Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 12/4 công bố Thông tư 26, quy định chuẩn nghề nghiệp của giảng viên đại học. Trong đó nêu 4 tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp.
Điểm mới so với các quy định trước đây là yêu cầu giảng viên tuân thủ các quy định về đạo đức học thuật, đảm bảo liêm chính khoa học, trung thực và minh bạch trong giảng dạy, nghiên cứu, công bố kết quả và các hoạt động chuyên môn khác.
Điều chỉnh của Bộ trong bối cảnh các chủ đề về liêm chính khoa học gây tranh cãi trên mạng xã hội, còn giảng viên chịu áp lực công bố quốc tế.
Hiện, các quy tắc về liêm chính khoa học theo quy định riêng của từng trường. Ví dụ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM, yêu cầu giảng viên không đạo văn, ghi nhận đúng, đủ mức đóng góp của tất cả thành viên với sản phẩm nghiên cứu; không ghi tên đơn vị khác trên công bố khoa học…
Còn Đại học Bách khoa Hà Nội cấm giảng viên mua, bán kết quả nghiên cứu dưới mọi hình thức; không sao chép, biến ý tưởng của người khác thành của mình; không bịa đặt, ngụy tạo đối tượng, dữ liệu nghiên cứu và hồ sơ – lý lịch khoa học.
Một số quy định khác của Thông tư 26 là yêu cầu giảng viên giữ gìn phẩm chất, đạo đức; tôn trọng và đối xử công bằng, đúng mực với sinh viên; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng; tâm huyết với nghề; công bằng trong đánh giá; đồng thời tuân thủ các quy định nội bộ và những tiêu chuẩn đạo đức của pháp luật.
Thông tư mới áp dụng cho cả giảng viên trong và ngoài công lập, thay vì chỉ công lập như trước kia. Theo Bộ, việc đưa ra các tiêu chí về đạo đức, nghề nghiệp sẽ giúp các trường thuận tiện bố trí, phân công và đánh giá giảng viên, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo.
Tin Gốc: Vnexpress

Phát biểu tại hội thảo "Đào tạo, trọng dụng tài năng trong bối cảnh mới" hôm qua 8.4, GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục cho rằng đào tạo và sử dụng nhân tài là giải pháp then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng "hai con số". Mặc dù các trường đại học đang được tạo điều kiện tối đa để trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và hạt nhân của hệ sinh thái khoa học công nghệ nhưng "chương trình tài năng vẫn còn là thuật ngữ xa xỉ" và "nhân tài ở đâu đó chứ không hiện hữu quanh ta".
"Chính sách phát hiện và bồi dưỡng nhân tài còn thiếu hệ thống và chưa liên tục. Liên kết giữa đào tạo - nghiên cứu - sử dụng còn lỏng lẻo. Chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển chưa đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa nhân lực chất lượng cao. Hiện tượng "chảy máu chất xám" và lãng phí nhân tài vẫn còn hiện hữu", GS Nguyễn Tiến Thảo nói.
GS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội cho biết, dù điều kiện thực hành ở bậc đại học đã có những bước tiến dài, nhưng nếu nhìn vào các phòng thí nghiệm dành cho hệ sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ), Việt Nam vẫn còn ở khoảng cách "rất xa so với thế giới". Mặt khác, chúng ta chưa tạo ra được môi trường để những người có tài năng thiên bẩm mang kiến thức vào thực tế cuộc sống và dẫn dắt xã hội.
TS Đặng Văn Huấn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học cũng chia sẻ diễn biến triển khai Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 - 2035 và định hướng tới 2045 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt hồi tháng 5.2025.
Theo đó, Bộ GD-ĐT đã có một lộ trình khắt khe để đưa thuật ngữ "tài năng" thoát khỏi sự xa xỉ và trở nên thực chất hơn. Chuẩn chương trình đào tạo tài năng sẽ không dành cho số đông. Để được gọi là "tài năng", sinh viên phải vượt qua những rào cản đầu vào gắt gao: hoặc là những người đoạt giải quốc gia, quốc tế; hoặc phải nằm trong nhóm 20% có điểm số cao nhất toàn quốc.
