Mới đây, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 502/QĐ-TTg phê duyệt phương án kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống camera giám sát an ninh, trật tự, xử lý vi phạm và điều hành giao thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và chia sẻ dữ liệu với trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh.
Một trong những nội dung đáng chú ý là dữ liệu từ các hệ thống camera của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn được chia sẻ theo cơ chế thỏa thuận thông qua các điểm tập trung kết nối đến trung tâm camera giám sát công an cấp xã.
Đặt câu hỏi đến Bộ Công an, công dân thắc mắc khi quyết định có hiệu lực, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có bắt buộc tất cả camera giám sát do các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp lắp đặt phải chia sẻ với công an xã hay không?
Trả lời nội dung này, Bộ Công an cho biết việc kết nối, chia sẻ dữ liệu từ các hệ thống camera giám sát của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp với công an cấp xã không phải là nghĩa vụ bắt buộc, mà được thực hiện theo cơ chế thỏa thuận giữa các bên.
Hoạt động này bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật Dữ liệu năm 2024. Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 8 Nghị định số 165/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ.
Theo đó việc cung cấp dữ liệu được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, nhằm phục vụ các mục tiêu vì lợi ích chung; đồng thời, phải bảo đảm có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu để xử lý dữ liệu cá nhân liên quan đến họ hoặc sự cho phép của chủ sở hữu dữ liệu để cho phép sử dụng dữ liệu phi cá nhân của họ.
Bộ Công an cho biết để đảm bảo tính khả thi, phương án xác định lộ trình triển khai từ ngày 1/1/2028 bắt đầu mở rộng kết nối đối với các hệ thống camera được đầu tư theo hình thức xã hội hóa (bao gồm camera của tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, hộ dân cư). Cách tiếp cận này thể hiện nguyên tắc khuyến khích, tự nguyện, có lộ trình, không triển khai kết nối đồng loạt, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.
Cũng theo Bộ Công an, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu từ các hệ thống camera của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp với lực lượng công an cấp xã là yêu cầu khách quan, phù hợp với thực tiễn công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình hiện nay, đồng thời là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trên địa bàn cơ sở.
Trước hết, trong bối cảnh tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật ngày càng diễn biến phức tạp, phạm vi hoạt động rộng, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, lực lượng công an cấp xã với vai trò là đơn vị trực tiếp nắm địa bàn cần có các thông tin có liên quan để kịp thời phát hiện từ sớm, xác minh nhanh và xử lý các vụ việc phát sinh.
Việc khai thác dữ liệu từ hệ thống camera xã hội hóa giúp bổ sung nguồn thông tin trực quan, liên tục theo thời gian thực, qua đó nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm ngay từ cơ sở, góp phần giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn.
Bộ Công an cho biết, dữ liệu từ các hệ thống camera là nguồn thông tin quan trọng phục vụ công tác quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội và trật tự, an toàn giao thông. Thông qua việc kết nối, chia sẻ dữ liệu, lực lượng chức năng có thể tăng cường giám sát, điều hành giao thông, phát hiện và xử lý vi phạm, đồng thời hỗ trợ công tác quản lý đô thị theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ số, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
“Trên thực tế, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đã đầu tư một khối lượng lớn hệ thống camera phục vụ nhu cầu quản lý, sản xuất, kinh doanh và bảo đảm an ninh riêng. Tuy nhiên, việc khai thác hiện nay còn phân tán, thiếu kết nối, dẫn đến hiệu quả sử dụng chưa cao.
Do đó, việc thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu với lực lượng công an cấp xã sẽ góp phần tận dụng hiệu quả nguồn lực xã hội đã đầu tư, hình thành mạng lưới giám sát rộng khắp, liên thông, qua đó nâng cao giá trị khai thác, sử dụng dữ liệu, tránh lãng phí”, Bộ Công an nhấn mạnh.
