Hơn 20 năm trước, vừa cầm trên tay giấy báo trúng tuyển đại học, bà Hoàng Thị Diệu Thuần (sinh năm 1987, quê Nghệ An) bất ngờ nhận tin mình mắc ung thư máu. Ở tuổi 18, cánh cửa tương lai vừa hé mở thì cô gái trẻ cũng bước vào hành trình giành giật sự sống đầy khắc nghiệt.
“Năm 2005 là quãng thời gian tuyệt vọng nhất với mình. Cơ thể suy kiệt, gầy rộc gần như chỉ còn da bọc xương vì phải chống chọi với từng giọt hóa chất ngấm vào cơ thể”, bà Thuần nhớ lại.
Những tháng ngày điều trị kéo dài khiến nhiều lần bà nghĩ rằng sự sống đang dần khép lại. Giữa lúc gần như rơi vào bế tắc, các bác sĩ đưa ra phương án ghép tế bào gốc đây là cơ hội cuối cùng để giành lại cuộc sống với tỷ lệ thành công chỉ khoảng 50%.
Thế nhưng chi phí cho ca ghép khi ấy lên tới 450–500 triệu đồng, con số quá lớn đối với gia đình bà Thuần. May mắn thay, cô gái trẻ khi ấy đã nhận được sự chung tay giúp đỡ của nhiều người hảo tâm. Điều bà nhớ nhất đến tận bây giờ là món quà 200.000 đồng từ một người xe ôm xa lạ.
“Hồi đó mình từ chối vì nghĩ chú làm nghề vất vả quá. Nhưng chú vẫn nhất quyết gửi lại, chỉ nói một câu rất đơn giản ‘Con cố gắng chữa bệnh nhé’. Số tiền ấy không lớn nhưng với mình đó là sự động viên không bao giờ quên”, bà Thuần xúc động kể.
Ca ghép tế bào gốc thành công đã mở ra cho bà một cuộc đời mới. Sau ghép, bà tiếp tục điều trị thêm gần hai năm trước khi có thể ngừng hoàn toàn thuốc men. Đến nay, bà được xem là một trong những trường hợp ghép tế bào gốc thành công tiêu biểu.
Năm 2016, bà Thuần trở lại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương nhưng không còn với tư cách một bệnh nhân ung thư máu. Cô gái nhỏ bé ngày nào giờ trở thành tình nguyện viên gắn bó đều đặn mỗi tuần tại Khoa Bệnh máu trẻ em.
“Khi thì mang đàn vào hát cùng các bé, khi thì đọc sách, tô màu, chơi xếp gỗ, xâu vòng hoặc chỉ đơn giản là ngồi trò chuyện với các em. Có những buổi tối các bé nhắn ‘nhớ cô Thuần’ là mình lại chạy xe máy vào viện”, bà kể.
Từ những buổi sinh hoạt giản dị ấy, bà Thuần bắt đầu trao đổi với Phòng Công tác xã hội của viện để mở một lớp học nhỏ ngay trong bệnh viện. Từ đó “Lớp học gieo hạt” dần ra đời, trở thành nơi kết nối yêu thương cho nhiều bệnh nhi điều trị dài ngày.
Trong ký ức của bà vẫn còn nguyên hình ảnh những đứa trẻ với cánh tay chi chít vết kim tiêm, có em yếu đến mức không thể tự đi lại, gương mặt hằn rõ nỗi đau vì tác dụng phụ của hóa trị. Thế nhưng, các em vẫn cố gắng sang thư viện, vẫn háo hức tham gia hoạt động, vẫn cười nói hồn nhiên như chưa từng bị bệnh tật bủa vây.
“Chính năng lượng tích cực của các bạn khiến mình thấy bản thân cần làm nhiều hơn nữa và muốn gắn bó lâu dài với các em”, bà Thuần chia sẻ.
Lớp học hiện được tổ chức vào mỗi chủ nhật hàng tuần với nhiều hoạt động khác nhau. Có buổi, các em tập làm văn để không quên mặt chữ đồng thời gửi gắm vào trang giấy những ước mơ, lời cảm ơn dành cho bố mẹ, bác sĩ hay cả những cảm xúc giấu kín mà các em không dám nói ra vì sợ người thân lo lắng.
