Theo thông báo của Thuế tỉnh Khánh Hòa về việc công khai danh sách người nộp thuế nợ tiền thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước, tổng số tiền nợ thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước mà 6.231 tổ chức, cá nhân trong danh sách công khai, nợ tính đến ngày 31-3-2026 tại Khánh Hòa là hơn 1.765,27 tỉ đồng.
Ngoài rất nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân nợ thuế từ hàng tỉ đồng đến hàng trăm tỉ đồng, có 19 trường hợp nợ các khoản tiền thuế rất ít, thấp nhất là 180 đồng và nhiều nhất là 89.100 đồng.
Trong đó có 5 doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, TNHH) ở các phường Phan Rang, Cà Ná, Đông Hải (tỉnh Ninh Thuận cũ) nợ thuế chỉ từ 14.680 đồng đến 89.100 đồng.
Có 14 hộ kinh doanh, cá nhân bị công khai nợ thuế, người nợ nhiều nhất chỉ 87.708 đồng, nhiều người nợ dưới 50.000 đồng.
Đặc biệt, có 2 hộ kinh doanh (ở xã Vạn Ninh) chỉ nợ 180 đồng và 361 đồng tiền thuế; 1 cá nhân (ở xã Vạn Thắng) nợ thuế 2.034 đồng.
Chiều 14-5, phóng viên đã liên lạc qua điện thoại với bà Nguyễn Kim Thái Linh – Phó trưởng Thuế tỉnh Khánh Hòa, là người ký thông báo trên – để hỏi các nội dung liên quan.
Bà Linh cho biết danh sách người nợ thuế được công khai nêu trên đã được các đơn vị và Thuế tỉnh Khánh Hòa thực hiện theo đúng quy trình, quy định.
Số tiền các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân còn nợ thuế trong danh sách đã công khai là theo thống kê tự động của hệ thống quản lý thuế theo quy định của ngành.
Bà Linh nói theo quy định pháp luật hiện hành về quản lý thuế thì dù chỉ nợ 1 đồng tiền thuế cũng bị xác định là nợ thuế.
Do đó, đối với các trường hợp nợ thuế đã được thống kê công khai, dù giá trị khoản nợ rất nhỏ nhưng muốn xóa thì phải thực hiện theo đúng thủ tục, quy trình đã được quy định. Cán bộ thuế có muốn bỏ ngoài danh sách đó cũng không được phép và không thể làm được, trừ trường hợp người nợ thuế phải nộp để hoàn thành xóa nợ thuế đó.
Phóng viên cũng hỏi, trước khi công khai, những doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân trong danh sách nợ thuế tại Khánh Hòa (nhất là những trường hợp nợ số tiền quá nhỏ, lẻ…) có được cơ quan thuế thông báo cho họ biết, nộp để không bị nêu danh nợ thuế hay không?
Trả lời, bà Linh nói tất cả trường hợp nợ thuế đều được các đơn vị quản lý thuế thông báo, làm việc, thậm chí cán bộ thuế phải làm việc nhiều lần nhưng người nợ không hoàn thành theo quy định về nộp thuế mới bị công khai.
Bà còn cho biết thực tế có những trường hợp người nợ thuế với số tiền nhỏ, dù đã được thông báo, làm việc nhiều lần nhưng họ vẫn không chịu nộp để xóa cho xong nợ.
Thậm chí, có khi cán bộ thuế đã tự bỏ tiền túi để nộp thay cho người chỉ nợ mấy chục ngàn đồng tiền thuế, để giảm bớt danh sách người nợ thuế ở địa bàn do đơn vị, cán bộ thuế theo dõi, quản lý thu.
Cảng hàng không dân dụng Phan Thiết, tổng vốn 3.900 tỷ đồng, vừa khởi công trên diện tích 75 ha tại phường Mũi Né.
Theo thiết kế, sân bay đạt tiêu chuẩn cấp 4E, có thể khai thác máy bay thân rộng, công suất giai đoạn một khoảng 2 triệu hành khách mỗi năm. Điểm nhấn là nhà ga rộng 18.000 m2, mang phong cách hiện đại, lấy cảm hứng từ văn hóa Champa với triết lý "hồn lửa - khát vọng vươn cao".
