Trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện cuộc đại cách mạng về tổ chức bộ máy, sắp xếp và sáp nhập các đơn vị hành chính, quy chuẩn “đoàn kết” và “thanh khiết” của Người chính là thước đo để soi chiếu, chỉnh đốn bản lĩnh của toàn thể cán bộ, đảng viên từ cơ sở đến Trung ương.
Nền tảng của một thể chế chính trị mạnh không nằm ở quy mô cồng kềnh của bộ máy, mà nằm ở độ tinh gọn, tính hiệu năng của cấu trúc và đặc biệt là chất lượng nhân sự vận hành cấu trúc đó.
Hai từ khóa “đoàn kết” và “thanh khiết” gắn kết chặt chẽ như hình với bóng, là điều kiện tiên quyết quyết định sự thành bại của mọi chủ trương, đường lối, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang dũng cảm đối diện với bài toán tinh gọn bộ máy hậu sáp nhập.
Nhằm đạt được mục tiêu cốt lõi là xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và tối ưu hóa nguồn lực công, việc sắp xếp các đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là bước đi hoàn toàn khách quan và cần thiết.
Dù vậy, hiệu quả của công cuộc này không thể chỉ đo đếm bằng các chỉ số mang tính cơ học như số lượng phòng ban giảm, biển tên mới được treo hay danh sách nhân sự được gộp lại trên giấy tờ.
Thử thách thực chất và phức tạp hơn nằm ở giai đoạn hậu sáp nhập: Kiến tạo một môi trường làm việc hòa hợp, xây dựng khối đoàn kết nội bộ vững chắc, đảm bảo bộ máy mới không chỉ giảm về đầu mối mà phải thực sự mạnh về chất lượng.
Thực tiễn tại không ít địa phương sau sáp nhập đã và đang phát sinh những rào cản nội tại mang tính tâm lý sâu sắc. Đó là hội chứng “cục bộ địa phương” ngấm ngầm diễn ra, khi cán bộ vẫn vô tình hay hữu ý phân chia ranh giới theo kiểu “người của huyện cũ A”, “người của xã cũ B”.
Sự khác biệt về thói quen quản lý, văn hóa làm việc, hay những va chạm lợi ích trong quá trình sắp xếp, bố trí lại các vị trí chủ chốt dễ dẫn đến tâm lý nghe ngóng, phòng thủ, thậm chí là “bằng mặt nhưng không bằng lòng”.
Khi “cái tôi cục bộ” chưa được gột rửa, dòng chảy năng lượng của bộ máy mới sẽ bị nghẽn lại, tạo ra những lực cản vô hình làm suy giảm sức chiến đấu của tổ chức Đảng.
Nhìn lại tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cầm quyền, Người coi đoàn kết không phải là một khẩu hiệu ngoại giao hay sự thỏa hiệp mang tính hình thức. Đoàn kết phải là một thực thể sống, được xây dựng trên nền tảng của lý tưởng cách mạng, của nguyên tắc tập trung dân chủ, tinh thần tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, thẳng thắn, và trên hết là tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.
Trong một tổ chức Đảng sau sáp nhập, nếu các đảng viên thực hiện tự phê bình và phê bình theo kiểu nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý” vì sợ mất lòng đồng nghiệp mới, hoặc ngược lại, mượn diễn đàn để đả kích, hạ bệ lẫn nhau vì động cơ cá nhân, thì đó là sự phản bội lại nguyên tắc đoàn kết của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ví phê bình như việc rửa mặt mỗi ngày, là liều thuốc hay nhất để chữa trị các căn bệnh trong Đảng. Do đó, để đạt được sự đoàn kết thực chất hậu sáp nhập, toàn thể cán bộ, đảng viên phải dũng cảm vượt qua tư duy định kiến, lấy lợi ích chung của sự phát triển địa phương làm điểm tương đồng tối cao.
Trong di chúc, Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình…”. Đoàn kết không phải là nói suông, đoàn kết phải thể hiện trong công tác, trong hành động, trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa đồng chí với nhau.
Nếu như “đoàn kết” tạo ra sức mạnh tổng hợp cho bộ máy sáp nhập, thì “thanh khiết” chính là điều kiện cốt lõi để giữ vững niềm tin của nhân dân vào bộ máy đó.
