Việc trì hoãn lễ khánh thành cây cầu mới Gordie Howe, nối liền thành phố Windsor thuộc tỉnh bang Ontario của Canada và thành phố Detroit thuộc bang Michigan của Mỹ, đã làm gia tăng căng thẳng và gây thiệt hại kinh tế cho cả hai nước vào thời điểm hai bên đang cố gắng đạt được một thỏa thuận thương mại mới, theo Reuters.
Trong tuần trước, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói rằng ông đã đạt được “một thỏa thuận tốt hơn nhiều” cho Mỹ để cho phép khánh thành cầu Gordie Howe, dự kiến diễn ra vào ngày 27.7.
Các đối thủ chính trị chỉ trích Thủ tướng Carney vì đã nhượng bộ Mỹ sau khi các quan chức Mỹ cho hay họ “đã từ chỗ không nhận được doanh thu” sang được chia doanh thu đáng kể.
Tuy nhiên tại cuộc họp báo hôm 16.7, ông Carney khẳng định thỏa thuận cơ bản với chính quyền bang Michigan về cầu Gordie Howe vẫn không thay đổi so với năm 2012, khi Canada đồng ý ứng trước chi phí xây dựng cây cầu trị giá 4,7 tỉ USD này. Theo thỏa thuận đó, Canada được quyền thu toàn bộ lợi nhuận từ phí cầu đường cho đến khi thu hồi được chi phí đầu tư vào cây cầu.
“Việc chia sẻ doanh thu phí cầu đường sẽ không xảy ra cho đến khi toàn bộ khoản nợ được trả hết”, ông Carney nhấn mạnh. Ông nói thêm rằng Canada sẽ chia sẻ doanh thu ròng với Mỹ trong 15 năm đầu tiên sau khi trừ đi các chi phí vận hành, trong đó có phí bảo trì và dọn tuyết, theo Reuters.
“Chúng tôi dự kiến rằng sau khi trừ đi các chi phí đó, trong vài năm đầu, doanh thu ròng sẽ ở mức khiêm tốn. Khi việc chia sẻ bắt đầu, tất cả các phần thuộc về chính phủ Mỹ sẽ được tái đầu tư vào phát triển kinh tế”, ông nói thêm.
Chi tiết của thỏa thuận giữa Canada và Mỹ chưa được công bố. Hai nguồn tin khẳng định với Reuters rằng một thỏa thuận đã đạt được vào tuần trước và Mỹ sẽ nhận được 50% lợi nhuận từ phí cầu đường và có quyền phủ quyết bất kỳ khoản tăng phí nào cao hơn 10% so với mức phí hiện tại.
Hiện chưa có thông tin phản ứng từ phía Mỹ đối với tuyên bố trên của Thủ tướng Carney.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thế Giới
Israel chặn thuyền cứu trợ Gaza trên vùng biển quốc tế, nhiều nước phản đối

Theo Hãng tin Reuters, đêm 29-4, Israel đã bắt giữ một đội thuyền dân sự chở hàng viện trợ nhân đạo hướng đến Dải Gaza tại vùng biển quốc tế gần Hy Lạp.
Các thuyền thuộc đoàn Global Sumud Flotilla - đội thuyền dân sự quốc tế được thành lập giữa năm 2025 với mục tiêu phá vỡ vòng phong tỏa của Israel với Gaza để đưa hàng viện trợ vào đây.
Đội thuyền này xuất phát từ cảng Barcelona (Tây Ban Nha) ngày 12-4 và bị chặn lại ở vùng biển ngoài khơi bán đảo Peloponnese của Hy Lạp, cách Gaza hàng trăm hải lý.
Động thái làm dấy lên làn sóng chỉ trích từ nhiều bên.
"Đây là hành vi cướp biển. Đây là vụ bắt giữ người bất hợp pháp trên vùng biển quốc tế ở gần Crete, là tuyên bố cho thấy Israel có thể hành động ở xa bên ngoài biên giới của mình mà không phải chịu trách nhiệm, hậu quả.
Không quốc gia nào có quyền tuyên bố chủ quyền, tuần tra kiểm soát hay chiếm đóng vùng biển quốc tế. Vậy mà đó lại chính là điều Israel đang làm: mở rộng chế độ kiểm soát của mình ra bên ngoài, chiếm đóng vùng biển Địa Trung Hải ngoài khơi châu Âu", Ban tổ chức đội thuyền nêu trong thông cáo.
