bình có xu hướng hoạt động mạnh dần lên trong những ngày tới. Nguyên nhân từ khoảng ngày 30.6 hình thành dải hội tụ nhiệt đới có trục đi qua khu vực giữa Biển Đông. Do vậy, trong những ngày tới TP.CM và Nam bộ xuất hiện đợt mưa lớn trên diện rộng. Cần đề phòng khả năng mưa lớn gây ngập ở các vùng trũng thấp, khu đô thị, công nghiệp, khu vực ven sông và kênh rạch. Trong mưa giông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Trên phạm vi cả nước, theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia (NCHMF), từ nay đến 30.6, khu vực vùng núi và trung du Bắc bộ có mưa vừa, mưa lớn và giông, cục bộ có nơi mưa rất lớn; khu vực đồng bằng có mưa, mưa vừa và rải rác có giông, cục bộ có nơi mưa lớn. Thời gian mưa tập trung vào chiều tối, đêm và sáng.
Bên cạnh đó, khu vực Nam bộ chiều từ tối ngày 29.6 có mưa rào và rải rác có giông, cục bộ có nơi mưa lớn. Từ ngày 30.6, mưa có khả năng gia tăng cục bộ có nơi mưa lớn. Trong mưa giông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Từ ngày 30.6 - 1.7, khu vực Bắc bộ và Thanh Hóa có mưa rào và rải rác có giông, cục bộ có nơi mưa lớn, riêng khu vực vùng núi và trung du có mưa lớn diện rộng.
Từ ngày 2.7, mưa lớn có xu hướng giảm dần ở khu vực vùng núi và trung du Bắc bộ. Tuy nhiên, mưa lớn mở rộng sang khu vực đồng bằng Bắc bộ và Thanh Hóa.
Khoảng từ ngày 1 - 3.7, khu vực từ Nghệ An đến Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk bắt đầu xuất hiện mưa giông rải rác, cục bộ có nơi mưa lớn; ngày nắng, có nơi nắng nóng.
Thời gian livestream là từ 10 - 11 giờ ngày 30.6 trên fanpage chính thức của Cục Thuế. Tham gia chương trình sẽ có lãnh đạo các ban, đơn vị của Cục Thuế.
Ngoài ra, các nội dung liên quan luật Quản lý thuế 2025 và văn bản hướng dẫn thi hành, chương trình còn dành thời lượng để giải đáp những nội dung người nộp thuế quan tâm như: các quy định mới về hóa đơn điện tử; quy định về đăng ký thuế, khai thuế và các nội dung người nộp thuế cần lưu ý trong quá trình thực hiện chính sách mới, đặc biệt là các mốc thời gian và yêu cầu tuân thủ theo quy định, giúp tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định mới.
Mọi thắc mắc của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và người nộp thuế trên cả nước sẽ được các chuyên gia của Cục Thuế giải đáp, được đăng tải trên fanpage của cục.
Luật Quản lý thuế 2025 mang đến nhiều thay đổi quan trọng, tập trung mạnh vào chuyển đổi số, tự động hóa và quản lý dựa trên rủi ro.
10 điểm mới nổi bật tại luật, gồm: phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế (điều 3); bổ sung các hành vi bị cấm trong quản lý thuế (điều 8); mã số thuế gắn liền với số định danh cá nhân (điều 11); giảm thời hạn khai bổ sung hồ sơ khai thuế (khoản 5 điều 12); bổ sung quy định về khai thuế thương mại điện tử của hộ, cá nhân kinh doanh (khoản 4 điều 13); tự động hóa trong hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế (điều 18, điều 19); quản lý các mô hình kinh tế mới và thuế quốc tế (điều 30, điều 31); tăng cường quản lý rủi ro và kiểm tra, thanh tra thuế (điều 43, điều 44); mở rộng dịch vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế (điều 51); lộ trình giao dịch điện tử toàn diện (khoản 4 điều 52).
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2026. Tuy nhiên, quy định tại điều 13 về khai thuế, khoản thu khác; tính thuế, khoản thu khác; khấu trừ thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại điều 26 có hiệu lực từ ngày 1.1.2026.