Khi sáp nhập địa giới hành chính, quy mô quản lý về đất đai, ngân sách, tài nguyên và dự án đầu tư tại đơn vị mới sẽ gia tăng đáng kể. Đi liền với đó là quyền lực trong tay người cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu, cũng phình to lên. Quyền lực càng lớn nếu không được kiểm soát bằng cơ chế nghiêm ngặt và sự liêm chính nội tâm của người thực thi, thì nguy cơ tha hóa quyền lực càng cao.
Cụm từ “thanh khiết từ to đến nhỏ” mà Bác dạy chứa đựng một triết lý vô cùng nghiêm khắc và toàn diện. Thanh khiết không chỉ giới hạn ở việc cán bộ lãnh đạo cấp cao phải trong sạch, mà đòi hỏi mọi mắt xích trong hệ thống chính trị, từ người giữ cương vị cao nhất cấp tỉnh, cấp xã cho đến những cán bộ trực tiếp tiếp xúc với dân ở văn phòng một cửa, anh công chức địa chính xã, đều phải giữ mình không tì vết.
Chỉ cần một mắt xích nhỏ ở cấp cơ sở bị hoen ố bởi hành vi nhũng nhiễu, hạch sách, đòi “chung chi” khi người dân đến làm thủ tục hành chính, thì toàn bộ uy tín của một chính quyền vừa được tinh gọn cũng có thể bị tổn hại nghiêm trọng.
Thực tiễn thời gian qua tại một số đơn vị sáp nhập cho thấy, hiện tượng trì trệ trong giải quyết hồ sơ đất đai, tư pháp của người dân không hoàn toàn do quy trình phối hợp chưa thông suốt, mà căn nguyên sâu xa xuất phát từ việc cán bộ thiếu sự “thanh khiết” trong tư duy.
Tâm lý “nghe ngóng”, sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm, không dám quyết, không dám làm thực chất là một biến tướng nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân. Khi người cán bộ đặt sự an toàn cá nhân và lợi ích riêng của chiếc ghế mình đang ngồi lên trên quyền lợi chính đáng của nhân dân, sự thiếu thanh khiết trong đạo đức công vụ này sẽ làm suy yếu nghiêm trọng bản chất của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Sự thanh khiết theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một trạng thái chủ động. Đó là việc người cán bộ tự soi, tự sửa, chủ động từ chối những lợi ích vật chất bất chính, đồng thời có đủ bản lĩnh và sự dũng cảm để bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai.
Đối với những người nắm giữ trọng trách lớn, sự thanh khiết còn đồng nghĩa với việc nêu gương. Người đứng đầu có thanh khiết, cấp dưới mới không dám làm càn; cán bộ có thanh khiết, nhân dân mới đồng thuận, tin yêu và tự nguyện đồng hành cùng chính quyền xây dựng quê hương.
Đặt trong chỉnh thể tư duy tư tưởng Hồ Chí Minh, “đoàn kết” và “thanh khiết” không phải là 2 phạm trù độc lập tách rời, mà có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau một cách chặt chẽ. Không thể có một khối đoàn kết thực sự nếu nội bộ tổ chức đó dung túng cho những hành vi bất minh, thiếu thanh khiết.
Một tập thể mà trong đó có những cá nhân trục lợi, kéo bè kết cánh để chia chác lợi ích hoặc bao che cho những sai phạm của nhau thì đó chỉ là thứ “đoàn kết xuôi chiều”, là sự câu kết mang tính phe nhóm nhằm lũng đoạn tổ chức.
Ngược lại, một tổ chức nếu thiếu đi sự đoàn kết, mất dân chủ, nội bộ chia rẽ thì cũng không bao giờ tạo ra được một môi trường trong sạch, thanh khiết; bởi khi đó, người ta sẽ mải mê đấu đá, kèn cựa địa vị thay vì tập trung rèn luyện đạo đức và thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Chính vì vậy, cuộc đại cách mạng về tổ chức bộ máy và tinh gọn hệ thống hiện nay đòi hỏi toàn thể cán bộ, đảng viên phải thực hành đồng thời cả hai bài học này. Khi tiến hành sáp nhập, việc rà soát, đánh giá cán bộ phải dựa trên cả hai tiêu chí song hành: Anh có khả năng quy tụ, xây dựng khối đoàn kết nội bộ hay không? Và bản thân anh, gia đình anh có thực sự thanh khiết, liêm chính trước tài sản công hay không?
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa 2 yếu tố này chính là chìa khóa để tạo ra những “tế bào” lành mạnh cho cơ thể hệ thống chính trị.
