Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra “điểm gãy” khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là “điểm bao nhiêu” mà là “bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ”. Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ “truyền thụ kiến thức” sang “phát triển năng lực”. Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị “lệch” do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ “đối sánh điểm thi” sang “đối sánh năng lực thực”, từ “xếp hạng” sang “cải thiện chất lượng”.
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là “mũi nhọn”. Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép “đánh đổi” giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ngày 16/4 cho biết đây là giải thưởng uy tín từ Quỹ Alexander von Humboldt, nhằm tôn vinh những nhà khoa học ngoài nước Đức, có thành tựu nghiên cứu xuất sắc.
Giải được trao tối đa cho 100 người mỗi năm ở nhiều lĩnh vực, mỗi giải trị giá 80.000 euro (gần 2,5 tỷ đồng). Người giành giải sẽ được mời sang Đức hợp tác nghiên cứu với các đối tác khoa học hàng đầu.
Theo thông báo của Quỹ Alexander von Humboldt, GS Phùng Hồ Hải, được trao giải trên cơ sở đề cử của GS Christopher Deninger, nhà toán học ở Đại học Münster, Đức.
GS Phùng Hồ Hải, 56 tuổi, là chuyên gia trong lĩnh vực đại số và hình học đại số. Ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Lomonosov (Nga), bảo vệ tiến sĩ tại Đại học Munich (Đức) và tiến sĩ khoa học tại Đại học Duisburg-Essen (Đức).
Trong quá trình nghiên cứu, ông Hải tập trung vào các lĩnh vực như nhóm lượng tử, đại số Hopf và lý thuyết phạm trù, với nhiều công trình được công bố trên các tạp chí toán học quốc tế. Năm 2006, ông từng được trao Giải thưởng Von Kaven của Quỹ Nghiên cứu khoa học Đức (DFG).
Ngoài ra, ông tích cực tham gia đào tạo, phát triển đội ngũ toán học trẻ và thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế. Ông từng làm việc, giảng dạy tại nhiều cơ sở nghiên cứu uy tín ở Đức và các nước, trước khi trở về Việt Nam.
Năm 2012, ông được đặc cách công nhận chức danh giáo sư, là người Việt Nam đầu tiên được bầu làm Thành viên trẻ của Viện Hàn lâm khoa học thế giới (TWAS).
Ông giữ chức Viện trưởng Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giai đoạn 2017-2022, kiêm Tổng Thư ký Hội Toán học Việt Nam.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhìn nhận việc GS Phùng Hồ Hải được trao Giải thưởng Nghiên cứu Humboldt khẳng định vị thế ngày càng được nâng cao của khoa học cơ bản Việt Nam trên trường quốc tế, mở ra những cơ hội hợp tác nghiên cứu sâu rộng hơn giữa Việt Nam và Đức.
Quỹ Alexander von Humboldt được thành lập năm 1860, mang tên nhà thám hiểm và nhà khoa học lỗi lạc người Đức. Đây là tổ chức phi lợi nhuận nổi tiếng của Đức, chuyên thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế và trao đổi kiến thức.
Đào tạo tiến sĩ là bậc học cao nhất cấp bằng tốt nghiệp trong hệ thống cơ sở đào tạo ĐH. Bậc học này đang được đào tạo tập trung ở nhóm trường nào, học phí cao tới mức nào trong bối cảnh học phí ngày càng tăng như hiện nay?
Cuối tháng 3 vừa qua, ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học quốc gia "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học xã hội và nhân văn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 14, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới". Tại đây, thông tin được ĐH Quốc gia TP.HCM công bố cho thấy cả nước hiện có hơn 95.300 giảng viên nhưng số giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và tương đương chỉ đạt khoảng 33%. Riêng lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, giảng viên chủ yếu là thạc sĩ.
Một thống kê khác của Bộ GD-ĐT cho thấy, năm học 2019 - 2020 tổng chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo trình độ tiến sĩ do các cơ sở đào tạo xác định là 5.111, tuy nhiên toàn hệ thống chỉ tuyển được 1.274 nghiên cứu sinh (tương đương 24,93% so với tổng chỉ tiêu đã xác định). Đến năm học 2020 - 2021, chỉ tiêu đào tạo trình độ tiến sĩ là 5.056 và tuyển được 1.735 (34,32%).
Thống kê này cũng cho thấy quy mô đào tạo tiến sĩ những năm gần đây có xu hướng tăng nhưng vẫn ở mức thấp so với trước năm 2017. Đáng chú ý, năm 2022 quy mô đào tạo tiến sĩ của cả nước chỉ trên 9.000 người, năm 2024 tăng lên mức trên 11.000 người nhưng vẫn chưa đạt mức gần 15.000 người của thời điểm năm 2017.
Năm 2026, nhiều trường ĐH đã ban hành thông báo tuyển sinh đào tạo bậc tiến sĩ. Trong đó, các trường tuyển sinh bậc học này tập trung nhóm các trường công lập, trường đào tạo 20 - 30 ngành nhưng có trường chỉ tuyển sinh vài ngành. Chẳng hạn, Trường ĐH Y dược TP.HCM tuyển sinh 334 chỉ tiêu cho 23 ngành trình độ tiến sĩ năm 2026. Thời gian đào tạo 3 năm đối với trình độ đầu vào của người học có bằng thạc sĩ hoặc bác sĩ nội trú hoặc chuyên khoa cấp 2; 4 năm đối với trình độ đầu vào của người học có bằng tốt nghiệp ĐH. Năm 2026, Trường ĐH Bách khoa TP.HCM cũng thông báo tuyển sinh 32 ngành đào tạo bậc tiến sĩ và 135 chỉ tiêu, thời gian đào tạo trong 3 năm.
Nhiều trường công lập khác chỉ tuyển sinh đào tạo tiến sĩ vài ngành. Ví dụ, Trường ĐH Công nghệ thông tin TP.HCM năm nay có 40 chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ với 2 ngành: công nghệ thông tin và khoa học máy tính.
Ở hệ thống trường tư thục, nhiều trường hiện chưa đào tạo bậc tiến sĩ. Một số trường, số lượng ngành đào tạo tiến sĩ cũng ở mức thấp. Trường ĐH Văn Lang có chương trình tiến sĩ ngành khoa học môi trường, thời gian đào tạo 3 năm với người có bằng thạc sĩ và 4 năm với người có bằng ĐH loại giỏi trở lên. Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng thông báo tuyển sinh 3 ngành trình độ tiến sĩ gồm: quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng và Việt Nam học. Trường ĐH Nguyễn Tất Thành tuyển sinh 4 ngành trình độ tiến sĩ trong năm 2025...
Nghị định số 238/2025 có hiệu lực từ ngày 3.9.2025 của Chính phủ quy định về khung học phí các bậc học từ năm học 2025 - 2026 trở đi. Trong đó, mức trần học phí đối với đào tạo tiến sĩ của các cơ sở giáo dục ĐH công lập được xác định bằng mức trần học phí đào tạo ĐH nhân hệ số 2,5 tương ứng với từng khối ngành đào tạo của từng năm học theo các mức độ tự chủ. Học phí bậc đào tạo tiến sĩ tại các trường tư thục do các trường quyết định dựa trên cơ sở đảm bảo chất lượng đào tạo, chi phí vận hành và cơ sở vật chất.
Theo quy định này, học phí bậc đào tạo tiến sĩ có nhiều mức khác nhau tùy ngành học, loại hình trường. Năm học 2025 - 2026, Trường ĐH Tôn Đức Thắng thu học phí chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ theo niên chế. Học phí đóng theo từng học kỳ từ thời điểm nghiên cứu sinh nhập học đến khi tốt nghiệp. Mức học phí theo năm học của chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ 66,55 triệu đồng/năm.
Trường ĐH Luật TP.HCM công bố học phí đào tạo tiến sĩ luật khóa 22 (2025 - 2028) dự kiến từng năm gồm: 59.625.000 đồng năm thứ nhất, 67.125.000 đồng năm thứ 2 và 75.570.000 đồng năm cuối. Tổng học phí dự kiến toàn khóa học ở mức trên 200 triệu đồng.
Trường ĐH Y dược TP.HCM thu học phí năm học 2025 - 2026 của học viên trình độ tiến sĩ ở mức 80 triệu đồng/năm với các ngành của Trường Y, Trường Dược và khoa Răng - Hàm - Mặt; 64 triệu đồng/năm với các ngành thuộc khoa Y học cổ truyền, Trường Điều dưỡng - Kỹ thuật y học; 55 triệu đồng/năm với khoa Y tế công cộng.
Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch thu học phí nghiên cứu sinh năm học 2025 - 2026 ở mức 84 triệu đồng/năm.
Trong hệ thống ĐH Quốc gia TP.HCM, Trường ĐH Bách khoa TP.HCM dự kiến học phí năm học 2026 - 2027 là 63 triệu đồng/năm và tăng lên mức 67 triệu đồng/năm vào năm học 2027 - 2028. Như vậy, học phí của nghiên cứu sinh hoàn tất chương trình trong thời gian tiêu chuẩn khoảng trên dưới 200 triệu đồng.
Trường ĐH Công nghệ thông tin TP.HCM có mức thu học phí áp dụng cho năm thứ nhất ở mức 50 triệu đồng, các năm tiếp theo ở mức 53 và 56 triệu đồng. Trường ĐH Kinh tế - Luật thông báo mức thu học phí trình độ tiến sĩ năm 2025 gồm 6 học kỳ (2 học kỳ/năm), trung bình thu 27,4 triệu đồng/kỳ. Tính toàn khóa 6 học kỳ, nghiên cứu sinh cần đóng trên 160 triệu đồng. Với khóa tuyển sinh năm 2026, học phí dự kiến tăng nhẹ lên mức 59 triệu đồng/năm.
Năm học 2025 - 2026, học phí đào tạo tiến sĩ của Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM ở mức trên 66,4 triệu đồng/năm (với người VN) và trên 73,3 triệu đồng/năm (với người nước ngoài). Học phí có thể được điều chỉnh hằng năm nhưng không vượt quá 15% so với năm trước. Lý do điều chỉnh học phí được trường nêu ra nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và chương trình đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị, tăng chi phí vận hành và quản lý, phát triển các dịch vụ hỗ trợ người học, đáp ứng yêu cầu về định hướng tự chủ tài chính. Ngoài ra, để duy trì chất lượng đào tạo, trường cần điều chỉnh học phí phù hợp với mức trượt giá hằng năm.
Ở nhóm trường tư thục, học phí cũng có mức tương tự hoặc cao hơn không đáng kể. Trường ĐH Văn Lang công bố học phí toàn khóa ở mức 145 triệu đồng, trong đó năm thứ nhất thu 50 triệu đồng, năm thứ hai 45 triệu đồng và năm cuối 50 triệu đồng. Trường ĐH Nguyễn Tất Thành thu học phí toàn khóa với nghiên cứu sinh chương trình 3 năm dao động từ 180 - 195 triệu đồng; chương trình 4 năm học phí từ 240 - 260 triệu đồng. Học phí chương trình đào tạo tiến sĩ tại Trường ĐH Công nghệ TP.HCM hiện nay ở mức 210 triệu đồng/khóa học/90 tín chỉ. Học phí Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng ở mức 44 triệu đồng/học kỳ…
Theo công bố của các trường ĐH, ngoài học phí, nghiên cứu sinh cần nộp thêm lệ phí xét tuyển đầu vào theo mức khác nhau tùy trường.
Đến cuối tháng 4, 25 trong 35 trường đại học đào tạo Y khoa đã công bố tổ hợp xét tuyển năm 2026.
Trong đó, các trường Đại học Y Hà Nội, Y Dược TP HCM, Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Y Dược Cần Thơ chỉ xét điểm thi tốt nghiệp THPT theo khối B00 (Toán, Hóa, Sinh). Còn lại, các trường sử dụng 3-12 tổ hợp, cá biệt có trường dùng điểm môn Ngoại ngữ với 7 thứ tiếng.
Ngoài B00 cùng một số tổ hợp phổ biến như A00 (Toán, Lý, Hóa), D08 (Toán, Sinh, Anh), 10 trường sử dụng các tổ hợp chứa Văn, Sử hoặc Giáo dục kinh tế và pháp luật, Tin học hay Công nghệ.
Dù vậy, hai môn Toán - Hóa, Toán - Sinh hoặc Toán - Lý là bắt buộc, có trường đặt thêm điều kiện về môn Sinh học ở bậc THPT để đảm bảo thí sinh phù hợp học ngành Y khoa.
Năm ngoái, khi một số trường sử dụng các tổ hợp "lạ" để xét tuyển ngành Y khoa, ví dụ D01 (Toán, Văn, Anh), nhiều chuyên gia và bác sĩ đã cảnh báo về chất lượng đào tạo, cho rằng các tổ hợp cần có Toán, Hóa, Sinh bởi đây là kiến thức nền tảng sinh viên theo ngành này phải có.
Danh sách tổ hợp xét tuyển ngành Y khoa năm 2026 của các trường Y phía Bắc, tính đến ngày 29/4:
Theo Quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường có thể tự chọn môn trong tổ hợp xét tuyển, miễn là mỗi tổ hợp có tối đa ba bài thi, trong đó có Toán hoặc Văn.
Năm ngoái, Bộ đã phải yêu cầu các trường dùng tổ hợp xét tuyển không có môn nền tảng, liên quan đến ngành học phải giải trình căn cứ khoa học, thực tiễn. Một số trường sau đó đã điều chỉnh.