“Lúc đó, mọi thứ kéo dài chỉ 2-3 phút thôi, mà tôi vô cùng sốt ruột. Cuối cùng, mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, nhưng thú thật đó là một phen hú vía”, Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng SOM ASEAN Việt Nam năm 2007-2014, nhớ lại thời điểm kịch tính khi thu xếp cho Ngoại trưởng Nga và Mỹ cùng tham dự Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) tại Hà Nội cách đây 16 năm.
Đó là lần đầu tiên người đứng đầu Bộ Ngoại giao Mỹ và Nga cùng tham dự EAS, hội nghị ra đời từ năm 2005 gồm 10 nước ASEAN và các đối tác Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ.
ASEAN ngay từ đầu đã tính đến việc mời hai cường quốc Nga và Mỹ tham gia EAS, nhằm cho thấy vai trò của ASEAN là dẫn dắt một khuôn khổ hợp tác bao trùm, tạo sự cân bằng chiến lược, không để khu vực bị chi phối cả về địa chiến lược lẫn địa kinh tế.
Ông Vinh cho biết Nga đã “đánh tiếng” muốn gia nhập EAS từ năm 2005, nhưng phía Mỹ khi đó chưa sẵn sàng do Washington thường chỉ ưu tiên các cơ chế đa phương do chính họ sáng lập hoặc nắm quyền lãnh đạo. Do đó, kế hoạch mở rộng EAS đành phải gác lại.
Cơ hội mở ra vào năm 2010, khi Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN và EAS kỷ niệm 5 năm thành lập. Trưa 15/7/2010 (rạng sáng 16/7 giờ Hà Nội), Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbell khi đó chủ động hẹn ăn trưa với đại sứ các nước ASEAN tại Washington để chuyển thông điệp: Mỹ muốn tham gia EAS.
Thời điểm đó, Hội nghị Quan chức Cấp cao (SOM) ASEAN để chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, ASEAN+1 và ARF chỉ còn vài giờ nữa là khai mạc tại Hà Nội.
“Đây là thời cơ vàng để đưa cả hai cường quốc vào EAS, nhưng thời gian lại quá gấp gáp. Theo nguyên tắc, các trưởng SOM phải báo cáo xin ý kiến từ thủ đô của mình”, ông Vinh nói với VnExpress. Nếu xử lý theo quy trình thông thường như vậy, các trưởng SOM sẽ bỏ lỡ kỳ họp quan trọng nhất trong năm của các Bộ trưởng Ngoại giao, vốn là cơ hội tốt nhất để quyết định vấn đề này.
Với tư cách chủ tọa cuộc họp SOM sáng hôm đó, ông Vinh đã thông báo đề xuất của Mỹ và đề nghị các trưởng SOM cho ý kiến sơ bộ, hoàn toàn với tư cách cá nhân, về việc mời cả Nga và Mỹ cùng tham gia EAS. Ông thuyết phục rằng đây là cơ hội chiến lược phù hợp với lợi ích của ASEAN, cần sớm trình lên cấp bộ trưởng và cấp cao.
Phần lớn các trưởng SOM hoan nghênh ý tưởng trên, nhưng một số phái đoàn vẫn bày tỏ lo ngại về tác động của các cường quốc đối với “vai trò trung tâm” của ASEAN, cũng như phản ứng từ các đối tác khác trong EAS.
“Trước tình thế đó, với tư cách nước chủ nhà, đoàn Việt Nam đã đề xuất tạm nghỉ giải lao để các bên trao đổi thêm. Khác với những khoảng nghỉ 15 phút thông thường, giờ giải lao hôm đó đã kéo dài hơn 45 phút”, ông Vinh tiết lộ.
Chính trong hơn 45 phút giải lao ấy, các trưởng SOM đạt được nhận thức chung khá tích cực. Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao sau đó, các bên đã nhất trí thông qua đề xuất mời Mỹ, Nga tham gia EAS và chính thức trình lên lãnh đạo cấp cao.
Sau khi được cấp Bộ trưởng đồng ý, từ tháng 7 đến tháng 10/2010, Việt Nam tiếp tục chủ trì loạt cuộc họp SOM để thảo luận về cách duy trì vai trò trung tâm của khối trong bối cảnh mới và tham vấn với 6 đối tác còn lại của EAS.