Lời dạy của Bác về chính trị cũng đặt ra yêu cầu cấp bách cho công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và cơ chế giám sát, phản biện của nhân dân. Quyền lực phải được nhốt trong chiếc lồng cơ chế, nhưng chiếc lồng hiệu quả nhất chính là lòng dân và sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng.
Khi toàn bộ hệ thống vận hành một cách minh bạch, công khai dưới sự giám sát của nhân dân, những nhân tố thiếu thanh khiết sẽ tự khắc bị đào thải, tạo không gian cho những cán bộ có đức, có tài gánh vác trọng trách của đất nước.
Lời định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tóm lại chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ” trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn nguyên vẹn giá trị thời đại, mang tính thời sự gay gắt trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đó không phải là lý thuyết nằm yên trên các trang sách, mà phải trở thành hơi thở, trở thành nguyên tắc hành động tối cao của mỗi cán bộ, đảng viên, từ các đồng chí lãnh đạo chiến lược cho đến các đảng viên ở chi bộ cơ sở.
Đối diện với bài toán sáp nhập địa giới hành chính và tinh gọn bộ máy đầy cam go hiện nay, toàn Đảng và từng cán bộ, đảng viên cần phải lấy lời dạy này làm tấm gương tự soi chiếu mỗi ngày. Sáp nhập không chỉ là một thủ tục lập pháp hay kỹ thuật hành chính, sáp nhập là một cuộc cách mạng về tư duy quản trị, đòi hỏi sự hy sinh những lợi ích cục bộ, cá nhân để đổi lấy sự phát triển trường tồn của đất nước.
Chỉ có một đội ngũ cán bộ biết kết nối với nhau bằng sợi dây đoàn kết chân chính, biết giữ gìn danh dự bằng sự thanh khiết tuyệt đối từ những việc nhỏ nhất, mới có thể vận hành bộ máy mới một cách trơn tru, hiệu quả, đưa con thuyền đất nước vượt qua mọi thác ghềnh, củng cố vững chắc niềm tin sắt đá của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Từ tháng 7.2025, TP.HCM sáp nhập Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương, trở thành siêu đô thị rộng hơn 6.770 km2, dân số hơn 14 triệu người. Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được nhìn nhận đây là quyết sách mang tính chiến lược của Đảng, Nhà nước trong công cuộc cách mạng sắp xếp bộ máy; tạo ra động lực mới, dư địa mới để phát triển ở tầm cao hơn, đẳng cấp hơn với tầm nhìn trở thành top 100 thành phố đáng sống trên thế giới đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2045.
Tầm nhìn mới cho TP.HCM là trở thành "siêu đô thị quốc tế" thông minh, xanh, sáng tạo, tiêu biểu không chỉ về sức mạnh kinh tế mà cả sự phong phú về văn hóa, nghệ thuật, thể thao, giải trí và phong cách sống hiện đại, năng động. Tại thời điểm sáp nhập một năm trước, khi trả lời Báo Thanh Niên, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được cho biết TP sẽ ưu tiên rà soát, điều chỉnh, xây dựng quy hoạch mới cho TP.HCM mới với tầm nhìn 1 không gian - 3 vùng - 1 đặc khu.
Trong đó, khu vực TP.HCM cũ đóng vai trò là "thủ phủ tài chính và công nghệ cao"; khu vực Bình Dương cũ đóng vai trò "thủ phủ công nghiệp"; còn khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu cũ là "thủ phủ kinh tế biển", đóng vai trò cửa ngõ cảng biển quốc tế và trung tâm công nghiệp năng lượng.
Với Nghị quyết 260/2025 của Quốc hội, TP.HCM là địa phương thứ 2 cả nước (sau thủ đô Hà Nội) được phép tích hợp các quy hoạch thành một bản quy hoạch tổng thể. Hiện TP.HCM đang lập Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025 - 2050, tầm nhìn 100 năm, dự kiến phê duyệt vào cuối tháng 10.2026. Đề cương bản quy hoạch xác định đến năm 2050, TP.HCM nằm trong nhóm 100 thành phố có chất lượng sống tốt nhất thế giới; đồng thời là trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, logistics, giáo dục, KH-CN và đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực.
Thành ủy TP.HCM yêu cầu quy hoạch tổng thể toàn TP.HCM đảm bảo tính tích hợp, phù hợp với không gian phát triển mới, đồng bộ, hiện đại, có tính kết nối cao, nhất là kết nối hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Trong công tác quy hoạch sắp tới, TP.HCM cũng sẽ tập trung phủ kín quy hoạch trên toàn địa giới hành chính mới, nâng cao chất lượng quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, quy hoạch chuyên ngành.