“Nhiều bạn đau, nhiều bạn mệt nhưng không muốn bố mẹ buồn nên chỉ âm thầm viết ra giấy. Có bạn viết xong rồi cười bảo với chị rằng thấy nhẹ lòng hơn rất nhiều”, bà kể.
Các em nhỏ hào hứng tham gia những hoạt động tại “Lớp học Gieo hạt” tổ chức vào mỗi cuối tuần.
Ngoài những giờ tập làm văn còn có các buổi “khoa học vui”, nơi tình nguyện viên dùng màn hình nhỏ trong thư viện để đưa các em khám phá thế giới động vật, thực vật, thiên nhiên hay những thí nghiệm đơn giản.
Những lớp học hát, học tiếng Anh, trò chơi trí nhớ, tô màu hay làm đồ handmade cũng được duy trì đều đặn giúp các em tạm quên đi cảm giác đau đớn của những ngày tiêm truyền kéo dài.
Nhưng cũng từ lớp học ấy, bà Thuần dần nghe nhiều hơn những câu chuyện phía sau mỗi giường bệnh.
Đó là những người mẹ phải nghỉ việc nhiều tháng trời để ở viện chăm con mà không có thu nhập. Từ nỗi trăn trở ấy, bà cùng Phòng Công tác xã hội của viện lại tiếp tục xây dựng dự án “Đôi bàn tay mẹ”, dạy thêu và tạo việc làm cho phụ huynh ngay trong thời gian chăm con điều trị.
Rồi bà lại nhận ra có rất nhiều bệnh nhi học giỏi, giàu nghị lực nhưng thiếu điều kiện để tiếp tục đến trường. Từ đó, dự án học bổng “Em ước mong sao” tiếp tục được hình thành.
Qua những dòng chia sẻ được các em viết lại, bà Thuần nhận ra một điều tưởng chừng rất nhỏ bé nhưng lại vô cùng quan trọng với nhiều bệnh nhi, đặc biệt là các bé gái đó chính là mái tóc.
“Ngày trước mình nghĩ chỉ người lớn mới cần tóc để tự tin giao tiếp. Nhưng rồi các bé nói với mình rằng các con cũng muốn có tóc để khi quay lại trường sẽ không thấy mình khác biệt với bạn bè, để được mặc đẹp vào ngày lễ, ngày Tết như bao đứa trẻ khác”, bà Thuần nói.
Ý tưởng ấy sau đó đã dẫn tới “Trạm tóc ước mơ” – ngày hội hiến tóc đầu tiên tại viện vào năm 2022. Đến nay, chương trình vẫn được duy trì đều đặn mỗi tháng.
“Tất cả đều xuất phát từ việc mình cũng từng là bệnh nhân, từng trải qua những ngày tháng điều trị nên mình hiểu và đồng cảm sâu sắc với các hoàn cảnh ấy. Khi thấy bản thân còn sức khỏe, còn khả năng và vẫn có thể làm điều gì đó cho các em thì mình muốn bắt tay vào làm”, bà chia sẻ.
Theo bà Thuần, trong suốt quá trình triển khai các hoạt động, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương luôn tạo điều kiện và hỗ trợ để các dự án có thể duy trì bền vững, lan tỏa tới nhiều bệnh nhi hơn.
Trong dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6 năm nay, bà Thuần cùng các cộng sự tiếp tục phối hợp với Phòng Công tác xã hội của viện tổ chức trao tóc, quà tặng và lì xì cho các bệnh nhi.
Sau gần một thập kỷ đồng hành cùng bệnh nhi ung thư và các em mắc bệnh lý huyết học, điều bà Thuần mong mỏi nhất vẫn là những dự án hiện tại có thể tiếp tục được duy trì lâu dài.
“Điều quan trọng nhất là những hoạt động ấy phải đúng với nhu cầu thật sự của các bé. Chỉ cần còn có người đồng hành, còn tình nguyện viên, còn sự hỗ trợ từ bệnh viện và cộng đồng thì mình vẫn muốn tiếp tục làm, tiếp tục ở bên các con”, bà nói.
Cũng trong dịp này, ThS. Lý Thị Hảo – Trưởng phòng Công tác xã hội, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương cho biết, chuỗi hoạt động dành cho bệnh nhi nhân dịp 1/6 năm nay đã được lên kế hoạch từ từ sớm với nhiều chương trình phong phú.
Bên cạnh việc kết nối các đơn vị, mạnh thường quân trao quà cho các em nhỏ, viện còn tổ chức các hoạt động tinh thần quy mô lớn gồm chương trình “Em là Hoa hồng nhỏ”, “Lễ bế giảng năm học 2025–2026 và mừng ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6” diễn ra từ ngày 27 – 29/5.
Hoạt động nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6 mang đến niềm vui và tiếng cười cho nhiều bệnh nhi tại viện.
Theo bà Hảo, đây không chỉ là những hoạt động hưởng ứng ngày vui của trẻ em trên toàn thế giới mà còn là dịp để các bệnh nhi cảm nhận niềm vui được trở về “ngôi trường” của mình ngay trong bệnh viện, được sống với tuổi thơ hồn nhiên như bao bạn nhỏ khác.
Điểm mới của chương trình năm nay là lễ bế giảng dành cho các em theo học tại những lớp học đặc biệt như lớp Hạnh phúc, lớp Nắng mới, lớp Gieo hạt hay lớp Nhân ái được duy trì trong bệnh viện suốt nhiều năm qua.
“Một năm học đặc biệt đã bắt đầu bằng lễ khai giảng trong bệnh viện và giờ đây cũng khép lại tại chính nơi này. Chúng tôi mong muốn mang đến cho các em một lễ bế giảng thật sự ý nghĩa để các con cảm nhận rằng dù đang điều trị bệnh vẫn có một tuổi học trò trọn vẹn và đáng nhớ”, ThS. Hảo chia sẻ.
Ngoài các hoạt động trong dịp lễ, Tết hay Quốc tế Thiếu nhi, nhiều chương trình dành cho bệnh nhi vẫn được duy trì đều đặn nhờ sự chung tay của cộng đồng, các thầy cô giáo tình nguyện và các tình nguyện viên. Đó là những lớp học, buổi giao lưu cuối tuần, chương trình vui chơi, tặng quà, hỗ trợ đồ dùng sinh hoạt hay các buổi sinh nhật định kỳ hằng tháng dành cho các em nhỏ đang điều trị.
Theo đại diện Phòng Công tác xã hội, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương nhiều năm qua luôn phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, cá nhân và nhóm thiện nguyện trên tinh thần tự nguyện, không vụ lợi với mục tiêu duy nhất là mang sự quan tâm, sẻ chia và yêu thương đến với bệnh nhi.
“Các chương trình đều được xây dựng kế hoạch cụ thể, thống nhất nội dung triển khai trước khi thực hiện để bảo đảm hỗ trợ đúng nhu cầu thực tế của bệnh nhi và gia đình. Chính điều đó giúp các hoạt động thiện nguyện có thể duy trì bền bỉ suốt nhiều năm”, bà Hảo cho biết.
Ngoài việc hỗ trợ về vật chất và tinh thần, trong thời gian tới các hoạt động dành cho bệnh nhi sẽ được triển khai theo hướng chuyên sâu hơn với sự phối hợp giữa Phòng Công tác xã hội, các đơn vị điều trị, chuyên gia tâm lý xã hội cùng các mạnh thường quân và gia đình bệnh nhi.
Giữa cái nắng gay gắt của miền Trung, thế nhưng ngay từ đầu làng Xuân Am (xã Hưng Nguyên, Nghệ An) đã nghe những tiếng búa gõ từng nhịp vọng ra từ một góc sân. Âm thanh ấy không quá lớn nhưng đều đặn, trầm ổn, chứng tỏ sự lão luyện của người thợ.
Trong sân nhà, ông Nguyễn Bá Kim (SN 1974) đeo cặp kính cũ, cặm cụi gõ từng nhát búa lên chiếc rương bằng tôn đang dở dang. Ánh nắng hắt lên mặt tôn sáng lóa, còn người thợ vẫn lặng lẽ cúi mình, đôi bàn tay thoăn thoắt như đã thuộc từng đường gấp, từng mối ghép sau hơn 30 năm gắn bó với nghề.
Ông Kim cho biết, nghề gò tôn (hay gò hàn tôn) là nghề thủ công truyền thống sử dụng búa, kềm, và các thiết bị hàn để tạo hình, uốn, ghép các tấm kim loại mỏng (như tôn, kẽm, thiếc, đồng) thành các vật dụng gia đình, nông nghiệp.
Ông Kim là đời thứ ba trong gia đình theo nghề gò tôn. Trước ông là bố, rồi đến ông bà. Từ nhỏ, ông đã quen với tiếng búa, tiếng kéo cắt tôn, lớn lên vừa học vừa phụ giúp gia đình rồi nối nghiệp từ lúc nào không hay.
"Ngày trước, khoảng 80% người trong làng đều làm nghề. Khi ấy sản phẩm rất đa dạng, từ thùng đựng gạo, thùng tưới cây, lò đốt vàng mã đến đủ loại đồ dùng sinh hoạt. Còn bây giờ, cả làng chỉ còn 4 hộ duy trì", ông Kim chia sẻ.
Theo ông, sự phát triển của máy móc công nghiệp và các sản phẩm nhựa khiến đồ tôn thủ công dần mất chỗ đứng. Người dân lần lượt chuyển nghề vì thu nhập không còn hấp dẫn.
Hiện nay, các hộ chủ yếu nhận gia công rương, hòm đựng tài liệu theo đơn đặt hàng. Khách sẽ mang nguyên liệu như tôn, ốc, vít đến, người thợ chỉ tập trung gia công rồi đến ngày xe về gom sản phẩm.
"Một ngày chăm chỉ thì tôi làm được khoảng 10 chiếc. Thu nhập tính cả vốn mỗi tháng khoảng 15 triệu đồng. Không cao nhưng được làm ở nhà, không phải phụ thuộc vào thời tiết. Nhiều khi đơn hàng vẫn đều nhưng mình không đủ sức để làm", ông Kim nói.
Ông cũng cho biết, khoảng 10 năm trở lại đây, khi khu vực Đền Ông Hoàng Mười phát triển hoạt động dịch vụ, nhiều người trong làng chuyển sang buôn bán vì thu nhập cao hơn. Nhưng với riêng ông, điều níu chân mình vẫn là tình cảm dành cho nghề đã theo gia đình suốt nhiều thế hệ.
"Nghề này không khó nhưng phải khéo tay, làm quen mới nhanh. Nếu sau này nghề mất hẳn thì tiếc lắm, vì dù sao nó cũng đã gắn với làng mình mấy đời rồi" ông Kim bộc bạch.
Rời nhà ông Kim, chúng tôi tiếp tục đi sâu vào làng, tiếng búa lại vang lên từ một căn nhà khác. Cũng ngồi giữa khoảng sân nhỏ, ông Nguyễn Ngọc Huy vẫn lặng lẽ gò từng tấm tôn sáng chói. Dù tai không nghe rõ nhưng đôi bàn tay của ông vẫn thoăn thoắt, từng động tác dứt khoát và chính xác.
Ông Huy kể, ông đã theo nghề từ năm 15 tuổi. Ngày trước bố cùng các bác đều làm nghề, sau này đến lượt ông tiếp nối. Gia đình chủ yếu làm nông nên những lúc nông nhàn lại tranh thủ ngồi gò để kiếm thêm thu nhập.
"Mỗi ngày làm được khoảng 6 đến 10 sản phẩm, tùy kích thước. Nghề này không giúp mình giàu được nhưng cũng có thêm đồng ra đồng vào để trang trải cuộc sống", ông nói.
Theo ông Huy, gò tôn không phải công việc quá nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ và khéo léo. Công bỏ ra nhiều trong khi lợi nhuận không cao nên chỉ những người thực sự yêu nghề mới đủ kiên nhẫn để theo đuổi.
"Từ nhỏ tôi đã quen tay kìm, tay búa, cắt gọt rồi tạo nên những sản phẩm từ đơn sơ đến phức tạp. Mỗi lần làm khách hàng hài lòng với món đồ mình làm ra là thấy vui lắm. Có lẽ chính cảm giác ấy đã tạo động lực để tôi ở lại với nghề đến tận bây giờ", ông Huy nói thêm.
Ở Xuân Am hôm nay, tiếng búa không còn rộn ràng như mấy chục năm trước. Những khoảng sân chất đầy sản phẩm từ tôn chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Dẫu vậy, mỗi nhịp búa vẫn vang lên đều đặn, như một cách để những người thợ gìn giữ "cái nghề" mà cha ông đã trao lại.
"Dù nghề giúp chúng tôi tạo được đồng ra đồng vào, nhưng để đi với thời đại thì rất khó. Con em chúng tôi bây giờ cũng không mấy mặn mà với nghề mà tìm hướng đi khác. Đó cũng là điều tất yếu và phải chấp nhận!", ông Huy nói thêm.
Theo ông Hoàng Anh Tiến, Chủ tịch UBND xã Hưng Nguyên, nghề sản xuất gò hàn tôn hiện nay đang gặp nhiều khó khăn. Giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, sức tiêu thụ không nhiều, dẫn đến lợi nhuận không cao.
Từ ngày 21 - 24/11/2026, UBND thành phố Hà Nội sẽ tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam tại Hà Nội" năm 2026 tại khu vực Vườn hoa Vua Lý Thái Tổ, không gian hồ Hoàn Kiếm và các địa điểm văn hóa lân cận. Sự kiện dự kiến thu hút khoảng 3.500 - 4.000 người tham gia.
Đây là hoạt động nhằm tôn vinh, giới thiệu và quảng bá những giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam và Thăng Long – Hà Nội; góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và người dân trong gìn giữ, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Đồng thời, sự kiện tiếp tục khẳng định vai trò của Thủ đô Hà Nội là trung tâm lớn về văn hóa của cả nước, phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa, không gian công cộng và di tích lịch sử – văn hóa; gắn bảo tồn, phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch, dịch vụ và các ngành công nghiệp văn hóa.
Điểm nhấn của chương trình là lễ khai mạc diễn ra vào sáng 21/11 tại khu vực tượng đài Vua Lý Thái Tổ. Chương trình mở màn bằng đại cảnh nghệ thuật "Trống hội Thăng Long", tiếp đó là nghi thức khai mạc và chương trình diễu hành di sản kết hợp biểu diễn nghệ thuật quy mô lớn với sự tham gia của khoảng 4.000 nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên và lực lượng quần chúng đến từ các xã, phường trên địa bàn thành phố.
Chương trình diễu hành được xây dựng theo ba chương: "Từ thuở Thăng Long", "Hà thành phồn hoa" và "Thủ đô hội nhập", tái hiện dòng chảy lịch sử, văn hóa của Thăng Long – Hà Nội từ huyền sử cội nguồn với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên đến hình ảnh Thủ đô văn hiến, hiện đại và sáng tạo.
Nội dung diễu hành giới thiệu nhiều giá trị di sản tiêu biểu như tín ngưỡng thờ Tứ bất tử, Thăng Long tứ trấn, Di sản văn hóa thế giới Hoàng thành Thăng Long cùng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể như ca trù, hát xẩm, múa rối nước, cồng chiêng, kéo co.
Bên cạnh đó là phần trình diễn tôn vinh các làng khoa bảng, làng nghề truyền thống, lụa, áo dài, hoa và hình ảnh Hà Nội – Thành phố vì hòa bình.
Trong suốt bốn ngày diễn ra sự kiện, chuỗi chương trình văn hóa, nghệ thuật sẽ liên tục được tổ chức tại các sân khấu phụ ở Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, tượng đài Cảm Tử và khu vực Tràng Tiền Plaza – Hàng Khay.
Công chúng sẽ được thưởng thức các chương trình chèo, cải lương, ca trù, hát xẩm, múa rối, cồng chiêng, nghệ thuật đương đại, âm nhạc trẻ, xiếc cùng nhiều hoạt động giao lưu, trải nghiệm với các nghệ nhân và nghệ sĩ.
Một điểm nhấn đáng chú ý khác là chương trình trình diễn công nghệ 3D Mapping kết hợp nhạc nước, laser, âm thanh vòm và hiệu ứng ánh sáng trên nền không gian Tháp Rùa, diễn ra vào tối 22/11.
Chương trình tái hiện các giá trị lịch sử, văn hóa và di sản của Thăng Long – Hà Nội bằng ngôn ngữ nghệ thuật kết hợp công nghệ hiện đại, hứa hẹn mang đến những trải nghiệm mới mẻ cho người dân và du khách.
Song song với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, nhiều không gian trưng bày, triển lãm và trải nghiệm văn hóa sẽ được tổ chức tại Quảng trường phía Đông hồ Hoàn Kiếm, Nhà triển lãm 45 Tràng Tiền, Nhà triển lãm 93 Đinh Tiên Hoàng, Trung tâm Văn hóa Hồ Gươm, trụ sở Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Nhà hát Kịch Hà Nội và Nhà hát Múa rối Thăng Long.
Các hoạt động gồm giới thiệu làng nghề truyền thống; trải nghiệm mặc cổ phục; ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR); triển lãm về văn hóa Hà Nội qua các thời kỳ; biểu diễn sân khấu phục vụ nhân dân và tăng cường các suất diễn múa rối nước dành cho du khách.
Không gian sự kiện còn được mở rộng với các điểm check-in và tiểu cảnh nghệ thuật quanh hồ Hoàn Kiếm; khu ẩm thực giới thiệu các món ăn đặc trưng của Hà Nội; khu mua sắm trưng bày, quảng bá sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề, thủ công mỹ nghệ, quà tặng lưu niệm và các sản phẩm văn hóa sáng tạo đặc trưng của Thủ đô.
Bên cạnh các hoạt động tập trung tại khu vực hồ Hoàn Kiếm, trong hai ngày 23 và 24/11 các xã, phường trên địa bàn thành phố sẽ đồng loạt tổ chức nhiều hoạt động hưởng ứng như biểu diễn văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng.
Đồng thời trưng bày, giới thiệu di sản, sản phẩm làng nghề và ẩm thực địa phương; tổ chức trò chơi dân gian cùng các hoạt động trải nghiệm văn hóa truyền thống phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.
Với chuỗi hoạt động phong phú, kết hợp hài hòa giữa các giá trị văn hóa truyền thống và công nghệ hiện đại, "Ngày Văn hóa Việt Nam tại Hà Nội" năm 2026 được kỳ vọng sẽ trở thành sự kiện văn hóa tiêu biểu của Thủ đô.
Từng thu hút sự quan tâm của nhiều người yêu thích thể thao và sinh tồn, câu chuyện của Mauro Prosperi được nhắc lại như một trong những hành trình sống sót kỳ diệu nhất giữa sa mạc Sahara.
Cụ thể, năm 1994, Mauro Prosperi, cựu cảnh sát người Italy và vận động viên năm môn phối hợp, tham gia Marathon des Sables - giải chạy được mệnh danh là khắc nghiệt nhất hành tinh. Cuộc đua dài khoảng 250 km băng qua sa mạc Sahara ở Morocco, nơi nhiệt độ ban ngày có thể vượt 50 độ C và mỗi vận động viên chỉ được cấp lượng nước giới hạn.
Ở chặng đua thứ tư, khi đang nằm trong nhóm dẫn đầu, Prosperi bất ngờ gặp một cơn bão cát dữ dội. Ban tổ chức khuyến cáo các vận động viên dừng lại, nhưng ông quyết định tiếp tục chạy với hy vọng không đánh mất vị trí. Quyết định ấy đã thay đổi cả cuộc đời.
Bão cát kéo dài nhiều giờ, xóa sạch dấu đường và khiến Prosperi mất phương hướng hoàn toàn. Khi bầu trời quang trở lại, trước mắt ông chỉ còn những cồn cát trải dài vô tận. Không còn vạch chỉ đường, không nhìn thấy bất kỳ vận động viên nào, ông hiểu mình đã lạc giữa một trong những vùng đất khắc nghiệt nhất thế giới.
Ban đầu, Prosperi tin rằng lực lượng cứu hộ sẽ nhanh chóng tìm thấy mình. Ông tiết kiệm từng ngụm nước còn sót lại, chờ trực thăng xuất hiện. Khi nghe tiếng động cơ trên bầu trời, ông bắn pháo hiệu và vẫy lá cờ Italy mang theo. Thế nhưng chiếc trực thăng bay ngang mà không hề phát hiện người đàn ông đang tuyệt vọng bên dưới những đụn cát.
Trước khi nước cạn kiệt, Prosperi nhớ lại câu chuyện ông nội từng kể về những người lính phải uống nước tiểu để cầm cự khi bị mắc kẹt trong chiến tranh. Ông làm theo với hy vọng kéo dài sự sống. Khi cơ thể gần như không còn chất lỏng, ông tìm thấy một ngôi đền bỏ hoang, bắt những con dơi trú ngụ bên trong để ăn sống, thậm chí uống cả máu dơi. Ngoài ra, ông còn ăn côn trùng, rễ cây và bất cứ thứ gì có thể nuốt được.
Tình trạng mất nước nghiêm trọng khiến sức khỏe của Prosperi suy kiệt nhanh chóng. Ông liên tục nhìn thấy ảo ảnh, tưởng phía trước là hồ nước hoặc khu dân cư nhưng tất cả đều biến mất khi đến gần.
Có lúc, người đàn ông Italy tin rằng mình không thể sống sót. Trong cơn tuyệt vọng, ông từng tìm cách kết thúc cuộc đời để tránh cái chết đau đớn vì khát. Tuy nhiên, cơ thể đã mất nước quá nhiều đến mức máu không chảy như ông nghĩ. Chính khoảnh khắc đó khiến Prosperi thay đổi suy nghĩ. Ông quyết định, chừng nào còn sống thì vẫn phải tiếp tục bước đi, dù chưa biết phía trước sẽ là gì.
Suốt hơn 9 ngày, Prosperi lê bước gần 300 km qua những cồn cát bỏng rát. Trớ trêu thay, thay vì tiến về khu vực lực lượng cứu hộ đang tìm kiếm, ông lại vô tình băng qua biên giới sang Algeria, khiến việc xác định vị trí của ông càng trở nên khó khăn.
Đến ngày thứ 9, khi cơ thể chỉ còn da bọc xương, Prosperi nhìn thấy những bụi cây đầu tiên rồi bắt gặp một nhóm người du mục. Họ đưa ông đến đồn quân sự gần đó trước khi chuyển tới bệnh viện cấp cứu.
Các bác sĩ cho biết khi được tìm thấy, Prosperi đã sụt khoảng 16 kg, bị suy gan nặng do mất nước và chỉ còn cách cái chết trong gang tấc. Tuy nhiên, sau quá trình điều trị, ông hồi phục hoàn toàn.
Điều đáng kinh ngạc là trải nghiệm cận kề cái chết không khiến Prosperi từ bỏ đam mê. Vài năm sau, ông trở lại tham dự Marathon des Sables và lần này đã hoàn thành cuộc đua. Prosperi nhiều lần chia sẻ, chính những ngày lạc giữa sa mạc Sahara đã thay đổi cách nhìn về cuộc sống, giúp ông trân trọng hơn từng khoảnh khắc mình còn được sống.
Đến nay, câu chuyện của Mauro Prosperi vẫn được xem là một trong những hành trình sinh tồn phi thường nhất lịch sử thể thao sức bền. Giữa sa mạc Sahara khắc nghiệt, nơi điều kiện tự nhiên có thể cướp đi sinh mạng con người chỉ sau ít ngày, ông đã vượt qua giới hạn của cơ thể bằng ý chí bền bỉ, biến 9 ngày lạc giữa biển cát thành biểu tượng về nghị lực và khát vọng sinh tồn.