Chiều 28.4, tại họp báo của Bộ Nội vụ, thông tin về sắp xếp thôn, tổ dân phố, bà Nguyễn Thị Tú Thanh, Phó vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương, cho biết, thực hiện chủ trương sắp xếp thôn, tổ dân phố, Bộ Nội vụ được Chính phủ giao chủ trì xây dựng Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và một số chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách.
Theo bà Thanh, đây là nội dung quan trọng, tác động trực tiếp đến tổ chức và hoạt động ở cơ sở nên sẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi ban hành. Nghị định sẽ là căn cứ pháp lý để các địa phương triển khai thực hiện trong thời gian tới.
“Định hướng chung của việc sắp xếp là tinh gọn đầu mối, giảm số lượng thôn, tổ dân phố, bảo đảm phù hợp với quy mô dân số, điều kiện thực tiễn và đặc thù từng vùng miền. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở, tạo thuận lợi trong thực hiện nhiệm vụ và giảm áp lực quản lý trực tiếp cho chính quyền cấp xã”, bà Thanh cho hay.
Đại diện Bộ Nội vụ cũng cho biết, dự thảo nghị định được xây dựng theo hướng kế thừa các quy định còn phù hợp, đồng thời điều chỉnh để bảo đảm tương quan với quy mô mới của cấp xã, khối lượng công việc cũng như chế độ, chính sách, nhằm khuyến khích đội ngũ cán bộ không chuyên trách yên tâm công tác.
“Đặc biệt, việc hoàn thiện chính sách được đặt trong tổng thể yêu cầu tinh gọn bộ máy, sử dụng hiệu quả nguồn lực và phù hợp khả năng cân đối ngân sách của địa phương”, Phó vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương thông tin.
Theo tính toán, sau khi hoàn thành sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, việc tổ chức lại thôn, tổ dân phố sẽ được triển khai theo lộ trình cụ thể. Theo kế hoạch của Chính phủ, nội dung này phải hoàn thành trước ngày 31.5.2026, hướng tới tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả tự quản ở cơ sở.
Cũng theo bà Thanh, hiện nay, Chính phủ và Bộ Nội vụ đã giao phân cấp cho các địa phương chủ động, thực hiện nhiệm vụ sáp nhập thôn.
“Việc bố trí cán bộ chuyên trách khi sáp nhập thôn sẽ được địa phương cập nhật dữ liệu và bố trí, tính toán cho hợp tình, hợp lý. Cán bộ không chuyên trách cấp thôn, tổ dân phố với cấp xã khác nhau. Cán bộ tổ dân phố, thôn bản là cán bộ tự quản nên sẽ có những điều kiện bầu chọn khác nhau”, bà Thanh nói.
Theo số liệu đến hết năm 2021, cả nước có 90.508 thôn, tổ dân phố, trong đó gồm 69.580 thôn và 20.928 tổ dân phố.
Theo kết luận ngày 23/6 của Thường trực Tỉnh ủy, việc thí điểm kéo dài 2 tháng nhằm kiểm tra mức độ phù hợp của bộ tiêu chí và phần mềm trong thực tế.
Ở cấp tỉnh, các đơn vị tham gia gồm Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ. Ở cấp xã, việc thí điểm được triển khai tại phường Thành Vinh và các xã Hưng Nguyên, Hải Châu, Nậm Cắn.
Cán bộ, công chức, viên chức sẽ được chấm điểm theo các nhóm nhiệm vụ như phát triển kinh tế - xã hội, cải cách thể chế, chuyển đổi số, xây dựng Đảng, phòng chống tham nhũng, bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh.
Tỉnh cũng đưa vào vận hành phần mềm "Hệ thống đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý" (https://kpi.nghean.gov.vn) đối với cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý.
Kết quả đánh giá được xếp thành 4 mức gồm hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt, hoàn thành và không hoàn thành nhiệm vụ. Để đạt mức hoàn thành xuất sắc, cán bộ phải đạt từ 90 điểm trở lên, đồng thời đơn vị do cá nhân phụ trách hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ, trong đó ít nhất 30% nhiệm vụ vượt yêu cầu.