Quy hoạch tổng thể cùng với luật Đô thị đặc biệt (đang soạn thảo) được đánh giá là 2 "đòn bẩy thể chế" quan trọng giúp TP.HCM tăng trưởng 2 con số bền vững trong nhiều năm tới. TS Nguyễn Đỗ Dũng, chuyên gia quy hoạch đô thị, cho rằng câu hỏi quan trọng đối với TP.HCM sau sáp nhập là TP mới có vận hành hiệu quả hơn hay không. Nếu chỉ cộng thêm địa giới, TP.HCM sẽ có một đơn vị hành chính lớn hơn, nhưng nếu quy hoạch lại được cấu trúc đô thị, hạ tầng và sử dụng đất, TP.HCM có thể trở thành một siêu vùng đô thị có năng lực cạnh tranh cao hơn hẳn trước đây.
Muốn tăng trưởng nhanh, TP.HCM phải giải 2 bài toán căn bản, gồm người lao động được tiếp cận nhà ở, việc làm với chi phí hợp lý hơn và hàng hóa đi từ nơi sản xuất tới cảng, sân bay, thị trường quốc tế với chi phí thấp hơn. "Tăng trưởng 2 con số không đến từ việc mở rộng địa giới, mà đến từ việc giảm chi phí của nền kinh tế đô thị", ông Dũng nói.
Về cấu trúc không gian của TP.HCM mới, TS Nguyễn Đỗ Dũng khuyến nghị tổ chức theo một nguyên tắc không tiếp tục kéo đô thị lõi lan mãi ra ngoại vi mà nên khống chế bởi giới hạn của khu vực đường Vành đai 3. Theo đó, bên trong Vành đai 3 là vùng lõi cần tái phát triển, nén có chọn lọc quanh các ga đường sắt đô thị (metro), trung tâm tài chính, dịch vụ, giáo dục, y tế, văn hóa và các khu công nghiệp cũ chuyển đổi. Một bên còn lại làm dải cây xanh, vùng trữ nước, hành lang sinh thái và không gian dự phòng hạ tầng. Bên ngoài Vành đai 3 không nên phát triển như các khu dân cư phụ thuộc trung tâm, mà phải là các đô thị vệ tinh tự chủ, có việc làm, tiện ích, trường học, bệnh viện, nhà ở vừa túi tiền và kết nối giao thông nhanh vào khu vực trung tâm.
Cũng theo ông Dũng, TP.HCM mới cần được nhìn như một hệ thống 3 trung tâm lớn, gồm vùng lõi đô thị giới hạn bởi Vành đai 3, vùng đô thị - công nghiệp phía bắc và vùng đô thị - công nghiệp - kinh tế biển quanh vịnh Cần Giờ - Gành Rái. Sau sáp nhập, TP.HCM có cơ hội khép kín vùng vịnh và quy hoạch Cần Giờ - Cái Mép - Thị Vải - Phú Mỹ - Long Sơn - Vũng Tàu như một chỉnh thể. "Nếu Thủ Thiêm là nơi TP.HCM kết nối với dòng vốn, Bình Dương là nơi kết nối với chuỗi sản xuất, thì Gành Rái phải là nơi TP.HCM kết nối với dòng hàng, dòng năng lượng và thương mại biển toàn cầu", TS Nguyễn Đỗ Dũng nhận định.
Nhiều chuyên gia đô thị cho rằng khi phân vùng phát triển, TP.HCM cần phải ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng để tổ chức lại mạng lưới giao thông đa phương thức (metro, đường bộ, đường trên cao, đường sông, đường sắt tốc độ cao...) kết nối các trung tâm, giúp việc đi lại của người dân và lưu chuyển hàng hóa nhanh chóng. Trong cấu trúc đa cực, đa trung tâm, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) được xem như công cụ hữu hiệu để phát triển đô thị nén. Vừa qua, UBND TP.HCM phê duyệt ranh giới lập quy hoạch 5 khu vực TOD xung quanh các nhà ga thuộc tuyến metro số 2 (Bến Thành - Tham Lương) với tổng diện tích quy hoạch gần 940 ha.
Kiến trúc sư (KTS) Khương Văn Mười, nguyên Phó chủ tịch Hội KTS VN, phân tích từ kinh nghiệm hình thành và phát triển của các đô thị lớn cho thấy môi trường cư trú và mạng lưới giao thông công cộng khối lượng lớn là 2 nội dung quyết định sự tái cấu trúc đô thị trong giai đoạn tới. Với mô hình đô thị TOD, cư dân được tiếp cận đồng thời các tiện ích cơ bản tại chỗ và các dịch vụ như bệnh viện, khu giải trí, khu hành chính, trung tâm TP, khu công nghiệp thông qua việc chuyển tuyến metro.
KTS Khương Văn Mười cho biết T.Ư đã giao TP.HCM đưa vào sử dụng 200 km metro năm 2030 và đến năm 2050 hoàn chỉnh mạng lưới. Như vậy, TP.HCM có thể dùng sơ đồ định hướng hệ thống metro với 2 tuyến vành đai và các trạm dự kiến để thiết lập "bản đồ phục vụ đi lại" với bán kính 1 km quanh mỗi ga. Bản đồ này cũng sẽ chỉ ra các vùng "trắng" chưa được phủ trực tiếp để thiết kế các tuyến vận tải kết nối bằng xe buýt nhỏ, xe buýt nhanh hoặc phương tiện chia sẻ làm "lớp giao thông thứ hai" hoàn thiện cho cấu trúc TOD của TP. Riêng các ga ngoại ô, depot có thể phát triển TOD phục vụ khu nhà ở tái định cư, nhà ở xã hội và xây dựng thêm công trình chức năng phục vụ mới sẽ giảm áp lực cho khu trung tâm.
Trong khi đó, Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM Trần Quang Lâm cho biết TP đang triển khai rất nhiều công trình, hạ tầng tầm vóc để phát triển ngang tầm các đô thị quốc tế. Về metro, TP.HCM đã khởi công, động thổ dự án đường sắt tốc độ cao Bến Thành - Cần Giờ, metro số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm và đoạn Bến Thành - Tham Lương. Sắp tới, tuyến Thủ Thiêm - Long Thành, metro số 6 từ Phú Hữu đến sân bay Tân Sơn Nhất và các tuyến metro kết nối khu vực Bình Dương cũ cũng sẽ được khởi công. Hệ thống cảng biển và hạ tầng logistics cũng được đầu tư đồng bộ để đưa TP.HCM trở thành một trong những trung tâm cảng biển thế giới. Hiện TP.HCM đã chọn được nhà đầu tư dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, động thổ cảng Gemalink giai đoạn 2.
TP.HCM cũng đang lên kế hoạch xây dựng thêm nhà ở, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nhà tái định cư cho người dân tại các dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị. Hiện TP.HCM có hơn 40.000 nhà ven sông, kênh rạch cần cải tạo với tổng mức vốn đầu tư sơ bộ khoảng 300.000 tỉ đồng. Ông Lâm cho biết các dự án này không chỉ chỉnh trang đô thị, cải thiện vệ sinh môi trường mà còn giúp người dân có nơi sinh sống tốt hơn.
Huân chương Mặt trời mọc là phần thưởng cao quý nhất của Nhật Bản, không chỉ là sự ghi nhận đối với những cống hiến của hai nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, mà còn thể hiện sự trân trọng của Chính phủ Nhật Bản đối với những nỗ lực của lãnh đạo và nhân dân hai nước trong việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Nhật Bản ngày càng bền chặt.
Sau khi nghe Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam công bố quyết định của Nhà Vua Nhật Bản, thay mặt Nhà nước và Chính phủ Nhật Bản, Thủ tướng Takaichi Sanae đã trao Huân chương Mặt trời mọc hạng nhất Đại thập tự cho nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Phát biểu tại buổi lễ, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh bày tỏ xúc động và vinh dự cùng với nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được đón nhận Huân chương Mặt trời mọc hạng nhất Đại thập tự do Nhà nước và Chính phủ Nhật Bản trao tặng. Ông khẳng định đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực chung của nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản trong sự nghiệp chung vun đắp và thúc đẩy quan hệ giữa hai nước.
Nhấn mạnh Nhật Bản là người bạn tin cậy, chân thành và đối tác quan trọng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cho biết, trong suốt thời gian đảm nhận các trọng trách của Đảng và Nhà nước, ông luôn coi việc vun đắp quan hệ Việt Nam - Nhật Bản là một trong những ưu tiên chiến lược quan trọng hàng đầu trong tổng thể chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhắc lại dấu mốc khi thăm chính thức Nhật Bản vào năm 2009 đã cùng với Thủ tướng Taro Aso ra tuyên bố chung, thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á.