Ngày 2-4, Công an tỉnh Điện Biên thông tin Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC02) đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Phạm Văn Lộc (46 tuổi, trú tỉnh Điện Biên) về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Theo kết quả điều tra, Phạm Văn Lộc là chủ tài khoản Facebook "Phạm Lộc Đb".
Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12-2025 đến 26-3-2026, Lộc liên tục đăng tải 10 bài viết đưa ra nội dung nhiều sự việc chưa rõ ràng, không chính thống.
Lộc còn bị cáo buộc nhiều lần đăng tải bài viết, video và thực hiện bình luận trên không gian mạng với nội dung xuyên tạc, nói xấu, quy kết sai sự thật đối với hoạt động của cơ quan, lực lượng chức năng.
Các bài đăng của Lộc thu hút trên 602.000 lượt xem, 20.000 lượt tương tác, gần 2.000 lượt bình luận, chia sẻ.
Công an xác định hành vi này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
Công an tỉnh Điện Biên khuyến cáo người dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia không gian mạng.
Đồng thời không đăng tải, chia sẻ các thông tin sai sự thật, chưa được kiểm chứng, góp phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn.
Liên quan vụ thảm sát 3 người gia đình bên vợ, ngày 21-4, TAND tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Nam Đại Thuận (38 tuổi, ngụ phường Ea Kao, tỉnh Đắk Lắk) mức án tử hình về tội giết người, 9 năm tù về tội cướp tài sản, 6 năm tù về tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hợp hình phạt, Nguyễn Kim Đại Thuận bị tuyên phạt tử hình.
Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, mang tính côn đồ, thực hiện liên tiếp đối với nhiều nạn nhân trong cùng một gia đình, trong đó có người chưa thành niên. Sau khi gây án, bị cáo còn có hành vi cướp tài sản để bỏ trốn, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật nên cần áp dụng mức án cao nhất.
Theo cáo trạng, năm 2022, Thuận kết hôn với chị Nguyễn Thị Kim H. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do Thuận nghiện ma túy, không lo làm ăn. Lo ngại ảnh hưởng đến con, bà Trần Thị D. (mẹ chị H.) đã đưa con gái và hai cháu về nhà mình tại phường Thành Nhất (Đắk Lắk) sinh sống.
Tối 12-9-2025, sau khi sử dụng ma túy, Thuận nảy sinh ý định sát hại cả gia đình bên vợ vì cho rằng bị ngăn cản, đối xử tệ bạc. Bị cáo chuẩn bị sẵn một búa và một dao bầu, cho vào ba lô rồi đón xe đến khu vực nhà bà D., chờ thời cơ gây án.
Khoảng rạng sáng 13-9, khi anh Bùi Hữu N. (em trai chị H.) vừa mở cổng, Thuận lập tức xông vào, dùng búa tấn công liên tiếp nhiều nhát vào vùng đầu khiến nạn nhân tử vong tại chỗ. Nghe tiếng kêu, chị H. và bà D. chạy ra thì tiếp tục bị Thuận dùng dao tấn công, sát hại.
Sau đó, Thuận vào phòng ngủ, dùng dao đâm nhiều nhát vào cháu T.T.P. (13 tuổi, con riêng của chị H.). Dù bị thương nặng, cháu P. vẫn kịp leo tường, chạy sang nhà hàng xóm kêu cứu và được đưa đi cấp cứu, thoát chết. Đối với cháu M. (3 tuổi, con chung), Thuận không ra tay.
Gây án xong, Thuận tỏ ra bình tĩnh, dùng nước xịt rửa vết máu, kéo thi thể các nạn nhân vào phòng khách, phủ chăn. Sau đó, bị cáo lục lấy khoảng 6 triệu đồng và một điện thoại của bà D. rồi rời khỏi hiện trường.
Trong quá trình bỏ trốn, Thuận tiếp tục dùng dao khống chế một phụ nữ đi đường, cướp xe máy cùng tài sản để di chuyển. Đến khoảng 10h cùng ngày, Công an tỉnh Đắk Lắk đã bắt giữ bị cáo tại khu vực đường 19 Tháng 5 (phường Ea Kao, Đắk Lắk).
