Ở môn thi đầu tiên, thí sinh làm bài thi môn ngữ văn – một trong ba môn thi bắt buộc của kỳ thi tuyển sinh lớp 10 công lập tại TPHCM. Thời gian làm bài 120 phút. Đề thi được phát lúc 7h55 và thí sinh bắt đầu làm bài từ 8h.
Theo cấu trúc tuyển sinh được Sở GD&ĐT TPHCM công bố, đề thi môn ngữ văn gồm hai phần với tổng điểm 10.
Phần 1 chiếm 5 điểm, gồm đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn. Trong đó, câu đọc hiểu được tính 3 điểm, câu viết đoạn văn chiếm 2 điểm.
Phần 2 chiếm 5 điểm còn lại, gồm đọc hiểu văn bản nghị luận hoặc văn bản thông tin và viết bài văn nghị luận xã hội. Ở phần này, câu đọc hiểu được tính 1 điểm, bài văn nghị luận xã hội được tính 4 điểm.
Theo Sở GD&ĐT TPHCM, đề thi được xây dựng theo định hướng tích hợp giữa đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực viết của học sinh. Nội dung phần viết có liên quan đến văn bản ở phần đọc hiểu nhằm đánh giá khả năng tiếp nhận, phân tích và vận dụng thông tin của thí sinh.
Căn cứ đánh giá chủ yếu dựa trên các yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đối với môn ngữ văn cấp THCS, tập trung vào kiến thức và kỹ năng ở lớp 8 và lớp 9.
Năm học 2025-2026, TPHCM có gần 170.000 học sinh lớp 9 hoàn thành chương trình THCS. Trong số này, 151.269 thí sinh đăng ký dự thi tuyển sinh vào lớp 10 các trường THPT công lập.
Đây là số lượng thí sinh dự thi cao nhất kể từ khi thành phố tổ chức kỳ thi tuyển sinh lớp 10.
Để đáp ứng quy mô của kỳ thi lớp 10 đầu tiên sau sáp nhập, Sở GD&ĐT TPHCM bố trí 242 điểm thi với tổng cộng 6.443 phòng thi trên địa bàn thành phố. Đồng thời, gần 18.000 cán bộ, giáo viên và nhân viên được huy động tham gia công tác coi thi, giám sát và phục vụ kỳ thi.
Đối với đội ngũ tham gia tổ chức thi, Sở yêu cầu quán triệt nguyên tắc “4 đúng”, gồm đúng quy chế, đúng quy trình, đúng thời gian và đúng trách nhiệm.
Bên cạnh đó là yêu cầu thực hiện “3 không”, gồm không lơ là chủ quan, không căng thẳng quá mức và không tự ý xử lý các tình huống phát sinh.
Sở GD&ĐT TPHCM ghi nhận 15 thí sinh tại 13 điểm thi có hoàn cảnh hoặc tình huống đặc biệt cần được hỗ trợ. Trong đó, 11 trường hợp được bố trí phòng thi riêng do liên quan đến tình trạng sức khỏe, nhằm đảm bảo điều kiện dự thi cho các em theo đúng quy định.
Năm nay, các trường THPT công lập trên địa bàn TPHCM tuyển khoảng 118.500 học sinh vào lớp 10. So với số lượng thí sinh đăng ký dự thi, khoảng 78% thí sinh sẽ có cơ hội trúng tuyển vào các trường công lập.
Sau khi hoàn thành bài thi môn ngữ văn trong sáng 1/6, các thí sinh sẽ tiếp tục dự thi môn ngoại ngữ vào chiều cùng ngày với thời gian làm bài 90 phút.
Sáng 2/6, thí sinh sẽ dự thi môn toán – môn thi cuối cùng trong ba môn bắt buộc của kỳ thi tuyển sinh lớp 10.
Đối với những thí sinh đăng ký dự tuyển vào các lớp chuyên hoặc lớp tích hợp, các em sẽ tiếp tục tham gia bài thi môn chuyên hoặc môn tích hợp tương ứng vào chiều 2/6.
Lịch thi lớp 10 cụ thể tại TPHCM:
Theo quy định tuyển sinh, điểm xét tuyển vào lớp 10 được tính bằng tổng điểm của ba bài thi gồm ngữ văn, toán và ngoại ngữ, cộng với điểm ưu tiên và điểm khuyến khích (nếu có).
Điều kiện để được đưa vào diện xét tuyển là thí sinh phải tham gia đầy đủ các bài thi theo quy định và không có bài thi nào bị điểm 0.
Sau khi kỳ thi kết thúc, từ ngày 3/6 đến ngày 9/6, Sở GD&ĐT TPHCM sẽ tổ chức chấm thi, tổng kết công tác chấm thi và thực hiện đối sánh kết quả. Sau giai đoạn này, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10 của các trường THPT công lập cũng như kế hoạch tuyển bổ sung (nếu có).
Dân trí sẽ cập nhật đề thi và đáp án gợi ý các môn thi vào lớp 10 tại TPHCM ngay sau khi môn thi kết thúc.
Mời bạn đọc theo dõi đề thi và đáp án tuyển sinh lớp 10 năm 2026 của tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh, thành khác được cập nhật liên tục tại: Đề thi và đáp án thi lớp 10 năm 2026 của tất cả 34 tỉnh, thành.
Đây là các nội dung hợp tác giai đoạn 2026 - 2031 mà hai trường thống nhất, chiều 15/5.
Năm hướng chính gồm: Đột phá trong đào tạo và phát triển chương trình; Nâng tầm nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế; Trao đổi giảng viên và sinh viên – Công nhận tín chỉ lẫn nhau; Chuyển đổi số và chia sẻ học liệu; Kết nối cộng đồng và thi đấu học thuật.
Như vậy, sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội và trường Đại học Luật TP HCM sẽ được trải nghiệm môi trường học tập ở cả hai miền, được công nhận tín chỉ. Các sân chơi học thuật quy mô lớn như Phiên tòa giả định cũng được chú trọng.
Trong cả nước, số trường công nhận tín chỉ của nhau chưa nhiều, chủ yếu ở khối ngành Kinh tế.
Ngoài ra, lãnh đạo hai trường nhìn nhận việc hợp tác giúp tận dụng lợi thế mỗi bên để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhằm xây dựng ULAW và HLU thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật theo quyết định của Chính phủ.
Đại học Luật TP HCM và Hà Nội là hai trường có lịch sử và quy mô đào tạo ngành Luật lớn nhất nước.
ULAW thành lập năm 1976, tiền thân là trường Cán bộ Tư pháp Miền Nam. Trường thuộc quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hơn 11.500 sinh viên, hơn 300 giảng viên.
Còn HLU thành lập năm 1979, trực thuộc Bộ Tư pháp, quy mô khoảng 17.000 sinh viên, hơn 500 giảng viên, nhân viên.
Suốt hai năm nay, trừ những kỳ nghỉ lễ kéo dài như Tết Nguyên đán, tháng nào trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cũng xét và cấp bằng cho ít nhất 16 sinh viên, nhiều nhất hơn 2.300 em.
"Nếu chỉ 1-2 sinh viên có nhu cầu, nhà trường vẫn tổ chức", PGS. TS Nguyễn Văn Thụ, Trưởng phòng Đào tạo, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, nói.
Cách làm này thuộc diện hiếm, bởi các trường đại học thường có 1-4 đợt xét tốt nghiệp mỗi năm, phổ biến là hai đợt.
Ông Thụ cho biết lý do là lịch tuyển dụng của các cơ quan khác nhau. Cụ thể là ngành Sư phạm, mỗi tỉnh, thành hay trường học có lịch riêng theo nhu cầu chứ không cố định.
"Việc cấp bằng tốt nghiệp kịp thời giúp sinh viên có thể nộp hồ sơ tuyển dụng ngay", ông Thụ đánh giá. Bên cạnh đó, sinh viên có nguyện vọng học lên thạc sĩ, tiến sĩ cũng kịp thời tham gia xét tuyển.
Nguyễn Phúc Sơn, giáo viên tại Tây Ninh, tốt nghiệp xuất sắc ngành Sư phạm Tiếng Anh, năm ngoái, cho biết nộp hồ sơ xét tốt nghiệp vào tháng 9 thì đến tháng 10 nhận được chứng nhận tốt nghiệp tạm thời. Một tháng sau, Sơn có bằng chính thức.
Nếu đợi nhận bằng vào lễ tốt nghiệp, nam sinh có thể phải chờ thêm 7 tháng nữa, sang tháng 6 của năm sau. Nhờ sự linh hoạt trong xét và cấp bằng tốt nghiệp của trường, Sơn thuận lợi rải đơn xin việc.
Theo ông Thụ, dù thuận lợi nhưng cách làm trên khiến thầy cô vất vả hơn khi phải "gánh" thêm nhiều việc. Mỗi tháng, trường đều phải thành lập hội đồng xét tốt nghiệp để rà soát các điều kiện, xét các chuẩn đầu ra...
"Các dữ liệu phải cập nhật liên tục, đảm bảo chính xác tuyệt đối, kịp tiến độ xét tốt nghiệp hàng tháng", ông Thụ nói.
Động lực của trường là những phản hồi tích cực từ phụ huynh và sinh viên. Ông Thụ kể có phụ huynh đến trường để cảm ơn, ôm chầm lấy hiệu trưởng khi gặp ở sân trường. Có người mẹ mắc bệnh hiểm nghèo, mong mỏi được nhìn thấy bằng tốt nghiệp đại học của con trước khi mất.
"Việc nhận bằng kịp thời giúp sinh viên thực hiện được mong muốn, phụ huynh rất cảm động", ông chia sẻ.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là một trong các trường đào tạo giáo viên chủ chốt của cả nước. Ngoài khối ngành này, trường có một số ngành ngôn ngữ, kỹ thuật, công nghệ thông tin, mỗi năm khoảng 1.000-3.000 sinh viên tốt nghiệp.
Số liệu được công bố tại hội thảo "Kiến tạo trường đại học hạnh phúc tại Việt Nam: Từ tầm nhìn đến hành động" do trường Đại học Đại Nam chủ trì, ngày 22/5.
Theo khảo sát với khoảng 9.200 sinh viên ở hơn 10 đại học, chủ yếu tại Hà Nội, cứ 10 sinh viên thì 3 em thừa nhận đang chịu áp lực khá cao đến rất cao. Xét theo tỷ lệ, có hơn 80% sinh viên thấy có áp lực hiện hữu, chỉ gần 20% thấy ít hoặc không áp lực gì.
40% người trả lời không tự quyết định ngành học, chỉ chọn theo lời bố mẹ hoặc không có định hướng rõ ràng. Kết quả là 33% "đang phân vân" việc chọn lại hoặc đổi ngành học và 8% cho biết chắc chắn sẽ chọn ngành khác.
Với câu hỏi có tự tin xin được việc làm sau khi ra trường hay không, có gần 100 sinh viên (chiếm 1%) chấm điểm 0/10, thể hiện rất mông lung, lo lắng cho tương lai. Hơn 15% sinh viên khác chấm từ 5 điểm trở xuống.
Theo các chuyên gia, các số liệu trên bắt nguồn từ việc sinh viên chưa cảm thấy hạnh phúc và chưa được học tập trong môi trường thực sự hạnh phúc.
TS Lê Đắc Sơn, Chủ tịch hội đồng trường Đại học Đại Nam, cho rằng hạnh phúc không nằm ở những giá trị "dễ chịu ngắn hạn" như học nhẹ, thi dễ, điểm cao hay né tránh áp lực.
Theo ông, đại học hạnh phúc phải làm cho ba chủ thể cùng hạnh phúc, gồm: giảng viên, sinh viên, nhà đầu tư. Với sinh viên, điều này đồng nghĩa với được trang bị đầy đủ năng lực, đảm bảo có việc làm và tự tin bước vào đời.
Trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt với sự phát triển của AI, ông Sơn nhấn mạnh năng lực cần tập trung trang bị cho sinh viên là tư duy, sáng tạo, tinh thần học tập liên tục và khả năng hợp tác với AI.
GS. TS Nguyễn Văn Nội, Chủ tịch Hội các Phòng thử nghiệm Việt Nam, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, đồng tình. Để làm được điều này, các trường cần tăng tính thực chiến. Còn nếu một giáo trình, bài giảng 3-4 năm không được cập nhật, đặc biệt trong thời đại công nghệ AI, Blockchain đang bùng nổ mạnh mẽ, thì giá trị, chất lượng chắc chắn bị giảm nghiêm trọng.
"Khi đó, tất cả kiến thức được truyền thụ nhanh chóng trở nên lỗi thời, chỉ còn là những mớ kinh nghiệm cũ kỹ", ông Nội nói. "Việc mang kiến thức đó ra phục vụ xã hội, phục vụ cộng đồng sẽ bị hạn chế rất nhiều".
GS. TS Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch Hội đồng quản lý Trung tâm Nghiên cứu, Giáo dục Môi trường và Phát triển, nhắc đến hai yếu tố cốt lõi các trường cần trang bị cho sinh viên là khả năng tự học suốt đời và xây dựng tư duy phản biện.
Ông Ninh phân tích AI cũng đang tự phản biện qua các thuật toán để giảm thiểu sai số. Do đó, người học cần luôn giữ tư duy phản biện, biết chấp nhận kết quả "âm tính" như một bài học để tìm ra hướng đi "dương tính".
Chuyên gia này nhấn mạnh giá trị lớn nhất của giáo dục thế kỷ 21 không nằm ở việc ghi nhớ bao nhiêu kiến thức, mà nằm ở năng lực học cái mới, kết nối tri thức, biết làm việc với AI và thích nghi với những thay đổi chưa từng có.
"Một đại học tốt không phải là nơi tạo ra những người thợ thi cử, mà phải đào tạo ra những con người đủ năng lực thích ứng với tương lai, trong khi vẫn giữ được nhân cách, sự sáng tạo và niềm hạnh phúc", ông Ninh nói.