TS Đặng Văn Huấn đưa ra một bảng tiêu chí lựa chọn cơ sở đào tạo tài năng với thang điểm 100 đầy thách thức. Chẳng hạn, một trường đại học muốn đào tạo tài năng phải có uy tín trong đào tạo tiến sĩ (20 điểm), có hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại (10 điểm) và các nhóm nghiên cứu mạnh với nhiều công bố quốc tế (15 điểm). Trong đợt xét chọn đầu tiên, chỉ có 92 ngành đào tạo đáp ứng được các tiêu chuẩn này, phần lớn tập trung vào lĩnh vực kỹ thuật và máy tính.
Nguồn: https://thanhnien.vn/chuong-trinh-dao-tao-tai-nang-van-con-la-thuat-ngu-xa-xi-185260408211335956.htm

Đức Thành, học sinh lớp 11 Toán 1, trường THPT chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội, nhận kết quả SAT hôm 27/3. Đây là bài thi chuẩn hóa, được dùng rộng rãi trong xét tuyển đại học ở Mỹ và các nước châu Âu. Theo College Board, đơn vị tổ chức, ở mức điểm 1520, thí sinh đã lọt top 1% cao nhất thế giới.
"Em rất vui và bất ngờ, vì dự tính có thể sai 1-2 câu", Thành nói.
Đây là lần thứ hai Đức Thành tham gia bài thi này. Hồi tháng 8/2025, em đạt 1510 điểm (Đọc - Viết 750/800, Toán 760/800). Theo nam sinh, đề thi lần này thử thách hơn ở phần Đọc - Viết với nhiều từ vựng khó liên quan khoa học, chuyên ngành. Vì thế, Thành ưu tiên xử lý các câu dễ trước, sau đó đọc kỹ bài để đoán ngữ cảnh của từ vựng và hoàn thành các câu hỏi suy luận.
Thành cho biết bắt đầu tự học SAT từ hè năm ngoái, chủ yếu luyện đề từ các nguồn trên mạng, diễn đàn và bộ đề của College Board, kết hợp học từ vựng.
Dù học nhiều, em nhận ra lỗ hổng khi ôn luyện không có hệ thống, làm nhiều đề nhưng không thống kê lỗi sai, cũng không xác định được điểm yếu của mình. Việc sử dụng nguồn tài liệu rời rạc, không cập nhật cũng khiến em thiếu kỹ năng xử lý bài làm khi "thực chiến".
Sau lần thi đầu, nam sinh quyết định thay đổi phương pháp học. Cuối năm 2025, em đăng ký học tại một trung tâm luyện thi để xây dựng lại phương pháp, tập trung phân tích lỗi sai và rèn chiến thuật làm bài.
Với phần Toán, nhờ có nền tảng từ lớp chuyên, Thành không mất nhiều thời gian. Em chủ yếu học cách tận dụng Desmos - máy tính đồ thị được tích hợp sẵn trong phần mềm thi SAT - nhằm giải các câu khó nhanh và dễ dàng hơn, đồng thời làm lại đề nhiều lần để ghi nhớ dạng bài và tránh lặp lỗi.
Còn ở phần Đọc - Viết, thế mạnh của Đức Thành là ngữ pháp và từ vựng. Thành thường nâng cao vốn từ vựng bằng các bộ flashcard (thẻ từ vựng) theo chủ đề thường gặp trong SAT, kết hợp tham khảo đề thi học sinh giỏi và sách luyện thi để mở rộng vốn từ.
Để tránh áp lực về điểm số, Thành rèn thói quen bình tĩnh từ các buổi thi thử, tránh nộp bài sớm và luôn kiểm tra lại đáp án. Bên cạnh đó, em thường xuyên chơi cầu lông, đá bóng và ăn uống điều độ để giữ sức khỏe và tinh thần thoải mái.
Song song ôn luyện SAT, Đức Thành cũng tự luyện thi IELTS và đạt 8.5 hồi tháng 1. Trong đó, em đạt tuyệt đối hai kỹ năng Nghe, Đọc, còn Nói và Viết đạt 7.5. Theo thống kê của IELTS, chỉ khoảng 1% người thi ở Việt Nam đạt mức này trở lên.