Ban tổ chức đội thuyền cũng đăng tải đoạn video cho thấy binh sĩ Israel lên thuyền, thủy thủ đoàn mặc áo phao và giơ tay đầu hàng trước khi bị đưa lên tàu chiến Israel.
Nhiều quốc gia Địa Trung Hải cũng đã lên tiếng về vụ việc.
Người phát ngôn Chính phủ Hy Lạp Pavlos Marinakis xác nhận có 55 thuyền cỡ nhỏ di chuyển cách Peloponnese khoảng 50 hải lý, hướng về đảo Crete bị tàu chiến Israel cùng tàu tuần duyên Hy Lạp bám theo.
Thủy thủ đoàn từ 17 thuyền hiện an toàn trên các tàu chiến Israel. Athens cho biết không hề được thông báo trước về vụ chặn bắt, vốn diễn ra bên ngoài vùng tài phán Hy Lạp.
Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ lên tiếng dữ dội, gọi đây là hành vi vi phạm luật pháp quốc tế rõ ràng, đe dọa an toàn hàng hải, đồng thời tuyên bố sẽ có hành động ủng hộ đội thuyền.
Văn phòng Thủ tướng Ý Giorgia Meloni cũng lên án vụ bắt giữ, yêu cầu Israel "lập tức trả tự do cho mọi công dân Ý đang bị giam giữ trái pháp luật" và bảo đảm an toàn cho những người trên tàu. Tuy nhiên Rome không nêu cụ thể số lượng người Ý có mặt trên các thuyền trên.
Phản ứng vụ việc, Bộ Ngoại giao Israel ngày 30-4 gọi ban tổ chức đội thuyền Global Sumud Flotilla là "những kẻ khiêu khích chuyên nghiệp", "chỉ tìm cách gây chú ý", đồng thời khẳng định lực lượng nước này hành động hợp pháp.
"Trước số lượng thuyền tham gia lớn, nguy cơ leo thang và yêu cầu ngăn chặn việc phá vỡ một lệnh phong tỏa hợp pháp, hành động sớm là cần thiết và phù hợp luật pháp quốc tế", thông cáo của bộ này nêu.
Trong nhiều tháng qua, Israel bác bỏ các cáo buộc cắt nguồn cung cho hơn 2 triệu cư dân vùng đất này.
Tuy vậy, nhiều tổ chức cứu trợ quốc tế cho rằng lượng hàng viện trợ đến Gaza không hề đủ, dù lệnh ngừng bắn đạt được tháng 10-2025 đã bao gồm cam kết tăng viện trợ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Triển lãm quốc phòng quốc tế 2026: Diện tích trưng bày khoảng 24.000m2, có 3 nhà để máy bay

Theo Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, công tác chuẩn bị triển lãm đã được triển khai đồng bộ, đúng kế hoạch, đạt nhiều kết quả quan trọng.
Theo đó, về cơ sở pháp lý và kiện toàn tổ chức, ngày 14-3, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã thông qua đề án triển lãm. Ngày 1-4, Thủ tướng đồng ý chủ trương cho phép Bộ Quốc phòng tổ chức triển lãm.
Sau đó Bộ Quốc phòng đã ban hành quyết định thành lập ban chỉ đạo, ban tổ chức và 5 tiểu ban gồm: nội dung, điều hành - an ninh, lễ tân, truyền thông và bảo đảm.
Đến nay công tác khảo sát, quy hoạch mặt bằng, thiết kế các phân khu chức năng được triển khai chặt chẽ, khoa học, phù hợp với điều kiện hạ tầng.
Diện tích trưng bày trong nhà được mở rộng, sử dụng toàn bộ 3 nhà để máy bay và lắp dựng bổ sung 1 khu nhà, nâng tổng diện tích lên khoảng 24.000m².
Trong đó diện tích sử dụng hiệu quả khoảng 10.000m², bảo đảm bố trí hợp lý cho các cơ quan, đơn vị trong, ngoài quân đội và đối tác quốc tế.
Ban tổ chức đã hoàn thiện dự thảo kế hoạch tổng thể, xác định rõ các mốc thời gian, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tiểu ban. Đồng thời triển khai các hoạt động xúc tiến, mời doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia.