Đại diện Sun Group (chủ đầu tư) cho biết, ý tưởng này xuất phát từ đặc trưng văn hóa của Mũi Né - Phan Thiết. Đây không chỉ là điểm du lịch mà còn là vùng đất giàu chiều sâu của nền văn minh Champa.
Tháp Chăm Pô Sah Inư, cách khu sân bay khoảng 10 km, là nguồn cảm hứng chủ đạo định hình ngôn ngữ kiến trúc. Cụm tháp cao 5-15 m, hơn 1.200 năm tuổi, thờ thần Siva, nằm trên đồi Bà Nài, là di tích quốc gia thu hút du khách.
Theo nhà đầu tư, với thiết kế đậm dấu ấn lịch sử - văn hóa Champa, mỗi hành khách khi bước qua nhà ga không chỉ bắt đầu chuyến bay mà còn chạm vào ký ức một nền văn minh, mang theo bản sắc Phan Thiết ra thế giới.
Trong thiết kế, các cổng vòm được cách điệu thành hình tam giác hướng lên, biểu trưng cho lửa và sinh khí trong văn hóa Champa. Sắc đỏ gạch chủ đạo gợi nhắc di sản và bản sắc địa phương.
Mặt tiền sử dụng hệ cột như điểm giao thoa giữa tĩnh và động, vừa nâng đỡ công trình, vừa tượng trưng cho sự hội tụ và lan tỏa của các dòng chảy văn hóa, kinh tế.
Không gian nhà ga áp dụng kỹ thuật corbel – vòm giật cấp đặc trưng của kiến trúc Champa, tạo nhịp điệu thị giác mạnh mẽ. Các lớp gạch xếp chồng, thu dần vào tâm, khiến công trình như luôn chuyển động, gợi hình ảnh ngọn đuốc dẫn lối.
Kỹ thuật xây gạch corbel cùng hệ vòm giật cấp vươn lên bầu trời, kết hợp sắc đỏ, tạo nhận diện riêng cho sân bay ngay từ khi hành khách tiếp cận.
Yếu tố biểu tượng cũng được lồng ghép qua cấu trúc mái vòm 13 tầng. Trong đó, 12 tầng tượng trưng cho một chu kỳ trọn vẹn, tầng thứ 13 là bước chuyển sang hành trình mới.
Sân bay Phan Thiết là công trình lưỡng dụng quy mô hơn 543 ha, quy hoạch từ năm 2013. Các hạng mục quân sự đã hoàn thành và đưa vào huấn luyện, phần dân dụng dự kiến hoàn thành trong hai năm.
Khi khai thác, sân bay phục vụ các chuyến bay nội địa, đồng thời có thể đón chuyến bay quốc tế không thường lệ, góp phần thu hút khách đến Mũi Né - Phan Thiết. Dự án được kỳ vọng thúc đẩy du lịch, thương mại, logistics và tạo thêm việc làm cho địa phương.
Sáng nay 17.5, Ban quản lý Khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) đã phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Cửa Việt và người dân địa phương thả 3 cá thể rùa biển quý hiếm về với môi trường tự nhiên.
Hôm qua 16.5, trong quá trình đánh bắt thủy sản trên vùng biển Cồn Cỏ, ngư dân Bùi Đình Thủy (trú tại xã Cửa Việt) phát hiện 3 cá thể rùa xanh (vích) bị mắc trong lưới và trôi dạt trên biển. Mỗi con nặng khoảng 1,5 kg, chiều dài mai khoảng 25 cm, rộng 20 cm.
Ngay sau đó, ngư dân Bùi Đình Thủy đã cẩn thận gỡ 3 cá thể rùa biển ra khỏi lưới và đưa lên thuyền di chuyển vào bờ giao nộp cho lực lượng chức năng.
Sau khi tiếp nhận, lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra sức khỏe, đến sáng nay 17.5, các cá thể rùa biển này được thả về lại môi trường tự nhiên.