Nam sinh nhìn nhận kết quả một phần từ nền tảng tiếng Anh từ nhỏ. Em không học "nhồi nhét", mà gắn tiếng Anh vào cuộc sống hàng ngày, tích cực giao tiếp với giáo viên bản xứ và đọc sách, nghe nhạc, xem phim bằng ngôn ngữ này. Hai cuốn sách tiếng Anh mà Thành yêu thích là "Cậu bé nhút nhát" và "Kiêu hãnh và định kiến".
Lên cấp 3, Thành có định hướng tham gia kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Song, do nhận thấy khả năng môn Toán không nằm trong top 10 toàn trường, em quyết định chuyển hướng sang tiếng Anh, vừa để thử sức, vừa để phát triển đam mê vốn có.
Thời gian đầu, em khá ngợp vì chưa từng tham gia cuộc thi học thuật tiếng Anh nào, khó theo kịp với tiến độ học của lớp. Sau đó, nhờ sự hỗ trợ của các thầy cô đội tuyển Anh, Thành dần bắt nhịp và tiến bộ rõ rệt. Kết quả, em giành giải nhì học sinh giỏi quốc gia.
Thầy Hà Duy Hưng, giáo viên chủ nhiệm lớp 11 Toán 1, nhận xét Thành là một học sinh toàn tài và nghiêm túc, được bạn bè yêu quý.
"Dù là thành viên đội tuyển quốc gia, Thành vẫn chăm chỉ lên lớp và học đều các môn. Em cũng là một lớp phó học tập trách nhiệm trong các hoạt động của trường, lớp", thầy nói.
Trước mắt, Đức Thành định sử dụng kết quả SAT và IELTS để xét tuyển đại học trong và ngoài nước, mong muốn đỗ vào ngành Dược học.
Hải Yến
Nguồn: https://vnexpress.net/chang-trai-17-tuoi-dat-8-5-ielts-diem-sat-cao-nhat-the-gioi-5057838.html

Vấn đề căn bản hơn là phải xác lập lại vị thế, sứ mệnh và cơ chế vận hành của đại học quốc gia (ĐHQG) trong cấu trúc phát triển mới của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một yêu cầu rất đúng lúc: ĐHQG phải dám đi trước, dám thử nghiệm, dám mở đường cho những mô hình mới về giáo dục, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây chính là điểm mấu chốt. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, nếu đại học chỉ vận hành như một đơn vị hành chính sự nghiệp thông thường, bị bó hẹp bởi những quy trình cứng nhắc, thì rất khó có thể tạo ra đột phá. Một đại học muốn sáng tạo thì trước hết phải được trao không gian để sáng tạo.
Muốn hai ĐHQG phát triển đúng tầm, trước hết phải tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế. Tự chủ đại học phải đi vào thực chất, không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu. Tự chủ không có nghĩa là nhà nước buông lỏng quản lý, mà là chuyển từ quản lý theo tiền kiểm, thủ tục và hành chính sang quản trị bằng chiến lược, chuẩn mực, chất lượng và trách nhiệm giải trình. ĐHQG cần được trao quyền chủ động cao hơn trong tổ chức bộ máy, mở ngành, tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, hợp tác quốc tế, sử dụng tài sản công, khai thác nguồn lực xã hội và triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ trọng điểm.
Không thể yêu cầu ĐHQG vươn lên nhóm hàng đầu khu vực và thế giới nếu nguồn lực đầu tư vẫn phân tán, manh mún và ngắn hạn. Các đại học nghiên cứu hàng đầu trên thế giới đều được xây dựng trên nền tảng đầu tư lớn, bền vững và có trọng tâm. Với hai ĐHQG, nhà nước cần đặt hàng các chương trình chiến lược trong những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mới, khoa học sức khỏe, khoa học dữ liệu, an ninh mạng, công nghệ môi trường, khoa học giáo dục và chính sách công.