Trong các cuộc họp này, Việt Nam đã đưa ra sáng kiến mời Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov và Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cùng tham dự hội nghị EAS vào tháng 10/2010 tại Hà Nội với tư cách khách mời của nước Chủ tịch. Sáng kiến này nhận được sự đồng thuận tuyệt đối.
Để chuẩn bị cho sự kiện, nước chủ nhà Việt Nam đã lên kịch bản lễ tân và thủ tục vô cùng nghiêm ngặt, từ thứ tự phát biểu đến sơ đồ vị trí ghế ngồi.
Việt Nam đề xuất là cuộc họp cấp cao EAS sẽ diễn ra bình thường. Sau khi kết thúc các vấn đề trong chương trình nghị sự, Việt Nam với vai trò Chủ tịch EAS sẽ phát biểu trước và thông báo quyết định mời Nga, Mỹ. Sau đó, đến lượt Ngoại trưởng Nga, Mỹ phát biểu theo thứ tự bảng chữ cái.
Sắp xếp chỗ ngồi tại hội nghị cũng đặt ra vấn đề không đơn giản. Hai Ngoại trưởng Mỹ, Nga chưa phải thành viên EAS, cũng không phải cùng cấp nguyên thủ, nên không thể ngồi cùng một bàn hội nghị.
Việt Nam đã giải quyết vấn đề này bằng cách phá lệ, bỏ bàn họp chung, bố trí các lãnh đạo cấp cao EAS ngồi theo hình thức salon, có bàn phụ riêng để quốc kỳ bên cạnh. Sau khi phần họp nội bộ cấp cao EAS kết thúc, nước chủ nhà sẽ bố trí thêm hai ghế nữa, hơi tách ra một chút, và mời Ngoại trưởng Mỹ, Nga vào. Cách bố trí đó đảm bảo đáp ứng cả về thủ tục ngoại giao và chính trị, ông Vinh nhấn mạnh.
Ngay cả việc đảm bảo hai Ngoại trưởng bước vào phòng họp cùng một thời điểm cũng được tính toán chi tiết để tránh bất kỳ vấn đề nhạy cảm chính trị nào. Ông Vinh được giao nhiệm vụ đón hai khách mời tại cửa phòng họp và phải đảm bảo nguyên tắc ngoại giao là hai Ngoại trưởng phải bước vào phòng cùng một lúc, nhằm tránh mọi sự phân biệt.
Tuy nhiên, một sự cố nhỏ ngoài dự kiến đã xảy ra. Trên đường từ phòng chờ ở tầng một lên phòng họp EAS tầng trên, bà Hillary vô tình đi nhanh hơn và đến trước, trong khi ông Lavrov bị trễ một chút ở phía sau.
Để bảo đảm cả hai cùng bước vào phòng họp, ông Vinh đã nhờ Tổng Thư ký ASEAN lúc đó là ông Surin Pitsuwan cùng trò chuyện để “giữ chân” bà Hillary tại cửa. Bên trong phòng họp, cán bộ đoàn Việt Nam liên tục nhắn tin giục giã, báo hiệu lãnh đạo cấp cao 16 nước đã sẵn sàng và đang chờ đợi, Đại sứ Vinh kể lại.
Sau những phút “hú vía” đó, hội nghị EAS đã diễn ra tốt đẹp và các lãnh đạo nhất trí kết nạp Mỹ, Nga vào danh sách thành viên, trên cơ sở tôn trọng các mục tiêu, nguyên tắc, thể thức, ưu tiên của EAS và ủng hộ vai trò chủ đạo của ASEAN.
Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm khi đó đánh giá đây là quyết sách có ý nghĩa chiến lược của ASEAN trong việc đưa EAS trở thành một diễn đàn hợp tác có tầm mức cao hơn và quy mô rộng lớn hơn ở khu vực.