Tính đến ngày 6-4, có 38 doanh nghiệp, tổ chức đến từ 14 quốc gia, vùng lãnh thổ đăng ký tham gia trưng bày; 41 đối tác khác đang tiếp tục trao đổi, dự kiến nâng tổng diện tích đăng ký lên hàng nghìn mét vuông với quy mô hàng trăm gian hàng.
Đặc biệt, công tác xã hội hóa, huy động nguồn lực được đẩy mạnh.
Ban tổ chức dự kiến tổ chức hội nghị xúc tiến tài trợ triển lãm trong tháng 5-2026 tại Hà Nội, với sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp trong và ngoài quân đội.
Về công tác trưng bày, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng đã phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng danh mục vũ khí, trang bị kỹ thuật, trong đó chú trọng các sản phẩm mới, hiện đại, phản ánh rõ tiềm lực, trình độ phát triển của công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Trường Thắng ghi nhận, biểu dương tinh thần chủ động, trách nhiệm của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và các cơ quan, đơn vị liên quan.
Nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của triển lãm, Thượng tướng Nguyễn Trường Thắng yêu cầu Tổng cục Công nghiệp quốc phòng chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị sớm hoàn thiện kế hoạch tổng thể triển lãm, làm cơ sở triển khai đồng bộ.
Các cơ quan, đơn vị tiếp tục cụ thể hóa nhiệm vụ, đẩy mạnh thu hút đối tác uy tín.
Thượng tướng Nguyễn Trường Thắng cũng lưu ý các cơ quan, đơn vị tăng cường phối hợp chặt chẽ, hiệp đồng hiệu quả; bảo đảm tốt công tác an ninh, an toàn, lễ tân, tuyên truyền và hậu cần, kỹ thuật.
Chủ động rà soát, lựa chọn kỹ lưỡng các sản phẩm trưng bày, bảo đảm thể hiện rõ sức mạnh, trình độ và định hướng phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam và công nghiệp quốc phòng trong tình hình mới.

"Lúc đó, mọi thứ kéo dài chỉ 2-3 phút thôi, mà tôi vô cùng sốt ruột. Cuối cùng, mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, nhưng thú thật đó là một phen hú vía", Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng SOM ASEAN Việt Nam năm 2007-2014, nhớ lại thời điểm kịch tính khi thu xếp cho Ngoại trưởng Nga và Mỹ cùng tham dự Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) tại Hà Nội cách đây 16 năm.
Đó là lần đầu tiên người đứng đầu Bộ Ngoại giao Mỹ và Nga cùng tham dự EAS, hội nghị ra đời từ năm 2005 gồm 10 nước ASEAN và các đối tác Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ.
ASEAN ngay từ đầu đã tính đến việc mời hai cường quốc Nga và Mỹ tham gia EAS, nhằm cho thấy vai trò của ASEAN là dẫn dắt một khuôn khổ hợp tác bao trùm, tạo sự cân bằng chiến lược, không để khu vực bị chi phối cả về địa chiến lược lẫn địa kinh tế.
Ông Vinh cho biết Nga đã "đánh tiếng" muốn gia nhập EAS từ năm 2005, nhưng phía Mỹ khi đó chưa sẵn sàng do Washington thường chỉ ưu tiên các cơ chế đa phương do chính họ sáng lập hoặc nắm quyền lãnh đạo. Do đó, kế hoạch mở rộng EAS đành phải gác lại.
Cơ hội mở ra vào năm 2010, khi Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN và EAS kỷ niệm 5 năm thành lập. Trưa 15/7/2010 (rạng sáng 16/7 giờ Hà Nội), Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbell khi đó chủ động hẹn ăn trưa với đại sứ các nước ASEAN tại Washington để chuyển thông điệp: Mỹ muốn tham gia EAS.
Thời điểm đó, Hội nghị Quan chức Cấp cao (SOM) ASEAN để chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, ASEAN+1 và ARF chỉ còn vài giờ nữa là khai mạc tại Hà Nội.
"Đây là thời cơ vàng để đưa cả hai cường quốc vào EAS, nhưng thời gian lại quá gấp gáp. Theo nguyên tắc, các trưởng SOM phải báo cáo xin ý kiến từ thủ đô của mình", ông Vinh nói với VnExpress. Nếu xử lý theo quy trình thông thường như vậy, các trưởng SOM sẽ bỏ lỡ kỳ họp quan trọng nhất trong năm của các Bộ trưởng Ngoại giao, vốn là cơ hội tốt nhất để quyết định vấn đề này.