Đặc biệt, phải chuyển từ tư duy cấp kinh phí theo năm sang đầu tư theo nhiệm vụ chiến lược dài hạn. Nghiên cứu đỉnh cao không thể hình thành trong cơ chế nhiệm vụ ngắn hạn, thủ tục nặng nề và nguồn lực không ổn định. Muốn có sản phẩm khoa học lớn, phòng thí nghiệm mạnh, nhóm nghiên cứu xuất sắc, công nghệ có khả năng chuyển giao và doanh nghiệp spin-off từ đại học, thì phải có cơ chế tài chính đủ mạnh và đủ linh hoạt.
Nhân tài phải được đặt ở vị trí trung tâm nên ĐHQG phải là nơi hội tụ người giỏi, những nhà khoa học lỗi lạc. Nếu không có cơ chế đãi ngộ đặc biệt cho các nhà khoa học xuất sắc, các giảng viên trẻ tài năng, các chuyên gia VN ở nước ngoài và các nhà khoa học quốc tế, thì rất khó xây dựng đại học tinh hoa.
Cần có chính sách đủ mạnh để hình thành các nhóm nghiên cứu thực sự mạnh có tính dẫn dắt, các giáo sư đầu ngành, các phòng thí nghiệm trọng điểm và các trung tâm xuất sắc trong hai ĐHQG. Đối với những nhà khoa học có năng lực công bố quốc tế, năng lực dẫn dắt nhóm nghiên cứu, năng lực tạo ra công nghệ và đóng góp cho chính sách quốc gia, cần có cơ chế thu nhập, môi trường học thuật và quyền tự chủ tương xứng. Không thể đòi hỏi sản phẩm đẳng cấp quốc tế bằng một cơ chế nhân sự bình quân và hành chính hóa.
Hai ĐHQG phải chuyển mạnh sang mô hình đại học đổi mới sáng tạo. Đại học hiện đại không chỉ đào tạo và nghiên cứu, mà còn phải tạo ra giá trị mới cho xã hội. Tri thức trong đại học phải được chuyển hóa thành công nghệ, chính sách, doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lòng đại học, nơi sinh viên, giảng viên, nhà khoa học, doanh nghiệp, địa phương và nhà nước cùng tham gia giải quyết các bài toán thực tiễn. Đồng thời, ĐHQG phải là hai cơ sở giáo dục đại học mạnh nhất, đỉnh cao về khoa học cơ bản, bởi vì nếu khoa học cơ bản không đủ mạnh không thể làm chủ được các công nghệ cao, công nghệ chiến lược.
Hai ĐHQG cần có các khu đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm đại học, khu thử nghiệm các sản phẩm công nghệ cao với cơ chế đặc biệt, cũng như cơ chế sở hữu trí tuệ thông thoáng, mô hình doanh nghiệp spin-off và các chương trình hợp tác sâu với doanh nghiệp lớn.
Cần gắn chặt phát triển ĐHQG với chiến lược phát triển vùng và phát triển quốc gia. ĐHQG Hà Nội có vai trò đặc biệt trong không gian phát triển thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng và trung tâm chính trị - văn hóa - khoa học của cả nước. ĐHQG TP.HCM có vai trò chiến lược trong vùng Đông Nam bộ.
Các ĐHQG thúc đẩy mạnh mẽ quốc tế hóa nhưng phải trên nền tảng bản sắc và lợi ích quốc gia. ĐHQG phải hội nhập sâu với thế giới, thu hút sinh viên và giảng viên quốc tế, tham gia các mạng lưới nghiên cứu toàn cầu, nâng cao thứ hạng, mở rộng và khai thác hiệu quả kênh đối ngoại nhà nước và đối ngoại nhân dân, hợp tác với các đại học hàng đầu, với các nhà khoa học hàng đầu. Tuy nhiên, hội nhập không có nghĩa là sao chép mô hình bên ngoài một cách cơ học. Đại học VN phải tiếp thu tinh hoa thế giới để giải quyết vấn đề của VN, xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ cho VN, phục vụ sự phát triển của đất nước và đóng góp tiếng nói học thuật của VN vào tri thức nhân loại.
Tin Gốc: Thanh Niên