Ngoại trưởng Clinton sau đó đã cảm ơn Việt Nam đã tạo điều kiện để Mỹ tham gia các diễn đàn khu vực và đã mời Mỹ, cùng với Nga, tham gia EAS. Trong cuộc phỏng vấn gần đây, Đại sứ Nga tại Việt Nam Gennady Bezdetko cho hay nước này “đánh giá rất cao vai trò của Việt Nam, trân trọng sự ủng hộ và đóng góp quan trọng của Việt Nam trong thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược giữa Nga và ASEAN”.
Năm 2011, Nga và Mỹ chính thức trở thành thành viên đầy đủ của EAS, nâng tổng số thành viên lên con số 18, khẳng định năng lực định hình cấu trúc khu vực của ASEAN.
Phát huy vai trò cầu nối
Khi phát biểu khai mạc Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN – Nga diễn ra tại thành phố Kazan tuần trước, Tổng thống Vladimir Putin nhấn mạnh đây là “mối quan hệ mang tính chiến lược, góp phần hình thành cấu trúc an ninh cân bằng và thúc đẩy hợp tác bình đẳng, cùng có lợi”.
Trải qua 35 năm, Nga và ASEAN đã trở thành đối tác chiến lược, tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Đó là điều ít ai có thể hình dung vào những ngày đầu ASEAN thành lập và đã được thúc đẩy nhờ vai trò cầu nối của Việt Nam.
Khi ASEAN được thành lập vào tháng 8/1967 bởi 5 quốc gia gồm Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan, quan hệ giữa khối này và Liên Xô giai đoạn đầu mang nặng yếu tố nghi kỵ, Đại sứ Đỗ Ngọc Sơn, nguyên Vụ trưởng Vụ ASEAN, cho biết.
Bước ngoặt lịch sử xuất hiện vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, vấn đề Campuchia được giải quyết, cùng với việc Trung Quốc mở cửa hội nhập.
Trong bối cảnh đó, các nước ASEAN bắt đầu chuyển dịch tư duy. Thay vì đối đầu, các nước thành viên hướng tới xây dựng một cấu trúc khu vực bao trùm, lôi kéo các cường quốc vào một cơ chế đối thoại do ASEAN dẫn dắt.
Nga, quốc gia kế thừa Liên Xô, bắt đầu được ASEAN nhìn nhận như đối tác đầy tiềm năng. Dù vậy, những bước đi đầu tiên không dễ dàng.
Khi đó, Nga phải căng mình xử lý khủng hoảng kinh tế – chính trị và ưu tiên cải thiện quan hệ với phương Tây. ASEAN và Nga thiếu cả nền tảng hợp tác lẫn lòng tin chiến lược, trong khi hợp tác kinh tế còn quá sơ khai để tạo động lực. Theo ông Sơn, ASEAN lúc bấy giờ vẫn hoài nghi về cam kết lâu dài của Nga đối với khu vực.
“Quan hệ ASEAN – Nga trong giai đoạn đầu chủ yếu tập trung vào xây dựng lòng tin, thiết lập cơ chế đối thoại và từng bước tạo nền tảng cho hợp tác lâu dài”, Đại sứ Sơn cho hay.
Năm 1991, Nga được mời tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) và sau đó tham gia Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) ngay từ khi cơ chế này ra đời vào năm 1994.
“Đây là giai đoạn chuyển tiếp phản ánh rõ nét chiến lược hậu Chiến tranh Lạnh của ASEAN, từng bước lồng ghép các cường quốc vào cấu trúc khu vực do ASEAN làm trung tâm”, ông Sơn phân tích.
Mối quan hệ giữa Nga và ASEAN bắt đầu tăng tốc từ khi Việt Nam gia nhập khối vào tháng 7/1995. Là một thành viên mới của ASEAN và có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, sâu sắc với Nga, Việt Nam đã trở thành chất xúc tác hoàn hảo để thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai bên.
Với vai trò cầu nối của Việt Nam cũng như nỗ lực hiện diện trở lại châu Á – Thái Bình Dương của Moskva, Nga năm 1996 chính thức trở thành Đối tác Đối thoại Đầy đủ (Full Dialogue Partner) của ASEAN.
Trong giai đoạn 1996-1999, với cương vị Điều phối viên quan hệ ASEAN – Nga, Việt Nam đã tích cực thúc đẩy đối thoại, hỗ trợ Nga tiếp cận sâu hơn với các cơ chế hợp tác và nguyên tắc hoạt động của khối.
Một bước chuyển quan trọng khác diễn ra vào năm 2004, khi Nga tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC).
“Đây là dấu mốc mang tính bước ngoặt, không chỉ nâng cao tính chính danh của Nga tại Đông Nam Á mà còn tạo cơ sở pháp lý để hai bên hợp tác sâu rộng, góp phần củng cố cục diện đa cực tại khu vực”, Đại sứ Sơn nhấn mạnh.
Một năm sau, Hội nghị Cấp cao ASEAN – Nga lần đầu tiên được tổ chức tại Kuala Lumpur với sự tham dự của Tổng thống Putin. Việc quan hệ được nâng tầm lên cấp nguyên thủ cho thấy Nga không chỉ là một đối tác đối thoại thông thường của ASEAN, mà đã trở thành một thành tố không thể thiếu trong cấu trúc khu vực.
Kỳ vọng tầm nhìn mới
Nhìn lại chặng đường 35 năm, Đại sứ Phạm Quang Vinh nhận định ASEAN và Nga chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược trong việc duy trì hòa bình, ổn định và phát triển tại châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong bối cảnh địa chính trị thế giới đang xoay chuyển nhanh chóng, hai bên cần một tầm nhìn hợp tác mới phù hợp hơn.
Theo ông, dư địa hợp tác giữa ASEAN và Nga còn rất lớn, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, năng lượng, công nghệ và giáo dục. ASEAN cũng kỳ vọng Nga sẽ có chiến lược gắn kết mạnh mẽ, thực chất hơn nữa với Đông Nam Á và tham gia sâu hơn vào các cơ chế do khu vực dẫn dắt.
Phát biểu tại phiên toàn thể Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN – Nga hôm 18/6, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã đề xuất một số định hướng hợp tác lớn để thúc đẩy mối quan hệ, trong đó có thúc đẩy các nguyên tắc và giá trị mà hai bên cùng chia sẻ và ủng hộ.
Thủ tướng đề nghị ASEAN – Nga cùng tháo gỡ các rào cản về logistics, tiếp cận thị trường và cơ chế thanh toán, hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch thương mại hai chiều lên 45 tỷ USD vào năm 2035. Hai bên cũng cần đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, thanh niên, văn hóa và du lịch.
Các lãnh đạo ASEAN và Nga tại hội nghị đã thông qua Tuyên bố Kazan 2026 “ASEAN – Nga: Đoàn kết trong đa dạng – 35 năm đồng hành”, cùng các tuyên bố về hợp tác năng lượng, văn hóa và Kế hoạch công tác ASEAN – Nga giai đoạn 2026-2030.
Đại sứ Vinh tin rằng trong hành trình đó, với tinh thần chủ động và vị thế mới, Việt Nam “chắc chắn sẽ tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa ASEAN với các đối tác, trong đó có Nga”.
Ngày 2-4, hy vọng về một cái kết nhanh chóng cho cuộc xung đột ở Trung Đông gần như tan biến sau khi Tổng thống Trump tuyên bố sẽ "giáng đòn cực mạnh" vào Iran trong 2 - 3 tuần tới, thay vì phác thảo lộ trình hòa bình.
Thị trường tài chính phản ứng tức thì: giá dầu thô Brent tăng khoảng 5% lên 106 USD/thùng, hầu hết sàn chứng khoán châu Á chìm trong sắc đỏ. Các nhà đầu tư, vốn đang chờ đợi tín hiệu về việc mở lại eo biển Hormuz, đã thất vọng hoàn toàn.
Khoảng 21h ngày 1-4 (theo giờ Mỹ, tức sáng 2-4 theo giờ Việt Nam), ông Trump phát biểu: "Tôi có thể nói rằng chúng ta đang đi đúng hướng để hoàn thành tất cả mục tiêu của Mỹ trong thời gian rất ngắn, rất ngắn thôi. Chúng ta sẽ giáng cho họ (Iran) đòn cực mạnh trong 2 - 3 tuần tới. Chúng ta sẽ đưa họ trở lại thời kỳ đồ đá, nơi họ thuộc về".
Ngay sau bài phát biểu, quân đội Israel xác nhận phát hiện thêm các tên lửa mới phóng từ Iran hướng về lãnh thổ nước này - một dấu hiệu cho thấy căng thẳng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Phản ứng từ giới tài chính rất gay gắt. Ông Russel Chesler, Trưởng bộ phận đầu tư và thị trường vốn tại Công ty Vaneck Australia, nhận xét thẳng thắn: "Nếu ông Trump đang cố gắng tạo niềm tin cho thị trường thì ông ấy đã không làm được. Câu hỏi quan trọng trong tâm trí tất cả nhà đầu tư là "Khi nào chuyện này sẽ kết thúc?", và chính điều này đang tạo ra biến động".
Ông John Woods, Giám đốc đầu tư phụ trách châu Á tại Ngân hàng Lombard Odier, cũng đồng quan điểm: "Thị trường đang hy vọng có tin tức mới về việc kết thúc cuộc xung đột và đã bán tháo khi bài phát biểu của ông Trump không mang lại cảm giác rõ ràng về một cái kết".
Trước bài phát biểu của ông Trump, Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian từng nêu rõ người dân Mỹ không phải là kẻ thù của Iran - một tín hiệu ngoại giao mà bài phát biểu của ông Trump đã không hề đón nhận.
Bối cảnh ngày càng bi quan hơn khi hôm 1-4, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cùng cảnh báo rằng cuộc chiến đang gây ra những tác động "to lớn, toàn cầu và rất bất cân xứng", đồng thời cho biết sẽ phối hợp ứng phó, bao gồm khả năng hỗ trợ tài chính cho các quốc gia chịu tác động nặng nề nhất.
Trước đó, kể từ ngày 28-2, khi Mỹ và Israel tấn công Iran, hàng ngàn người đã thiệt mạng trên khắp Trung Đông.
Không chỉ thị trường tài chính phản ứng tiêu cực, dư luận trong nước Mỹ cũng cho thấy sự rạn nứt ngày càng rõ. Dựa trên một số cuộc thăm dò gần đây với hơn 10.000 người, báo Washington Post phân tích rằng gần 6/10 số người Mỹ phản đối cuộc xung đột với Iran.
Cụ thể, một cuộc thăm dò của Trung tâm nghiên cứu Pew vào giữa tháng 3 cho thấy 59% người được hỏi cho rằng Mỹ đã đưa ra "quyết định sai lầm khi sử dụng lực lượng quân sự ở Iran".
Đài Fox News cũng ghi nhận 58% người phản đối "hành động quân sự hiện tại của Mỹ đối với Iran". Đáng chú ý hơn, 65% người Mỹ cho rằng chính quyền ông Trump chưa giải thích đầy đủ mục đích của cuộc xung đột.
Trước làn sóng lo ngại về giá xăng tăng cao, ông Trump tìm cách trấn an: "Nhiều người Mỹ đã lo ngại trước việc giá xăng tăng gần đây trong nước.
Sự gia tăng ngắn hạn này hoàn toàn là kết quả của việc chính quyền Iran tiến hành các cuộc tấn công khủng bố điên cuồng nhằm vào các tàu chở dầu thương mại ở các nước láng giềng vốn không liên quan gì đến cuộc xung đột".
Tuy nhiên ông không đưa ra bất kỳ giải pháp cụ thể nào, chỉ gợi ý rằng giá cả sẽ "nhanh chóng giảm trở lại" sau khi chiến sự chấm dứt.
Iran gần như đã đóng cửa eo biển Hormuz - tuyến đường thủy vận chuyển khoảng 1/5 lượng dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu, đẩy giá năng lượng leo thang và ảnh hưởng không nhỏ đến tỉ lệ ủng hộ ông Trump trước cuộc bầu cử giữa kỳ.
Trong bài phát biểu, ông Trump thậm chí tuyên bố Mỹ không cần eo biển Hormuz, đồng thời thách thức các đồng minh phụ thuộc dầu mỏ tại khu vực hãy tự nỗ lực mở lại tuyến đường này.
Theo Đài CNN, một số tuyên bố của ông Trump, chẳng hạn Iran đang "ngay trước ngưỡng cửa" sở hữu vũ khí hạt nhân và có thể sớm sở hữu tên lửa tầm xa đủ để tấn công lãnh thổ Mỹ, mâu thuẫn với các đánh giá tình báo của Mỹ và phương Tây, và không được ông đưa ra bằng chứng chi tiết.
Dù vậy, ông đã có lập luận đáng chú ý rằng khí tài quân sự cũng như khả năng gây hỗn loạn khu vực của Iran đã bị tàn phá đáng kể sau các đợt không kích của Mỹ và Israel.
Sau gần hai năm điều tra, tòa án quân sự Trung Quốc ngày 7/5 thông báo hai cựu bộ trưởng quốc phòng Ngụy Phượng Hòa và Lý Thượng Phúc bị tuyên tử hình, hoãn thi hành án hai năm và tịch thu toàn bộ tài sản cá nhân. Theo tuyên bố chính thức, ông Ngụy bị kết tội nhận hối lộ, trong khi ông Lý vừa nhận vừa đưa hối lộ.
Án tử hình treo (tử hoãn) là quy định đặc thù chỉ tồn tại trong hệ thống pháp luật hình sự Trung Quốc. Theo Bộ luật Hình sự Trung Quốc, nếu một người bị kết án tử hình nhưng tòa án xét thấy "không bắt buộc phải thi hành án ngay lập tức", người đó sẽ bị tuyên án tử hình kèm theo thời gian thử thách hai năm.
Trong hai năm này, phạm nhân sẽ bị giam giữ và lao động cải tạo. Nếu phạm nhân không cố ý phạm tội mới trong thời gian thử thách, bản án sẽ tự động được giảm xuống thành tù chung thân.
Đây là mức án nặng nhất với các cựu sĩ quan quân đội cấp cao kể từ khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát động chiến dịch chống tham nhũng vào năm 2012.
Trường hợp tướng Trung Quốc gần nhất nhận án tử hình treo là Cốc Tuấn Sơn, cựu phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Ông Cốc liên quan tới vụ án tham nhũng hơn 600 triệu nhân dân tệ (khoảng 98 triệu USD) và bị tuyên án vào năm 2015. Ông được cho là đang thụ án tù chung thân trong một nhà tù quân đội.
Vụ án của Cốc Tuấn Sơn đã châm ngòi cho làn sóng điều tra tham nhũng quy mô lớn trong quân đội Trung Quốc (PLA), dẫn đến sự sụp đổ của các cựu phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu. Năm 2017, tổng tham mưu trưởng PLA Phòng Phong Huy cũng bị cách chức.
Ông Từ qua đời trong khi chờ tuyên án, trong khi ông Quách và ông Phòng nhận án chung thân thay vì hình phạt nặng hơn là tử hình treo.
"Bản án tử hình treo đóng vai trò như sự răn đe mạnh mẽ đối với các hành vi tham nhũng và sai phạm công vụ khác", tiến sĩ Zi Yang, nghiên cứu viên tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS) thuộc Đại học Công nghệ Nanyang (NTU) ở Singapore, nói.
Ông Ngụy giữ chức bộ trưởng quốc phòng từ năm 2018 đến 2023. Ông Lý là người kế nhiệm và giữ chức vụ này trong bảy tháng trước khi bị cách chức đột ngột. Tại Trung Quốc, Bộ trưởng Quốc phòng chủ yếu đảm nhận vai trò đối ngoại quân sự và hợp tác quốc phòng đa phương, còn cơ quan ra quyết định cao nhất là Quân ủy Trung ương do ông Tập làm Chủ tịch.
Hãng thông tấn Xinhua không cho biết chi tiết về các cáo buộc chống lại ông Ngụy và ông Lý, cũng như không nói rõ họ đã nhận tội như thế nào. Khi đảng Cộng sản Trung Quốc công bố quyết định khai trừ hai người này vào năm 2024, họ nói rằng sai phạm của ông Ngụy và ông Lý là "cực kỳ nghiêm trọng, tác động cực kỳ xấu và thiệt hại đặc biệt to lớn".
Đây là hai trong số hàng chục sĩ quan cấp tướng đã bị điều tra, cách chức và kết án trong ba năm qua, khi ông Tập ngày càng chú trọng vào nỗ lực bài trừ nạn tham nhũng trong lực lượng vũ trang Trung Quốc.
Hồi tháng 1, cấp phó hàng đầu của ông Tập trong Quân ủy Trung ương là tướng Trương Hựu Hiệp, cùng một ủy viên khác là tướng Lưu Chấn Lập bị điều tra với cáo buộc sai phạm. Điều này khiến Quân ủy Trung ương Trung Quốc, vốn có 6 thành viên khi bắt đầu nhiệm kỳ hiện tại vào năm 2022, giờ chỉ còn ông Tập và Phó chủ tịch Trương Thăng Dân.
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington ước tính khoảng 100 sĩ quan quân đội cấp cao Trung Quốc đã bị cách chức hoặc không xuất hiện trước công chúng trong thời gian dài, cho thấy họ đang bị điều tra.
Truyền thông nhà nước Trung Quốc đưa tin trong cuộc họp tháng trước, ông Tập đã chỉ thị rằng chiến dịch chống tham nhũng sẽ tiếp tục.
Điểm chung giữa ông Lý và ông Ngụy là đều từng giữ chức vụ cao trong Lực lượng Tên lửa, vốn được thành lập trong nỗ lực hiện đại hóa quân đội Trung Quốc. Tiền thân của Lực lượng Tên lửa Trung Quốc là Binh chủng Pháo binh số 2, đơn vị mà ông Ngụy Phượng Hòa từng giữ chức tư lệnh.
Ông Lý Thượng Phúc cũng đã dành phần lớn sự nghiệp của mình trong cơ quan mua sắm vũ khí trang bị và Lực lượng Tên lửa. Lực lượng này chịu trách nhiệm vận hành kho vũ khí tấn công tầm xa và răn đe chiến lược của Trung Quốc, được trang bị các khí tài hiện đại và uy lực nhất của nước này.
Chris Buckley, nhà báo chuyên về Trung Quốc của NY Times, cho rằng các bản án dành cho ông Ngụy và ông Lý sẽ là lời cảnh cáo nghiêm khắc với những người khác trong quân đội về quyết tâm theo đuổi cuộc cải tổ của ông Tập, ngay cả khi điều này khiến ông mất đi những chỉ huy cấp cao.
"Giống như ông Cốc, ông Ngụy Phượng Hòa và Lý Thượng Phúc khó có khả năng bị tử hình sau hai năm hoãn thi hành án. Thay vào đó, bản án của họ sẽ được giảm xuống tù chung thân", tiến sĩ Zi Yang của RSIS nhận định.
Tiến sĩ Zi cho rằng các vụ án của ông Ngụy và ông Lý chắc chắn liên quan đến số tiền tham nhũng rất lớn, có khả năng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Lực lượng Tên lửa và Cục Phát triển Trang bị mà họ từng lãnh đạo.
Tuy nhiên, việc áp dụng án tử hình đối với các sĩ quan cao cấp sẽ gây tổn thất lớn cho tinh thần của PLA và có thể làm mất ổn định đội ngũ sĩ quan.
"Do đó, án tử hình treo đại diện cho một giải pháp trung hòa: đủ nghiêm khắc để buộc phải tuân thủ, nhưng không đến mức gây ra những rủi ro không đáng có", tiến sĩ Zi nhận xét.
Theo Hãng tin Reuters ngày 7-7, phát biểu trong cuộc gặp Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan bên lề Hội nghị thượng đỉnh NATO, ông Trump một lần nữa nhắc lại tham vọng kiểm soát Greenland - vùng lãnh thổ bán tự trị thuộc Đan Mạch.
"Greenland nên do Mỹ kiểm soát, chứ không phải Đan Mạch", ông tuyên bố.
Nhà lãnh đạo Mỹ cho rằng Copenhagen đã không đầu tư thỏa đáng cho Greenland, trong khi vị trí của hòn đảo ngày càng trở nên quan trọng đối với an ninh của Mỹ trước sự hiện diện của Nga và Trung Quốc tại Bắc Cực.
"Greenland chẳng giúp ích gì cho Đan Mạch. Đan Mạch cũng không chi tiền để thực sự hỗ trợ Greenland, nhưng nơi này lại là một khu vực quan trọng đối với Mỹ", ông nói.
Theo ông Trump, vấn đề Greenland đã ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa ông với NATO. Trước đây ông cũng liên tục đưa ra các tuyên bố Washington phải giành quyền sở hữu hoặc kiểm soát hòn đảo, gây căng thẳng với Đan Mạch - một thành viên NATO - và khiến nhiều nước châu Âu lo ngại.
Dù từng từ chối loại trừ khả năng sử dụng biện pháp quân sự để giành Greenland, tại Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos hồi đầu năm nay, vị tổng thống đã chuyển sang thúc đẩy một thỏa thuận dài hạn liên quan đến hòn đảo.
Cũng trong cuộc gặp, Tổng thống Mỹ tiếp tục bày tỏ thất vọng với NATO, thậm chí tiết lộ từng cân nhắc không tham dự hội nghị thượng đỉnh năm nay.
"Tôi đã rất thất vọng về NATO. Nói thẳng ra, nếu hội nghị không được tổ chức tại Thổ Nhĩ Kỳ thì có thể tôi đã không tham dự", ông nói.
Sự bất mãn của nhà lãnh đạo Mỹ liên quan đến phản ứng của các đồng minh châu Âu trong cuộc chiến Iran.
Ông Trump cho biết ông đã xem đây như một "phép thử" để đánh giá liệu các đồng minh có sẵn sàng sát cánh cùng Washington hay không.
"Tôi đã thử xem liệu họ có đứng về phía chúng tôi hay không, bởi từ lâu tôi vẫn nói rằng chúng tôi đã giúp họ. Ý từ chối chúng tôi, Đức từ chối chúng tôi và Pháp cũng từ chối chúng tôi", ông nói, đề cập việc một số nước hạn chế quân đội Mỹ sử dụng các căn cứ trên lãnh thổ của họ khi xung đột Iran nổ ra.
Khi được hỏi liệu có công bố thêm kế hoạch cắt giảm quân số Mỹ tại châu Âu hay không, ông Trump chỉ trả lời: "Chúng ta hãy chờ xem".
Theo Đài CNN, ông Trump từng thảo luận riêng về khả năng cắt giảm khoảng 1/3 lực lượng Mỹ đồn trú tại châu Âu.
Bên cạnh vấn đề liên quan đến Greenland, ông Trump cũng bày tỏ lạc quan về triển vọng đạt được một thỏa thuận hòa bình giữa Nga và Ukraine sau các cuộc trao đổi với lãnh đạo hai nước.
Tổng thống Mỹ cho biết ông đã có một "cuộc trao đổi rất tốt" với Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 6-7 và cũng nói chuyện với Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky.
"Tôi nghĩ cả hai đều muốn đạt được một thỏa thuận. Thật đáng tiếc là mọi chuyện đã kéo dài quá lâu, nhưng tôi nghĩ rồi sẽ có điều gì đó đạt được", ông Trump nói.
Theo nhà lãnh đạo Mỹ, cả ông Putin và ông Zelensky hiện đều muốn giải quyết cuộc xung đột. "Tôi nghĩ chúng ta sẽ giải quyết được. Hy vọng là sớm", ông nói thêm.
Nhà lãnh đạo cho rằng xung đột Nga - Ukraine gây ảnh hưởng đến châu Âu nhiều hơn Mỹ, bởi giữa Washington và chiến trường có "cả một đại dương". Tuy nhiên, ông nói bản thân "không thể chịu nổi" khi chứng kiến những gì đang xảy ra.
"Tôi chưa bao giờ chứng kiến điều gì như vậy. Đó là một cuộc tàn sát và nó phải chấm dứt", ông chia sẻ.