Mức hoàn thành tốt áp dụng với người đạt từ 70 đến dưới 90 điểm; hoàn thành nhiệm vụ từ 50 đến dưới 70 điểm. Trường hợp dưới 50 điểm hoặc để xảy ra vi phạm, không hoàn thành công việc, có sai phạm trong phạm vi quản lý sẽ bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ.
Kết quả đánh giá theo quý là căn cứ để xếp loại cuối năm. Cán bộ có một quý không hoàn thành nhiệm vụ sẽ không được xét danh hiệu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cả năm. Tỷ lệ cá nhân được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ không vượt quá 20% số người hoàn thành tốt nhiệm vụ, trường hợp đặc biệt tối đa 25%.
Theo lãnh đạo tỉnh Nghệ An, việc thí điểm nhằm kiểm chứng hiệu quả của công cụ đánh giá mới, từng bước đổi mới công tác quản lý cán bộ theo kết quả thực hiện nhiệm vụ và ứng dụng công nghệ số trong quản trị công vụ. Kết quả triển khai sẽ là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện mô hình trước khi xem xét nhân rộng.
Bộ Công an đang lấy ý kiến đối với dự thảo luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Cơ quan này đề xuất nâng mức tiền tối đa được xử phạt không lập biên bản lên 1 triệu đồng với cá nhân (hiện hành 500.000 đồng) và 2 triệu đồng với tổ chức (hiện hành 1 triệu đồng).
Đặc biệt, cơ quan soạn thảo còn đề xuất mở rộng xử phạt không lập biên bản với cả vi phạm được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ ("phạt nguội" - PV), thay vì bắt buộc lập biên bản như hiện hành.
Các đề xuất của Bộ Công an nhận được nhiều ủng hộ, song vẫn còn một vài băn khoăn về hình thức xử phạt không lập biên bản, việc nâng mức tiền tối đa và mở rộng phạm vi áp dụng có nguy cơ nảy sinh tiêu cực hay không.
Để giải đáp luồng ý kiến này, cần hiểu rõ xử phạt không lập biên bản là gì; trình tự, thủ tục áp dụng ra sao; lợi ích mang lại thế nào…
Luật hiện hành quy định 2 hình thức xử phạt vi phạm hành chính, gồm xử phạt không lập biên bản và xử phạt có lập biên bản.
Trong đó, xử phạt không lập biên bản thường được áp dụng với các vụ việc vi phạm hành chính đơn giản, đã rõ, tính chất nguy hiểm không lớn, người vi phạm đã thừa nhận hành vi. Nếu áp dụng, người có thẩm quyền xử phạt sẽ ra quyết định xử phạt tại chỗ.
Ngược lại, xử phạt có lập biên bản phức tạp hơn, gồm nhiều bước như lập biên bản vi phạm hành chính; xác minh tình tiết hoặc giá trị tang vật, phương tiện vi phạm (nếu cần); ra quyết định xử phạt; gửi quyết định xử phạt để thi hành…
Như vậy, áp dụng hình thức xử phạt không lập biên bản (nếu đủ điều kiện) sẽ thuận lợi hơn rất nhiều cho cả người có thẩm quyền và người bị xử phạt; giúp tiết kiệm thời gian, chi phí tuân thủ cho cả hai bên.
Luật sư Bùi Đình Ứng, Đoàn luật sư TP.Hà Nội, đánh giá đề xuất nâng gấp đôi mức tiền tối đa và mở rộng phạm vi xử phạt không lập biên bản là phù hợp với mặt bằng chung các khung xử phạt đã được nâng lên, cũng như thực tiễn quản lý trật tự, an toàn giao thông.
Điều này đồng nghĩa sẽ có nhiều lỗi vi phạm được áp dụng hình thức xử phạt không lập biên bản hơn, thuận lợi và tiết kiệm hơn cho công tác xử lý vi phạm hành chính.
Trở lại mối quan tâm của nhiều người về việc xử phạt không lập biên bản có nguy cơ nảy sinh tiêu cực hay không, luật hiện hành đã có quy định rất rõ về trình tự, thủ tục áp dụng hình thức này.
Theo đó, nếu đủ điều kiện xử phạt không lập biên bản, người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.
