Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra “điểm gãy” khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là “điểm bao nhiêu” mà là “bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ”. Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ “truyền thụ kiến thức” sang “phát triển năng lực”. Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị “lệch” do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ “đối sánh điểm thi” sang “đối sánh năng lực thực”, từ “xếp hạng” sang “cải thiện chất lượng”.
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là “mũi nhọn”. Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép “đánh đổi” giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.
Các khách mời tại buổi giao lưu về phương pháp học IELTS - Ảnh: V.SAN
Tại buổi giao lưu trực tuyến "Học IELTS thế nào chuẩn bị cho các kỳ thi lớn?" chiều 5-5, các chuyên gia tiếng Anh đã đưa góc nhìn về câu chuyện trên.
TS Đỗ Hữu Nguyên Lộc - Chủ tịch Hội nghiên cứu và Giảng dạy tiếng Anh TP.HCM cho biết: "Để có thể đánh giá một phương pháp học tiếng Anh hiệu quả cho trẻ, phụ huynh có thể dựa vào ba tiêu chí chính như phương pháp đó có phù hợp với lứa tuổi của trẻ hay không (học qua hình ảnh, trò chơi, hoạt động giao tiếp và những tình huống gần gũi…).
Trẻ có cơ hội được nghe nói, diễn đạt bằng tiếng Anh và cuối cùng là cuối cùng là trẻ có tự tin, tiến bộ và có thái độ tích cực hơn với việc học hay không?".
Lớp học đầy tiếng cười tại DOL English - Ảnh: V.SAN
Nói về lợi ích của việc chinh phục sớm tiếng Anh, tiến sĩ Nguyên Lộc cho biết đầu tiên là trẻ sẽ có thêm một "hệ quy chiếu", vốn sống đa dạng hơn để nhìn thế giới xung quanh. Điều này rất quan trọng cho phát triển tư duy ở trẻ nhỏ.
Còn theo NCS Hà Đặng Như Quỳnh, Giám đốc học thuật tại DOL English và đạt 9.0 IELTS, tốt nghiệp á khoa sư phạm Anh (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) thì nhất thiết có lộ trình nền trước khi trẻ học IELTS.
"Chẳng hạn ở DOL English thì trẻ tiểu học (lí tưởng là lớp 4, 5) sẽ được thi xếp lớp để vào chương trình Starters, Movers, Flyers trước khi chuyển tiếp qua IELTS ở đầu cấp hai. Chương trình có những điểm khác biệt rõ rệt như được thiết kế dựa trên phương pháp tư duy Linearthinking.
Học sinh không học kiến thức một cách rời rạc, mà được hướng dẫn để hệ thống hóa kiến thức theo một cách có logic", NCS Như Quỳnh nói.
Sau khi hoàn thành các cấp độ Starters, Movers, Flyers, trẻ có vốn từ vựng, ngữ pháp và mẫu câu giao tiếp đủ tốt để miêu tả những điều quen thuộc xung quanh, các tình huống đời thường.
Theo NCS Như Quỳnh, khi hoàn thành các bước trên và chuyển lên giai đoạn IELTS THCS, trẻ sẽ bắt đầu tiếp cận những chủ đề rộng, mang tính học thuật hơn.
"Với phương pháp Linearthinking, trẻ không chỉ học tiếng Anh mà còn được bồi đắp thêm kiến thức xã hội, tư duy diễn đạt, tư duy phản biện và khả năng hiểu các vấn đề ở mức độ sâu hơn", bà cho biết.
Các gương mặt giáo viên đạt 9.0 IELTS tại DOL English - Ảnh: V.SAN.
Chia sẻ về chương trình học tiếng Anh cho trẻ tiểu học, cấp hai tại DOL English, bà Như Quỳnh cho biết đây là thành quả sau 4 năm nghiên cứu, biên soạn, phát triển của tập thể gần 100 người.
"Vì là người Việt nên chúng tôi hiểu rõ tâm lý, đặc điểm học tập và những lỗi sai phổ biến của người Việt, từ đó thiết kế nội dung gần gũi, phù hợp và hấp dẫn hơn với trẻ.
Điều này không chỉ giúp chương trình Kids và IELTS THCS hiệu quả về mặt học thuật mà còn khơi gợi được đam mê học tiếng Anh ở trẻ.
DOL cũng có hệ thống công nghệ hiện đại kết hợp Trí tuệ nhân tạo để trẻ có thể luyện mọi lúc, mọi nơi", thạc sĩ Đỗ Thị Ngọc Anh (8.5 IELTS, quản lý học thuật tại DOL English) phân tích.
Song song đó, NCS Như Quỳnh cho biết giáo viên ở DOL English phải có phát âm chuẩn vì trẻ nếu nói sai từ nhỏ sẽ rất khó sửa sau này.
Ngoài ra, nhằm mục đích tiết kiệm tối đa chi phí và thời gian cho phụ huynh lẫn trẻ nhỏ, chương trình được thiết kế tinh gọn, học phí phải chăng (dưới 3 triệu đồng/ tháng).
Nhờ phương pháp Linearthinking, bé Trần Đình Hoàng Phúc (10 tuổi) đạt 8.0 IELTS dù học trường tiểu học công lập - Ảnh: V.SAN
"Tôi có tìm hiểu và thấy phương pháp Linearthinking ở DOL English hiệu quả cao, nhiều học sinh tiểu học, cấp hai không chỉ đạt điểm tiếng Anh cao mà các em cũng đồng thời rất hứng thú mỗi khi học ngoại ngữ, đây là điều mà tôi nghĩ bất kì phụ huynh nào cũng mong muốn có. Chính vì vậy tôi đã quyết định để con gái theo học tại đây", TS Nguyên Lộc chia sẻ.
Nhiều học sinh tiểu học, cấp hai đạt thành tích cao sau khóa học ở DOL English - Ảnh: V.SAN.
Bé Phạm Vũ Thiên Di - 12 tuổi, học sinh lớp 6 trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) – cho biết sau thời gian học chương trình IELTS ở DOL English thì vốn tiếng Anh của em cải thiện rõ.
Nói về lý do học IELTS từ sớm, bé Thiên Di cho biết muốn tập trung học giỏi tiếng Anh sớm để từ đó có thể dành thời gian cải thiện các kỹ năng khác, nghe được nhiều loại nhạc, xem nhiều loại phim và đọc được nhiều sách, tiện lợi cho đi du lịch lẫn du học…
Đây không chỉ là một vấn đề quản lý giáo dục đơn thuần, mà phản ánh một thách thức mang tính cấu trúc của đô thị lớn: sự lệch pha giữa tốc độ gia tăng dân số học đường và năng lực đáp ứng của hệ thống trường lớp.
Nếu chỉ nhìn nhận vấn đề dưới góc độ "thiếu phòng học", chúng ta có thể đưa ra giải pháp ngắn hạn nhưng nếu đặt nó trong mối quan hệ với dự báo số trẻ, số học sinh đến trường, thì đây thực chất là một bài toán chiến lược, đòi hỏi tư duy hệ thống và tầm nhìn dài hạn.
Trước hết, cần khẳng định xây dựng thêm trường học để giảm ca học, giảm sĩ số lớp, đáp ứng nhu cầu học của nhóm học sinh di cư tự nhiên trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo điều kiện giáo dục cho tất cả trẻ em… là một mục tiêu đúng đắn và cần thiết.
Tuy nhiên, điều đáng suy nghĩ là vì sao tình trạng thiếu phòng học kéo dài nhiều năm và chưa được giải quyết triệt để? Câu trả lời nằm ở chỗ chúng ta vẫn đang giải bài toán phòng học theo cách "chạy theo nhu cầu", thay vì "đi trước nhu cầu" bằng các công cụ dự báo khoa học.
"Không dự báo thì mọi quy hoạch đều mang tính hồi ứng, không phải dẫn dắt". Kết quả nếu chỉ xây đủ, xây vừa đủ thì việc chạy theo nhu cầu thực tế sẽ mãi là bài toán dài lâu chưa thể giải.
Trong một đô thị năng động như TP.HCM, dân số không chỉ tăng tự nhiên mà còn tăng cơ học do làn sóng nhập cư. Những khu vực có khu công nghiệp, khu chế xuất hay các khu đô thị mới thường chứng kiến sự gia tăng đột biến của trẻ em trong độ tuổi đến trường.
Nếu không có hệ thống dự báo chính xác và cập nhật, việc xây dựng trường học sẽ luôn rơi vào trạng thái bị động: nơi cần thì chưa có, nơi có thì chưa đủ, và khi xây xong thì nhu cầu đã tiếp tục thay đổi. Do đó, phòng học phải bắt đầu từ câu chuyện dự báo.
Dự báo ở đây không chỉ là ước lượng số lượng trẻ em hay học sinh trong tương lai, mà phải là một hệ thống phân tích đa chiều: theo độ tuổi, theo cấp học, theo không gian địa lý và theo biến động dân cư.
Một vấn đề đáng lưu ý là khoảng cách giữa "có dự báo" và "sử dụng dự báo". Trên thực tế nhiều địa phương đã có số liệu về dân số, về trẻ em trong độ tuổi đến trường nhưng việc chuyển hóa các con số đó thành kế hoạch cụ thể vẫn còn chậm.
Dữ liệu tồn tại nhưng chưa trở thành cơ sở cho quyết định. Điều này dẫn đến một nghịch lý: chúng ta biết trước áp lực sẽ đến nhưng vẫn không chuẩn bị đủ để đón nhận.
Bên cạnh yếu tố dự báo cần nhìn nhận phòng học trong mối quan hệ với chất lượng giáo dục. Việc xây thêm trường lớp để giảm tải số học sinh, giảm số ca học nếu có là cần thiết nhưng nếu chỉ dừng lại ở số lượng, chúng ta có thể vô tình tạo ra một hệ thống "đủ chỗ nhưng chưa đủ chất".
Một khía cạnh khác không thể bỏ qua là sự đồng bộ giữa phòng học và đội ngũ giáo viên. Có những nơi xây được trường mới nhưng lại thiếu giáo viên; ngược lại, có nơi đội ngũ dồi dào nhưng cơ sở vật chất không đáp ứng. Điều này cho thấy phòng học chỉ là một phần của bài toán lớn hơn - bài toán về hệ sinh thái giáo dục.
Việc giảm sĩ số học sinh, tăng trường lớp buộc phải dự báo số giáo viên và cả nhu cầu đào tạo bởi đào tạo một giáo viên cần ít nhất 4 năm.
Ngay cả việc sử dụng cơ chế tuyển dụng đột phá cũng cần phải tính toán về đảm bảo chất lượng, tuyển và giữ chân dài lâu, bồi dưỡng phát triển năng lực liên tục, nhất là thích nghi với các yêu cầu chất lượng cao về "làm nghề" để đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố. Nếu không giải quyết đồng thời các yếu tố liên quan, việc tăng số phòng học cũng khó mang lại hiệu quả như mong đợi.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích xu hướng dân số và nhu cầu học tập là hoàn toàn khả thi.
Khi đó, dự báo không còn là những con số tĩnh, mà là một quá trình động, được cập nhật liên tục và phản ánh sát thực tế nhất là cần thỏa mãn các "thông số" định hướng phát triển giáo dục cũng như "gia tốc" phát triển về sức khỏe, tâm lý của học sinh thành phố.
Một điểm quan trọng khác là cần thay đổi cách tiếp cận trong đầu tư. Thay vì tập trung dồn lực để giải quyết các "điểm nóng" khi đã quá tải, cần có cơ chế đầu tư sớm, đi trước một bước. Điều này có thể gặp khó khăn về nguồn lực trong ngắn hạn, nhưng sẽ giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả trong dài hạn.
Không thể không nhắc đến vai trò của giáo dục ngoài công lập trong việc giảm áp lực phòng học.
Cần nhìn nhận linh hoạt rằng chúng ta vẫn rất cần giáo dục ngoài công lập nhưng nếu chúng ta đầu tư nhiều phòng lớp cho giáo dục công lập thì giáo dục ngoài công lập phải vận hành mới, phát triển mới với các điều kiện tốt, mô hình hiện đại và các thành tựu giáo dục không ngừng vượt trội.
Sự phát triển của khu vực này cũng cần được đặt trong quy hoạch tổng thể, tránh tình trạng phân bố không đồng đều hoặc chênh lệch quá lớn về chất lượng. Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo quyền học tập phổ cập, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở ngoài công lập phát triển theo định hướng chung.
Có thể thấy rằng phòng học chỉ là "phần nổi" của một bài toán sâu hơn. Đó là bài toán về cách chúng ta nhìn nhận và quản lý sự phát triển của hệ thống giáo dục và cả văn hóa xã hội trong một đô thị lớn.
Nếu chỉ tập trung vào việc xây dựng thêm phòng học, chúng ta có thể giải quyết được vấn đề trước mắt; nhưng nếu muốn xây dựng một hệ thống giáo dục bền vững thì cần bắt đầu từ nền tảng: dự báo chính xác số trẻ, số học sinh đến trường.
Mỗi phòng học được xây dựng hôm nay không chỉ phục vụ cho hiện tại mà còn là một cam kết cho tương lai.
Kết thúc giờ làm bài môn Tiếng Anh chiều 1/6, nhiều thí sinh ở điểm thi THPT Trưng Vương, THCS Võ Trường Toản, phường Sài Gòn, tự tin lấy điểm 9, 10 vì đánh giá đề thi "dễ thở".
Trái với tâm trạng lạc quan này, các giáo viên Tiếng Anh cho rằng phổ điểm vẫn tập trung khoảng 7-8, khó có "mưa điểm 10".
"Đề nhìn qua có vẻ dễ nhưng quá trình làm bài, thí sinh dễ mất điểm nếu chủ quan, không cẩn thận", cô Bùi Thùy Dương, giáo viên Tiếng Anh, trường THCS Trần Văn Ơn, nói.
Cô Dương cho biết đề có 28 câu trắc nghiệm, chiếm 70% dung lượng, đúng cấu trúc được công bố từ đầu năm học. Các câu hỏi hướng đến tính ứng dụng, vận dụng ngôn ngữ vào thực tiễn cuộc sống, tránh học thuộc lòng. Nhiều câu đề cập công nghệ, thể thao, giao tiếp hàng ngày - quen thuộc với học trò.
Còn cô Trần Thị Thanh Hòa, giáo viên trường THCS Quang Trung, cho biết các điểm ngữ pháp, phát âm, nhấn trọng âm, giới từ và từ vựng trong đề đều là những nội dung cơ bản. Học sinh đã được ôn tập kỹ lưỡng và có thể dễ dàng hoàn thành.
Cô Dương và cô Hòa đánh giá 16 câu trắc nghiệm đầu tiên ở mức độ nhận biết và thông hiểu, thí sinh dễ "ẵm" trọn điểm, ngay cả những em có học lực trung bình.
Độ khó bắt đầu tăng dần từ câu 17. Phần đọc hiểu để chọn từ phù hợp điền vào chỗ trống (câu 17-22) và đúng sai (câu 23-26) không quá khó nhưng đòi hỏi thí sinh có kỹ năng đọc, nắm được mạch văn để chọn từ phù hợp và ý đúng. Phần tìm dạng đúng của từ và viết lại câu (câu 29-40) có độ khó cao hơn, nhằm phân loại những em giỏi.
Chung nhận định, cô Phạm Thị Xuân Oanh, Tổ trưởng môn Tiếng Anh, trường THCS Lê Văn Tám, cho rằng nhiều em vội vàng, dễ mắc lỗi ở phần dạng của từ vì phải phân tích kỹ danh, động hay trạng từ. Đặc biệt, câu 40 yêu cầu chuyển danh từ "practicality" sang tính từ "practical" là yêu cầu khó, chỉ những em rất giỏi mới làm được.
Còn cô Hòa đánh giá thí sinh có thể lấy được điểm 9 trở lên hay không phụ thuộc 3 câu cuối phần viết lại câu và hai câu phân biệt đúng/sai (24, 25). Đây là 5 câu thí sinh dễ gặp sai sót hoặc phán đoán sai.
"Độ khó của đề được điều chỉnh nhẹ nhàng hơn để phù hợp với lứa thí sinh đầu tiên sau sáp nhập nhưng vẫn có nhiều câu phân hóa cực cao", cô Oanh nói.
Cả 3 giáo viên nhìn nhận nếu làm bài cẩn thận, thí sinh khu vực TP HCM dễ lấy điểm 7-8 còn hai khu vực còn lại có thể tập trung ở mức 6-7. Số lượng bài thi đạt điểm 9, 10 có thể tăng nhưng không đáng kể.
Năm ngoái, trước sáp nhập, khoảng 31,5% bài thi tiếng Anh của học sinh khu vực TP HCM dưới trung bình. Mức điểm phổ biến của thí sinh khoảng 5,75-8,25 điểm. Trong hơn 76.000 thí sinh, chỉ 488 em đạt điểm tuyệt đối.
Kết thúc ngày thi đầu tiên với môn Văn và Tiếng Anh, sáng 2/6, thí sinh tiếp tục với môn Toán trong 120 phút. Buổi chiều, những em có nguyện vọng vào khối chuyên sẽ làm thêm bài môn chuyên tương ứng, dài 150 phút.