Kết luận giám định pháp y xác định các nạn nhân gồm chị H., bà D. và anh N. tử vong do đa vết thương, mất máu cấp và suy tuần hoàn.
Tôi là công dân Việt Nam, vừa kết hôn với chồng quốc tịch Đức vào đầu năm nay. Hiện chồng tôi làm việc cho một công ty công nghệ tại Singapore.
Gần đây, một doanh nghiệp nước ngoài có văn phòng tại TP HCM mời anh sang Việt Nam làm quản lý dự án theo hợp đồng hai năm và cho biết sẽ hỗ trợ làm thủ tục lao động theo quy định.
Tuy nhiên, tôi tìm hiểu thấy pháp luật có quy định người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam và cư trú tại Việt Nam được miễn giấy phép lao động. Trong khi đó, doanh nghiệp lại nói vẫn phải làm hồ sơ liên quan đến lao động nước ngoài trước khi chồng tôi có thể làm việc.
1. Trường hợp chồng tôi sang Việt Nam làm việc sau khi kết hôn với công dân Việt Nam có phải xin giấy phép lao động không?
2. Nếu thuộc diện miễn giấy phép lao động thì doanh nghiệp có còn phải thực hiện thủ tục gì với cơ quan quản lý lao động nước ngoài hay không?
3. Người nước ngoài đã có thẻ tạm trú theo diện kết hôn có được tự do làm việc tại Việt Nam như công dân Việt Nam không?
Luật sư tư vấn
1. Người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam được miễn giấy phép lao động
Theo khoản 8 Điều 154 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 7 Nghị định 152/2020, người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam và sinh sống tại Việt Nam thuộc trường hợp được miễn giấy phép lao động.
Do đó, trường hợp chồng chị là công dân Đức, đã kết hôn với chị và dự kiến cư trú tại Việt Nam, sẽ không phải xin giấy phép lao động khi làm việc tại đây.
2. Doanh nghiệp vẫn phải làm thủ tục với cơ quan lao động
Dù thuộc diện miễn giấy phép lao động, doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài vẫn phải thực hiện thủ tục xác nhận người lao động không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Theo khoản 2, 3 Điều 8 Nghị định 152/2020, được sửa đổi bởi Nghị định 70/2023, doanh nghiệp phải đề nghị Bộ Nội vụ hoặc Sở Nội vụ nơi người lao động dự kiến làm việc xác nhận trường hợp miễn giấy phép lao động trước ít nhất 10 ngày kể từ ngày bắt đầu làm việc.
Hồ sơ gồm văn bản đề nghị xác nhận theo mẫu; giấy khám sức khỏe; văn bản chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài (nếu thuộc diện phải thực hiện); bản sao hộ chiếu còn giá trị; cùng các giấy tờ chứng minh người lao động thuộc diện miễn giấy phép lao động.
Các giấy tờ do nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự, dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định, trừ trường hợp được miễn.
3. Không phải muốn làm việc gì cũng được như công dân Việt Nam
Thẻ tạm trú theo diện kết hôn chỉ xác nhận người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam và là một trong những điều kiện để được miễn giấy phép lao động.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn xem người nước ngoài là nhóm lao động đặc thù, chịu sự quản lý riêng về xuất nhập cảnh, cư trú và sử dụng lao động nước ngoài.
Vì vậy, dù được tạo điều kiện thuận lợi hơn so với lao động nước ngoài thông thường, họ không được tự do làm việc hoàn toàn như công dân Việt Nam. Người lao động vẫn phải ký hợp đồng lao động hợp pháp, khai báo cư trú và tuân thủ các quy định chuyên ngành nếu làm việc trong lĩnh vực có điều kiện. Một số ngành nghề có điều kiện có thể hạn chế người nước ngoài như liên quan đến an ninh, quốc phòng...
Trong một số trường hợp, người lao động nước ngoài thuộc diện miễn giấy phép lao động vẫn phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật Việt Nam.