Rùa xanh (vích) là một trong những loài rùa biển hoang dã quý hiếm, được ưu tiên bảo vệ và nằm trong Sách đỏ Việt Nam, danh mục đỏ IUCN và phụ lục Công ước CITES - Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp.
Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông tư 08 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 337 quy định về hợp đồng lao động điện tử. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1.7.2026.
Theo quy định, mỗi hợp đồng lao động điện tử sau khi được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử và đáp ứng đầy đủ điều kiện sẽ được cấp một mã định danh ID duy nhất, không trùng lặp với bất kỳ hợp đồng lao động điện tử nào khác. ID được cấp một lần và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, kể cả khi hợp đồng được sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hoặc chấm dứt. Các phụ lục và thông báo liên quan cũng được gắn theo ID của hợp đồng đó.
Cơ quan quản lý nhà nước sử dụng ID để quản lý dữ liệu số về hợp đồng lao động điện tử. Việc cấp ID không làm thay đổi thời điểm giao kết, nội dung hay hiệu lực của hợp đồng đã được các bên xác lập.
ID được liên kết với các mã hiển thị hoặc mã tra cứu (theo mã số đơn vị hành chính, mã định danh người lao động, mã số thuế của người sử dụng lao động) do Nền tảng hợp đồng lao động điện tử xây dựng, phục vụ nhu cầu khai thác dữ liệu nhưng các mã này không thay thế cho ID.
Thông tư cũng quy định cấu trúc ID gồm 1 ký tự chữ và 12 ký tự số. Trong đó, ký tự "A" áp dụng với hợp đồng lao động điện tử giao kết từ ngày 1.7.2026 thông qua eContract đủ điều kiện. Ký tự "B" áp dụng với hợp đồng được chuyển đổi từ bản giấy. Ký tự "C" áp dụng với hợp đồng điện tử được giao kết trước ngày 1.7.2026.
Đáng chú ý, kể từ ngày 1.7, tất cả hợp đồng lao động điện tử sau khi giao kết đều phải được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để cấp ID theo quy định. Việc cấp ID được thực hiện tự động trên hệ thống trong vòng 24 giờ kể từ khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. Trường hợp hợp đồng không đáp ứng điều kiện về xác thực danh tính, chữ ký số, dấu thời gian hoặc chứng thực thông điệp dữ liệu, hệ thống sẽ tự động từ chối và thông báo lý do.
Thông tư cũng quy định việc đăng ký tài khoản truy cập Nền tảng hợp đồng lao động điện tử được thực hiện thông qua hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia VNeID.
Trong đó, người lao động sử dụng tài khoản định danh cá nhân; người sử dụng lao động là tổ chức sử dụng tài khoản định danh điện tử tổ chức. Trường hợp chưa đăng ký được tài khoản định danh tổ chức, doanh nghiệp có thể đề nghị Bộ Nội vụ cấp tài khoản truy cập nền tảng.
Để bảo đảm an toàn dữ liệu, Thông tư yêu cầu toàn bộ hoạt động kết nối, khai thác, chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và lưu trữ. Mọi hoạt động truy cập, chia sẻ hoặc xuất dữ liệu đều phải được ghi nhận, giám sát và có khả năng truy vết.
Dữ liệu hợp đồng lao động điện tử sẽ được lưu trữ tối thiểu 10 năm kể từ ngày hợp đồng chấm dứt. Trong trường hợp người lao động và người sử dụng lao động giao kết nhiều hợp đồng liên tiếp thì thời hạn lưu trữ được tính từ ngày chấm dứt hợp đồng cuối cùng.
Thông tư quy định Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam; Sở Nội vụ; Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất; các đơn vị thuộc Bộ Nội vụ; công chức, viên chức, người lao động của các cơ quan, đơn vị nêu trên được giao nhiệm vụ quản lý, vận hành, khai thác nền tảng.
Việc ban hành thông tư nhằm phục vụ công tác quản lý lao động, kết nối dữ liệu và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực lao động. Đây được xem là bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc triển khai hợp đồng lao động điện tử trên phạm vi toàn quốc.