Trong khi đó, trên cương vị Thủ tướng Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2006 - 2016, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dành nhiều tâm huyết, chỉ đạo sâu sát để cụ thể hóa các cam kết, đưa hợp tác giữa hai nước đi vào chiều sâu, hiệu quả và thực chất trên tất cả các trụ cột từ chính trị, kinh tế đến giao lưu nhân dân.
Vinh dự được đóng góp một phần nỗ lực vào quá trình xây dựng và phát triển của quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh chúc quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nhật Bản ngày càng phát triển và đạt được nhiều thành quả mới.
Sáng 8.7, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với ngành nội vụ về chất lượng nguồn lao động, giải pháp tạo việc làm bền vững và công tác đào tạo nhân lực trong giai đoạn phát triển mới.
Phát biểu kết luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, điểm nghẽn hiện nay là thiếu lao động phù hợp với yêu cầu phát triển; thiếu kỹ năng nghề, kỷ luật, tác phong công nghiệp, ngoại ngữ, kỹ năng số, kỹ năng xanh; thiếu kỹ thuật viên, công nhân lành nghề, nhân lực thực hành, nhân lực công nghệ, nhân lực quản trị trung gian.
Lao động phi chính thức còn lớn, thất nghiệp thanh niên còn cao, cơ cấu đào tạo và việc làm còn lệch, già hóa dân số diễn ra nhanh.
Vì vậy, đánh giá chất lượng nguồn lao động phải chuyển từ coi trọng số lượng sang coi trọng chất lượng, hiệu quả sử dụng và khả năng đóng góp vào năng suất lao động.
Thước đo cuối cùng là chất lượng việc làm, chất lượng nguồn nhân lực và mức đóng góp của người lao động vào năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, tạo việc làm bền vững ở đô thị gắn với mô hình tăng trưởng mới, doanh nghiệp và chất lượng sống.
Tạo việc làm bền vững ở nông thôn phải gắn với nâng giá trị lao động, chuyển dịch có kỹ năng và sinh kế bền vững, mục tiêu không chỉ là giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, mà là nâng thu nhập của người dân nông thôn; thúc đẩy chuyển dịch lao động từ nông nghiệp năng suất thấp sang nông nghiệp giá trị cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ hiện đại và các ngành kinh tế mới ngay tại địa phương.
Tạo việc làm bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải gắn với khơi dậy nội lực, giảm nghèo bền vững và giữ gìn bản sắc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, đổi mới đào tạo nguồn nhân lực phải xây dựng hệ thống phát triển kỹ năng quốc gia. Đào tạo nguồn nhân lực phải chuyển từ đáp ứng nhu cầu trước mắt sang chuẩn bị năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia. Trọng tâm là thay đổi tư duy từ "bằng cấp" sang "nghề nghiệp", từ đào tạo theo khả năng sẵn có sang đào tạo theo đơn đặt hàng, theo chuẩn kỹ năng và theo kết quả đầu ra.
Bên cạnh tạo việc làm trong nước, cần nhìn rộng hơn các kênh tạo việc làm, nâng kỹ năng và bổ sung nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế.
Trong bối cảnh công nghệ, chuỗi cung ứng, lao động và tri thức dịch chuyển nhanh, phải vừa tạo việc làm bền vững trong nước, vừa đưa lao động Việt Nam ra thị trường quốc tế để học hỏi, đồng thời thu hút có chọn lọc tri thức, chuyên gia và nhân tài phục vụ phát triển đất nước, nhất là các lĩnh vực then chốt, chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực quốc gia và thị trường lao động hiện đại.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, phải xây dựng thị trường lao động hiện đại, minh bạch, linh hoạt, hội nhập; chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế nguồn nhân lực chất lượng cao; phải hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, liên thông dữ liệu việc làm, bảo hiểm, đào tạo, doanh nghiệp, dân cư.
Phát triển hệ thống dịch vụ việc làm công hiện đại, chuyên nghiệp; hình thành hệ thống phân tích, dự báo nhu cầu nhân lực và kỹ năng nghề quốc gia theo ngành, địa bàn.
Phải xây dựng hệ thống đào tạo mở, linh hoạt, học tập suốt đời, giúp người lao động học lại, chuyển nghề, nâng kỹ năng; coi con người là trung tâm, là chủ thể, là nguồn lực và là mục tiêu của phát triển.