Với tư cách chủ tọa cuộc họp SOM sáng hôm đó, ông Vinh đã thông báo đề xuất của Mỹ và đề nghị các trưởng SOM cho ý kiến sơ bộ, hoàn toàn với tư cách cá nhân, về việc mời cả Nga và Mỹ cùng tham gia EAS. Ông thuyết phục rằng đây là cơ hội chiến lược phù hợp với lợi ích của ASEAN, cần sớm trình lên cấp bộ trưởng và cấp cao.
Phần lớn các trưởng SOM hoan nghênh ý tưởng trên, nhưng một số phái đoàn vẫn bày tỏ lo ngại về tác động của các cường quốc đối với "vai trò trung tâm" của ASEAN, cũng như phản ứng từ các đối tác khác trong EAS.
"Trước tình thế đó, với tư cách nước chủ nhà, đoàn Việt Nam đã đề xuất tạm nghỉ giải lao để các bên trao đổi thêm. Khác với những khoảng nghỉ 15 phút thông thường, giờ giải lao hôm đó đã kéo dài hơn 45 phút", ông Vinh tiết lộ.
Chính trong hơn 45 phút giải lao ấy, các trưởng SOM đạt được nhận thức chung khá tích cực. Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao sau đó, các bên đã nhất trí thông qua đề xuất mời Mỹ, Nga tham gia EAS và chính thức trình lên lãnh đạo cấp cao.
Sau khi được cấp Bộ trưởng đồng ý, từ tháng 7 đến tháng 10/2010, Việt Nam tiếp tục chủ trì loạt cuộc họp SOM để thảo luận về cách duy trì vai trò trung tâm của khối trong bối cảnh mới và tham vấn với 6 đối tác còn lại của EAS.
Trong các cuộc họp này, Việt Nam đã đưa ra sáng kiến mời Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov và Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cùng tham dự hội nghị EAS vào tháng 10/2010 tại Hà Nội với tư cách khách mời của nước Chủ tịch. Sáng kiến này nhận được sự đồng thuận tuyệt đối.
Để chuẩn bị cho sự kiện, nước chủ nhà Việt Nam đã lên kịch bản lễ tân và thủ tục vô cùng nghiêm ngặt, từ thứ tự phát biểu đến sơ đồ vị trí ghế ngồi.
Việt Nam đề xuất là cuộc họp cấp cao EAS sẽ diễn ra bình thường. Sau khi kết thúc các vấn đề trong chương trình nghị sự, Việt Nam với vai trò Chủ tịch EAS sẽ phát biểu trước và thông báo quyết định mời Nga, Mỹ. Sau đó, đến lượt Ngoại trưởng Nga, Mỹ phát biểu theo thứ tự bảng chữ cái.
Sắp xếp chỗ ngồi tại hội nghị cũng đặt ra vấn đề không đơn giản. Hai Ngoại trưởng Mỹ, Nga chưa phải thành viên EAS, cũng không phải cùng cấp nguyên thủ, nên không thể ngồi cùng một bàn hội nghị.
Việt Nam đã giải quyết vấn đề này bằng cách phá lệ, bỏ bàn họp chung, bố trí các lãnh đạo cấp cao EAS ngồi theo hình thức salon, có bàn phụ riêng để quốc kỳ bên cạnh. Sau khi phần họp nội bộ cấp cao EAS kết thúc, nước chủ nhà sẽ bố trí thêm hai ghế nữa, hơi tách ra một chút, và mời Ngoại trưởng Mỹ, Nga vào. Cách bố trí đó đảm bảo đáp ứng cả về thủ tục ngoại giao và chính trị, ông Vinh nhấn mạnh.
Ngay cả việc đảm bảo hai Ngoại trưởng bước vào phòng họp cùng một thời điểm cũng được tính toán chi tiết để tránh bất kỳ vấn đề nhạy cảm chính trị nào. Ông Vinh được giao nhiệm vụ đón hai khách mời tại cửa phòng họp và phải đảm bảo nguyên tắc ngoại giao là hai Ngoại trưởng phải bước vào phòng cùng một lúc, nhằm tránh mọi sự phân biệt.