Quyết định phải được giao cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt một bản. Nếu người chưa thành niên bị xử phạt cảnh cáo thì quyết định xử phạt còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của họ.
Tiếp đó, người vi phạm nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt. Người thu tiền phạt có trách nhiệm giao chứng từ thu tiền phạt cho cá nhân, tổ chức nộp tiền phạt và phải nộp tiền phạt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày thu tiền phạt.
Nếu người vi phạm không có khả năng nộp tiền phạt tại chỗ thì nộp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước ghi trong quyết định xử phạt trong thời hạn quy định.
"Nhiều người đang hiểu lầm xử phạt không lập biên bản là đưa tiền cho CSGT cầm rồi xong, nhưng không đúng. Sau khi nộp phạt tại chỗ thì người vi phạm sẽ nhận được 2 giấy tờ gồm quyết định xử phạt tại chỗ và chứng từ nộp tiền phạt. CSGT sau khi thu tiền phạt tại chỗ phải giao chứng từ cho người vi phạm, đồng thời nộp tiền này vào kho bạc, chứ không phải đút túi riêng", luật sư Ứng phân tích.
Như vậy, việc nâng mức tiền tối đa và mở rộng xử phạt không lập biên bản với "phạt nguội" sẽ mang lại thuận lợi hơn cho người vi phạm cũng như người xử lý vi phạm. Các quy định của luật đã đảm bảo cho quy trình áp dụng hình thức này diễn ra chặt chẽ, tránh phát sinh tiêu cực.
Ngày 18/6, Trung tâm Báo chí TPHCM và Học viện Cán bộ TPHCM ký kết thỏa thuận hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học và tư vấn chính sách, nhằm tăng cường phối hợp, phát huy thế mạnh của mỗi đơn vị trong lĩnh vực báo chí, truyền thông và chuyển đổi số.
Theo nội dung ký kết, 2 bên phối hợp xây dựng, tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo quy định, trọng tâm là các lớp bồi dưỡng theo chức danh phục vụ hoạt động của hệ thống chính trị theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Chương trình được cập nhật bám sát chủ trương, nghị quyết mới của Trung ương, Thành ủy và yêu cầu thực tiễn trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành.
Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn, hai đơn vị sẽ phối hợp mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn theo chuyên đề, tập trung vào kiến thức pháp luật về báo chí, truyền thông; kỹ năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này; nghiệp vụ dành cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở; kỹ năng phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; xử lý khủng hoảng truyền thông; truyền thông chính sách; sử dụng mạng xã hội trong thực thi công vụ; nhận diện, xử lý thông tin xấu độc trên không gian mạng; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động truyền thông và quản lý nhà nước.
Phương thức triển khai theo hướng kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, tăng cường thảo luận, xử lý tình huống thực tiễn, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Ngoài công tác đào tạo, Trung tâm Báo chí TPHCM và Học viện Cán bộ TPHCM sẽ phối hợp tổ chức hội thảo khoa học, tọa đàm chuyên đề, tham vấn chuyên gia; triển khai các đề tài, đề án nghiên cứu nhằm cung cấp luận cứ và hàm ý chính sách phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của thành phố.
Hai đơn vị cũng sẽ phối hợp khảo sát, điều tra xã hội học, tổng kết các mô hình mới, cách làm hiệu quả; xây dựng báo cáo tham mưu, báo cáo chuyên đề và tư vấn chính sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của TPHCM.
Theo thỏa thuận, Trung tâm Báo chí TPHCM sẽ tạo điều kiện để giảng viên, học viên và sinh viên của Học viện tham gia nghiên cứu thực tế, thực tập tại đơn vị, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời phát hiện, bồi dưỡng nguồn nhân lực trẻ có tiềm năng.
Trong lĩnh vực chuyển đổi số, hai bên sẽ phối hợp nghiên cứu, ứng dụng AI, dữ liệu lớn (Big Data), nền tảng số và các công nghệ mới trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, truyền thông và quản lý nhà nước. Song song đó, hai đơn vị sẽ xây dựng kho học liệu số, ngân hàng tình huống thực tiễn và thư viện số dùng chung; tăng cường chia sẻ dữ liệu, tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu.