Trưa 13/5, Quốc Tuấn, 26 tuổi, nhân viên văn phòng ở phường Yên Hòa ra phố Nguyễn Quốc Trị mua bánh mì. Hàng quán trên vỉa hè biến mất, thay vào đó là những tờ giấy in thực đơn, mã QR thanh toán dán trên hàng rào tôn. Tuấn đứng chờ và trao đổi với người bán qua khe hở của tấm kim loại. “Mua đồ ăn mà như đang thực hiện một giao dịch bí mật”, Tuấn nói.
Ba tuần nay, những rào tôn quanh dự án A4/NO1, dọc phố Nguyễn Quốc Trị trở thành “sàn giao dịch” của các hàng quán vỉa hè trước kia. Khách dừng xe, người bán đứng sau tấm tôn nói vọng ra, mời chào. Việc đưa đồ, nhận tiền diễn ra qua khe hở hoặc lỗ thủng. Khách mua xong tự tìm nơi ngồi ăn, uống, tránh công an tuần tra.
Bên trong khu đất quây tôn, anh Hùng, chủ một quán nước, cho biết bán hàng kiểu du kích này là lựa chọn bất đắc dĩ. Do chi phí thuê mặt bằng cố định cao, anh bám trụ vỉa hè để giữ lượng khách quen. “Chúng tôi không lấn chiếm lối đi nhưng cũng cần một kẽ hở để sống, chứ cấm hẳn thì lấy gì nuôi gia đình”, anh Hùng nói.
Cách đó hơn 8 km, tại phố Hàng Bạc, quán trà đá của bà Kim Ngân phải lùi vào con ngõ rộng hơn một mét. Khách tự mang cốc, tìm đến vỉa hè trước những nhà đang đóng cửa hoặc mái hiên nhà đối diện để ngồi. Mức phạt tới 2,5 triệu đồng mỗi lần vi phạm buộc bà Ngân phải “đuổi” họ đi nơi khác.
Tại phố Hàng Chiếu, bà Nguyễn Hồng, 60 tuổi, rời khỏi vỉa hè từ đầu tháng 4. Quầy bánh rán, bánh gối được chuyển vào sâu trong ngõ và treo biển bán mang về. Khách muốn ăn tại chỗ phải ngồi nép sát tường. Khi có người đi, họ phải đứng dậy, bê bát đĩa trên tay để nhường đường.
Dù doanh thu giảm hơn 50%, bà Hồng nói ủng hộ kế hoạch dẹp vỉa hè. “Tôi tin khi khách quen mua mang về, hàng quán vẫn duy trì được sinh kế theo cách văn minh, trật tự hơn”, bà Hồng cho biết.
Kế hoạch 332 của Hà Nội về việc giành lại vỉa hè cho người đi bộ được triển khai qua ba giai đoạn: tuyên truyền, tổng kiểm tra xử lý và duy trì chống tái lấn chiếm. Giám đốc Công an Hà Nội yêu cầu siết chặt trách nhiệm cán bộ, trường hợp để vi phạm trật tự đô thị kéo dài sẽ bị hạ bậc xếp loại hoặc điều chuyển công tác.
Hiệu quả của việc “phạt nguội” qua camera bắt đầu phát huy tác dụng. Từ 23/4 đến 5/5, các đơn vị trong công an thành phố đã xử phạt 2.200 trường hợp, thu hơn 1,15 tỷ đồng. Hơn 1.100 trường hợp khác bị phạt nguội với tổng số tiền trên 557 triệu đồng.
Ghi nhận trong ngày 13/5 tại các tuyến phố thuộc phường Ba Đình, Giảng Võ, Đống Đa, Thanh Xuân, Hoàn Kiếm, Cầu Giấy, phần lớn vỉa hè đã quang đãng. Tuy nhiên, nhiều tiểu thương quanh các bệnh viện, công viên chuyển sang bán hàng kiểu “vô hình”. Người bán đứng từ xa quan sát, khi có khách gọi mới mang nước ra. Nhiều chủ quán dùng xe máy chở đồ để dễ sơ tán khi thấy lực lượng tuần tra.
Chị Thúy Hạnh, sống gần Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, kể người bán hàng giờ “thoắt ẩn thoắt hiện” để canh chừng công an.
Tiến sĩ Phan Lê Bình, chuyên gia giao thông, nói việc giải quyết lấn chiếm vỉa hè cần dựa vào thực tế. Ông đề xuất các phương án ứng xử khác nhau: cân bằng kinh doanh và lối đi ở vỉa hè rộng 6-8 mét; cho bán hàng rong buổi tối ở khu du lịch; phân vạch rõ ràng cho hộ kinh doanh nhỏ và yêu cầu ký cam kết.
Về góc độ kinh tế, PGS TS Đinh Trọng Thịnh, nguyên Trưởng Khoa Tài chính Quốc tế – Học viện Tài chính, cho biết kế hoạch dẹp vỉa hè đang đưa hoạt động kinh doanh vào nền nếp, dù tác động đến thu nhập của người lao động nhỏ lẻ. Ông Thịnh cũng nói tiểu thương đang chuyển sang kinh doanh trực tuyến hoặc bán hàng lưu động để thích ứng.
Anh Trần Vũ ở phường Từ Liêm chuyển sang bán cà phê trên xe lưu động từ cuối tháng 11/2025. Đầu tư khoảng 80 triệu đồng, anh đỗ xe tại các bãi được cấp phép. Anh Vũ nói mô hình này giúp tiết kiệm chi phí, không lo mất chỗ bán nhưng vẫn lo lắng khi loại hình này chưa có quy định pháp lý rõ ràng, dễ bị liệt vào dạng bán hàng rong. Anh hy vọng sớm có chính sách phù hợp cho các xe bán hàng lưu động để tiểu thương yên ổn mưu sinh.
“Thay vì kêu than, chúng tôi đang tìm cách thích nghi để tồn tại”, anh Vũ nói.
Darwin nằm sâu trong sa mạc thuộc hạt Inyo, cạnh Công viên quốc gia Thung lũng Chết. Thị trấn này từng rất sầm uất vào cuối thế kỷ 19 khi các mỏ bạc và chì được phát hiện, với dân số khoảng 3.500 người. Tuy nhiên, sự thịnh vượng lụi tàn khi quặng cạn kiệt và các tuyến đường chính thay đổi hướng. Đến thập niên 1970, những khu mỏ cuối cùng đóng cửa, dân số sụt giảm nghiêm trọng.
Darwin nay còn một số ngôi nhà cũ nằm rải rác giữa xương rồng. Thị trấn cách đường cao tốc gần nhất hơn 8 km, không có cửa hàng tạp hóa, nhà hàng hay bệnh viện. Nước là tài nguyên quý giá nhất, được dẫn bằng hệ thống ống từ một con suối xa.
Cộng đồng hiện chủ yếu là người già với độ tuổi trung bình 66. Trước nguy cơ thị trấn bị xóa sổ, người dân kêu gọi người trẻ chuyển đến sinh sống.
Một số bất động sản đang được rao bán thấp hơn khoảng 70% so với trung bình bang California. Một căn nhà ba phòng ngủ có tầm nhìn hướng núi được chào giá 245.000 USD, trong khi mức giá trung bình bang là 861.725 USD. Một căn trang trại cũ khác được rao bán chỉ 85.000 USD.
Dù giá rẻ, nơi này vẫn khó thu hút cư dân vì vị trí xa xôi và hạ tầng thiếu thốn. Bà Kathy Goss, người sống tại đây gần 30 năm, cho biết nhiều người già trong vùng đã qua đời. Bà từng treo biển "Có người đang sống ở đây" khắp thị trấn để nhắc về sự tồn tại của cộng đồng.
"Chúng tôi không muốn du khách đến quay video như một thị trấn ma", bà nói. "Chúng tôi muốn người trẻ thực sự sống ở đây, gắn bó lâu dài và cùng duy trì cộng đồng".
Anh Nico Georis, 43 tuổi, một trong những cư dân trẻ nhất, cho biết đang tìm lao động trẻ để tiếp nối việc vận hành thị trấn. Áp lực lớn nhất nằm ở hệ thống nước. Nguồn nước dẫn từ suối qua đường ống trọng lực, cần người bảo trì thủ công thường xuyên. Nhóm tình nguyện viên lớn tuổi hiện nay khó duy trì công việc này.
Một số người từ Las Vegas hay San Francisco bắt đầu chuyển đến để tìm không gian yên tĩnh. Tuy nhiên, tương lai của Darwin vẫn bỏ ngỏ khi lực lượng lao động tiếp tục thu hẹp.
Tử Cấm Thành - quần thể cung điện lớn ở Trung Quốc luôn khiến người đời kinh ngạc bởi sự xa hoa và đồ sộ. Thế nhưng, ẩn sau vẻ tráng lệ ấy lại tồn tại một chi tiết gây bất ngờ: chiếc giường ngủ của bậc "thiên tử" chỉ rộng khoảng 1 mét. Vì sao người nắm trong tay cả thiên hạ lại nghỉ ngơi trên một không gian chật hẹp như vậy? Đằng sau đó là sự kết hợp thú vị giữa phong thủy, điều kiện kiến trúc, khí hậu khắc nghiệt và cả những quy tắc nghiêm ngặt trong hoàng cung xưa.
Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, hoàng đế được xem là "thiên tử", người nắm quyền cai trị cả thiên hạ. Chính vì địa vị tối cao này, ông thường sống trong những cung điện nguy nga, tráng lệ bậc nhất. Thế nhưng điều khiến nhiều người bất ngờ là chiếc giường ngủ của nhà vua lại khá nhỏ, với chiều rộng chỉ khoảng 1 mét.
Đáng chú ý theo ghi chép và các nghiên cứu về Tử Cấm Thành, quần thể cung điện hoàng gia rộng khoảng 720.000m² với hàng nghìn căn phòng, nhưng phòng ngủ của hoàng đế lại chỉ rộng chừng 10m². Không gian này thường nằm ở những nơi như điện Dưỡng Tâm, cung Càn Thanh hoặc cung Khôn Ninh.
Thêm một điều thú vị ở nơi đây là giường ngủ của vua cũng rất nhỏ, chiều dài khoảng hơn 2m và chiều rộng chỉ khoảng 1m, không khác biệt quá nhiều so với giường của người dân thường.
Các nhà nghiên cứu kiến trúc cung đình cho biết quan niệm xưa cho rằng phòng quá rộng nhưng ít người ở sẽ khiến "dương khí" dễ thất thoát, từ đó ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và vận mệnh. Vì vậy, không gian trong cung thường được thiết kế thấp, hẹp để giữ sự ấm cúng và tích tụ sinh khí, và phòng ngủ của hoàng đế cũng tuân theo nguyên tắc này.
Bên cạnh yếu tố phong thủy, một số học giả còn giải thích rằng việc dùng giường hẹp còn liên quan đến quan niệm âm dương và cách chơi chữ trong tiếng Hán, khi âm đọc gần nhau giữa các từ gợi ý ý nghĩa "trường thọ", mang hàm ý may mắn và sống lâu.
Ngoài yếu tố phong thủy, việc giường ngủ của hoàng đế xưa chỉ rộng khoảng 1 mét còn có lý do kỹ thuật. Phần lớn cung điện Trung Hoa được xây bằng gỗ, hệ thống kết cấu chịu lực có giới hạn nên không thể thiết kế không gian quá rộng hoặc trần quá cao. Đặc biệt ở Bắc Kinh, mùa đông khắc nghiệt khiến các gian phòng phải xây thấp, hẹp và kín gió để giữ ấm. Giường vì thế cũng được làm nhỏ gọn, vừa vặn với không gian, giúp sưởi ấm hiệu quả hơn và giảm rủi ro cháy nổ khi dùng than sưởi.
Không chỉ vậy khi nhìn rộng hơn, chiếc giường nhỏ không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn phản ánh tư duy "tiện dụng trong sang trọng" của hoàng cung, nơi mọi chi tiết đều được tính toán cẩn trọng để bảo vệ sức khỏe và an toàn của thiên tử.
Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân mang tính thể chế và chính trị. Hoàng đế thời phong kiến có hậu cung rất lớn, nhưng việc "thị tẩm" của phi tần được quy định nghiêm ngặt, chỉ diễn ra trong thời gian ngắn rồi phải rời đi theo quy chế. Chiếc giường nhỏ vì vậy mang ý nghĩa hạn chế sự buông thả, nhắc nhở nhà vua giữ kỷ luật và đặt công việc triều chính lên trên hưởng lạc.
Ở một góc nhìn khác, giường ngủ nhỏ còn thể hiện quan niệm về quyền lực: dù là "thiên tử", hoàng đế vẫn phải sống trong khuôn khổ lễ nghi và kỷ cương. Sự giản lược trong không gian không phải là thiếu thốn mà là một phần của hệ thống kiểm soát và trật tự cung đình.
Từ những yếu tố trên có thể thấy, chiếc giường nhỏ của hoàng đế không đơn thuần là vật dụng sinh hoạt, mà là sự kết hợp giữa điều kiện kỹ thuật, khí hậu, phong thủy và tư tưởng chính trị. Nó phản ánh cách người xưa cân bằng giữa quyền lực, sự an toàn và nguyên tắc trị quốc.
Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu khắc nghiệt ở Bắc Kinh với mùa hè nóng ẩm, mùa đông lạnh giá và gió cát mùa xuân cũng ảnh hưởng đến thiết kế không gian sống. Giường và phòng ngủ nhỏ, tường dày và vật liệu gỗ giúp giữ ấm vào mùa đông, giảm nóng vào mùa hè và hạn chế tác động từ thời tiết.
Nhìn chung, dù là nơi ở của bậc đế vương, không gian nghỉ ngơi của hoàng đế vẫn được thiết kế theo hướng thực dụng, hài hòa giữa yếu tố phong thủy, khí hậu và quan niệm truyền thống.
Khoảng 1,3 tỉ người trên thế giới sống với khuyết tật, tức khoảng 16% dân số toàn cầu. Điều tra năm 2023 cho thấy Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật (khoảng 6,11% dân số).
Có thể nói số liệu trên đây là một bộ phận không nhỏ trong xã hội song vẫn đang gặp nhiều rào cản trong tiếp cận giáo dục, việc làm, giao thông, dịch vụ công… Rào cản lớn nhất không nằm ở bản thân khuyết tật mà ở môi trường chưa được thiết kế để mọi người cùng tham gia bình đẳng.
Một công trình không có lối đi phù hợp, một trang thông tin không thể truy cập bằng công nghệ hỗ trợ hay một doanh nghiệp từ chối tuyển dụng vì định kiến… tất cả đều là rào cản xã hội, tạo ra khuyết tật về cơ hội với người khuyết tật. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách mà là thiếu cơ chế thực thi hiệu quả và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Muốn xóa bỏ rào cản cần chuyển từ cách làm mang tính phong trào sang cách làm dựa trên chuẩn tiếp cận, có kiểm tra giám sát, có chế tài và có sự tham gia của chính người khuyết tật. Một trong những biểu hiện rõ nhất của rào cản xã hội là khoảng cách về việc làm. Tỉ lệ người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang làm việc chỉ khoảng 23,5% (theo số liệu điều tra năm 2023).
Nhiều người khuyết tật không thiếu năng lực nhưng lại thiếu cơ hội tiếp cận. Họ không được đào tạo nghề phù hợp, không được hỗ trợ điều chỉnh môi trường làm việc và thường bị loại khỏi vòng tuyển dụng ngay từ đầu do định kiến.
Tăng cơ hội việc làm cho người khuyết tật không thể dựa vào thiện chí mà phải dựa trên hệ thống chính sách đồng bộ, từ chống phân biệt đối xử đến hỗ trợ doanh nghiệp và dịch vụ việc làm công.
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm cho người khuyết tật song chính sách chưa thực sự tạo động lực. Chẳng hạn doanh nghiệp chỉ được hưởng ưu đãi thuế khi có từ 30% trở lên số lao động bình quân trong năm là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác). Đồng thời có quy mô từ 20 lao động trong năm trở lên.
Có những cơ sở đạt tỉ lệ lao động khuyết tật như quy định nhưng vẫn không được hưởng ưu đãi do không đáp ứng điều kiện về quy mô lao động tối thiểu.
Tương tự, doanh nghiệp phải bảo đảm tỉ lệ từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác) mới được hưởng chính sách ưu đãi vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động. Không ít doanh nghiệp không thể tiếp cận chính sách này do không đạt ngưỡng tỉ lệ lao động là người khuyết tật.
Do vậy yêu cầu đặt ra là điều chỉnh chính sách theo hướng bỏ hoặc linh hoạt hóa điều kiện về quy mô lao động, đặc biệt với cơ sở có tỉ lệ lao động là người khuyết tật cao.
Hoặc thiết kế cơ chế ưu đãi theo hướng lũy tiến hay đa ngưỡng thay vì áp dụng cứng tỉ lệ 30% nhằm ghi nhận cả những doanh nghiệp có đóng góp đáng kể nhưng chưa đạt ngưỡng.
Cần kết hợp đồng thời tiêu chí về tỉ lệ và số lượng tuyệt đối lao động là người khuyết tật, mở rộng hình thức hỗ trợ ngoài thuế như cải tạo nơi làm việc, công nghệ trợ giúp, đào tạo tại chỗ song song với tận dụng mua sắm công và chuỗi cung ứng.
Kinh nghiệm khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy các quốc gia thành công thường kết hợp nhiều công cụ: ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật, cơ chế trách nhiệm và cả áp lực thị trường.