Tuy nhiên, một sự cố nhỏ ngoài dự kiến đã xảy ra. Trên đường từ phòng chờ ở tầng một lên phòng họp EAS tầng trên, bà Hillary vô tình đi nhanh hơn và đến trước, trong khi ông Lavrov bị trễ một chút ở phía sau.
Để bảo đảm cả hai cùng bước vào phòng họp, ông Vinh đã nhờ Tổng Thư ký ASEAN lúc đó là ông Surin Pitsuwan cùng trò chuyện để "giữ chân" bà Hillary tại cửa. Bên trong phòng họp, cán bộ đoàn Việt Nam liên tục nhắn tin giục giã, báo hiệu lãnh đạo cấp cao 16 nước đã sẵn sàng và đang chờ đợi, Đại sứ Vinh kể lại.
Sau những phút "hú vía" đó, hội nghị EAS đã diễn ra tốt đẹp và các lãnh đạo nhất trí kết nạp Mỹ, Nga vào danh sách thành viên, trên cơ sở tôn trọng các mục tiêu, nguyên tắc, thể thức, ưu tiên của EAS và ủng hộ vai trò chủ đạo của ASEAN.
Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm khi đó đánh giá đây là quyết sách có ý nghĩa chiến lược của ASEAN trong việc đưa EAS trở thành một diễn đàn hợp tác có tầm mức cao hơn và quy mô rộng lớn hơn ở khu vực.
Ngoại trưởng Clinton sau đó đã cảm ơn Việt Nam đã tạo điều kiện để Mỹ tham gia các diễn đàn khu vực và đã mời Mỹ, cùng với Nga, tham gia EAS. Trong cuộc phỏng vấn gần đây, Đại sứ Nga tại Việt Nam Gennady Bezdetko cho hay nước này "đánh giá rất cao vai trò của Việt Nam, trân trọng sự ủng hộ và đóng góp quan trọng của Việt Nam trong thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược giữa Nga và ASEAN".
Năm 2011, Nga và Mỹ chính thức trở thành thành viên đầy đủ của EAS, nâng tổng số thành viên lên con số 18, khẳng định năng lực định hình cấu trúc khu vực của ASEAN.
Phát huy vai trò cầu nối
Khi phát biểu khai mạc Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga diễn ra tại thành phố Kazan tuần trước, Tổng thống Vladimir Putin nhấn mạnh đây là "mối quan hệ mang tính chiến lược, góp phần hình thành cấu trúc an ninh cân bằng và thúc đẩy hợp tác bình đẳng, cùng có lợi".
Trải qua 35 năm, Nga và ASEAN đã trở thành đối tác chiến lược, tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Đó là điều ít ai có thể hình dung vào những ngày đầu ASEAN thành lập và đã được thúc đẩy nhờ vai trò cầu nối của Việt Nam.
Khi ASEAN được thành lập vào tháng 8/1967 bởi 5 quốc gia gồm Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan, quan hệ giữa khối này và Liên Xô giai đoạn đầu mang nặng yếu tố nghi kỵ, Đại sứ Đỗ Ngọc Sơn, nguyên Vụ trưởng Vụ ASEAN, cho biết.
Bước ngoặt lịch sử xuất hiện vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, vấn đề Campuchia được giải quyết, cùng với việc Trung Quốc mở cửa hội nhập.
Trong bối cảnh đó, các nước ASEAN bắt đầu chuyển dịch tư duy. Thay vì đối đầu, các nước thành viên hướng tới xây dựng một cấu trúc khu vực bao trùm, lôi kéo các cường quốc vào một cơ chế đối thoại do ASEAN dẫn dắt.
Nga, quốc gia kế thừa Liên Xô, bắt đầu được ASEAN nhìn nhận như đối tác đầy tiềm năng. Dù vậy, những bước đi đầu tiên không dễ dàng.
Khi đó, Nga phải căng mình xử lý khủng hoảng kinh tế - chính trị và ưu tiên cải thiện quan hệ với phương Tây. ASEAN và Nga thiếu cả nền tảng hợp tác lẫn lòng tin chiến lược, trong khi hợp tác kinh tế còn quá sơ khai để tạo động lực. Theo ông Sơn, ASEAN lúc bấy giờ vẫn hoài nghi về cam kết lâu dài của Nga đối với khu vực.
"Quan hệ ASEAN - Nga trong giai đoạn đầu chủ yếu tập trung vào xây dựng lòng tin, thiết lập cơ chế đối thoại và từng bước tạo nền tảng cho hợp tác lâu dài", Đại sứ Sơn cho hay.
Năm 1991, Nga được mời tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) và sau đó tham gia Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) ngay từ khi cơ chế này ra đời vào năm 1994.
"Đây là giai đoạn chuyển tiếp phản ánh rõ nét chiến lược hậu Chiến tranh Lạnh của ASEAN, từng bước lồng ghép các cường quốc vào cấu trúc khu vực do ASEAN làm trung tâm", ông Sơn phân tích.
Mối quan hệ giữa Nga và ASEAN bắt đầu tăng tốc từ khi Việt Nam gia nhập khối vào tháng 7/1995. Là một thành viên mới của ASEAN và có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, sâu sắc với Nga, Việt Nam đã trở thành chất xúc tác hoàn hảo để thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai bên.
Với vai trò cầu nối của Việt Nam cũng như nỗ lực hiện diện trở lại châu Á - Thái Bình Dương của Moskva, Nga năm 1996 chính thức trở thành Đối tác Đối thoại Đầy đủ (Full Dialogue Partner) của ASEAN.
Trong giai đoạn 1996-1999, với cương vị Điều phối viên quan hệ ASEAN - Nga, Việt Nam đã tích cực thúc đẩy đối thoại, hỗ trợ Nga tiếp cận sâu hơn với các cơ chế hợp tác và nguyên tắc hoạt động của khối.
Một bước chuyển quan trọng khác diễn ra vào năm 2004, khi Nga tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC).
"Đây là dấu mốc mang tính bước ngoặt, không chỉ nâng cao tính chính danh của Nga tại Đông Nam Á mà còn tạo cơ sở pháp lý để hai bên hợp tác sâu rộng, góp phần củng cố cục diện đa cực tại khu vực", Đại sứ Sơn nhấn mạnh.
Một năm sau, Hội nghị Cấp cao ASEAN - Nga lần đầu tiên được tổ chức tại Kuala Lumpur với sự tham dự của Tổng thống Putin. Việc quan hệ được nâng tầm lên cấp nguyên thủ cho thấy Nga không chỉ là một đối tác đối thoại thông thường của ASEAN, mà đã trở thành một thành tố không thể thiếu trong cấu trúc khu vực.
Kỳ vọng tầm nhìn mới
Nhìn lại chặng đường 35 năm, Đại sứ Phạm Quang Vinh nhận định ASEAN và Nga chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược trong việc duy trì hòa bình, ổn định và phát triển tại châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong bối cảnh địa chính trị thế giới đang xoay chuyển nhanh chóng, hai bên cần một tầm nhìn hợp tác mới phù hợp hơn.
Theo ông, dư địa hợp tác giữa ASEAN và Nga còn rất lớn, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, năng lượng, công nghệ và giáo dục. ASEAN cũng kỳ vọng Nga sẽ có chiến lược gắn kết mạnh mẽ, thực chất hơn nữa với Đông Nam Á và tham gia sâu hơn vào các cơ chế do khu vực dẫn dắt.
Phát biểu tại phiên toàn thể Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga hôm 18/6, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã đề xuất một số định hướng hợp tác lớn để thúc đẩy mối quan hệ, trong đó có thúc đẩy các nguyên tắc và giá trị mà hai bên cùng chia sẻ và ủng hộ.
Thủ tướng đề nghị ASEAN - Nga cùng tháo gỡ các rào cản về logistics, tiếp cận thị trường và cơ chế thanh toán, hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch thương mại hai chiều lên 45 tỷ USD vào năm 2035. Hai bên cũng cần đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, thanh niên, văn hóa và du lịch.
Các lãnh đạo ASEAN và Nga tại hội nghị đã thông qua Tuyên bố Kazan 2026 "ASEAN - Nga: Đoàn kết trong đa dạng - 35 năm đồng hành", cùng các tuyên bố về hợp tác năng lượng, văn hóa và Kế hoạch công tác ASEAN - Nga giai đoạn 2026-2030.
Đại sứ Vinh tin rằng trong hành trình đó, với tinh thần chủ động và vị thế mới, Việt Nam "chắc chắn sẽ tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa ASEAN với các đối tác, trong đó có Nga".
Tin Gốc: Vnexpress

