Sáng 6.4, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua nghị quyết về việc bầu ông Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, làm Chủ tịch Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Ông Trần Thanh Mẫn 64 tuổi, quê Cần Thơ, trình độ tiến sĩ kinh tế. Ông là Ủy viên dự khuyết T.Ư Đảng khóa X; Ủy viên T.Ư Đảng khóa XI, XII, XIII, XIV; Bí thư T.Ư Đảng khóa XII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, XIV và là đại biểu Quốc hội các khóa XIII, XIV, XV, XVI.
Ông Trần Thanh Mẫn có nhiều năm hoạt động công tác Đoàn tại Hậu Giang, Cần Thơ.
Từ tháng 7.1994, ông làm Chánh văn phòng, sau đó là Phó chủ tịch, Chủ tịch UBND TP.Cần Thơ.
Từ tháng 1.2011, ông Trần Thanh Mẫn được bầu vào T.Ư Đảng khóa XI, giữ chức Bí thư Thành ủy Cần Thơ.
Tới tháng 10.2015, ông được bầu làm Phó chủ tịch, rồi Phó chủ tịch – Tổng thư ký Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tháng 4.2021, ông Trần Thanh Mẫn được Quốc hội khóa XIV bầu làm Phó chủ tịch Quốc hội Quốc hội khóa XIV, giữ nhiệm vụ Phó chủ tịch thường trực Quốc hội.
Đến tháng 7.2021, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV, ông Trần Thanh Mẫn tiếp tục được Quốc hội khóa XV bầu giữ chức Phó chủ tịch thường trực Quốc hội.
Tháng 5.2024, ông Trần Thanh Mẫn được bầu làm Chủ tịch Quốc hội khóa XV.
Nguồn: https://thanhnien.vn/chu-tich-quoc-hoi-tran-thanh-man-tai-dac-cu-185260405215532819.htm
Chính Trị
Đổi mới tổ chức, hoạt động các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã phát huy khá rõ nét vai trò của mình trên nhiều phương diện.
Từ công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đến tham gia tư vấn, phản biện xã hội; từ hoạt động nhân đạo, an sinh xã hội đến phát triển khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, đối ngoại nhân dân… các hội đều có những đóng góp thiết thực.
Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng, các hội đã trở thành nơi quy tụ đội ngũ trí thức, chuyên gia, văn nghệ sĩ, doanh nhân - những lực lượng có vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển đất nước.
Nhiều hội đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng chính sách, đóng góp hàng chục nghìn ý kiến phản biện, tư vấn cho các dự thảo văn bản pháp luật và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, là động lực và nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Trong tổng thể đó, hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, trong đó có các hội quần chúng, giữ vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh của các giai tầng xã hội.
Trong bối cảnh đó, việc sửa đổi, bổ sung, ban hành và triển khai Quyết định số 118-QĐ/TW của Ban Bí thư, cùng với Kết luận số 230-KL/TW ngày 5.1.2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp, tinh gọn các hội quần chúng đã tạo ra khuôn khổ chính trị - pháp lý quan trọng để tái cấu trúc hệ thống hội theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Theo đó, hệ thống các hội ở Trung ương đã được rà soát, điều chỉnh còn 29 hội, đồng thời thực hiện hợp nhất, sắp xếp lại một số tổ chức bên trong theo hướng giảm đầu mối, khắc phục chồng chéo, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Đây không chỉ là sự điều chỉnh về số lượng, mà quan trọng hơn là sự chuyển đổi về tư duy tổ chức, từ "mở rộng quy mô" sang "nâng cao chất lượng và hiệu quả thực chất".
Việc kiện toàn tổ chức đảng các hội đặt trực thuộc Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, đồng thời tăng cường tính định hướng chính trị đối với hoạt động của các hội.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách khách quan, quá trình sắp xếp hiện nay cần tiếp tục điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới. Mô hình tổ chức của nhiều hội vẫn còn cồng kềnh; số lượng đơn vị trực thuộc lớn; chức năng, nhiệm vụ một số hội còn có bất cập; hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Một trong những vấn đề nổi lên hiện nay là cơ chế hoạt động của các hội chưa thực sự theo kịp yêu cầu phát triển. Cơ chế giao nhiệm vụ còn mang tính hành chính, chưa gắn chặt với sản phẩm đầu ra và hiệu quả thực tế. Trong khi đó, nguồn lực tài chính lại chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, dẫn đến hạn chế tính chủ động, sáng tạo của tổ chức hội.
Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2021 - 2025, ngân sách nhà nước đã phân bổ cho hoạt động của các hội còn khá lớn, nhưng cơ chế phân bổ chưa thực sự gắn với hiệu quả, chưa tạo động lực đủ mạnh để các hội đổi mới phương thức hoạt động.
Bên cạnh đó, năng lực quản trị nội bộ, nhất là quản lý các đơn vị trực thuộc, ở một số hội còn hạn chế; việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số chưa đồng bộ; phương thức tập hợp, vận động hội viên còn chậm đổi mới, chưa phù hợp với bối cảnh xã hội số, kinh tế số.
Những hạn chế này, nếu không được khắc phục kịp thời, sẽ làm suy giảm vai trò của các hội trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội.
Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng bảo đảm thiết thực, hiệu quả, hướng mạnh về cơ sở, lấy người dân làm trung tâm.
Trong cùng mạch tư duy đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp trong việc xây dựng hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước.
Đặt trong tổng thể đó, đổi mới tổ chức và hoạt động của các hội cần được định hướng theo một số trục lớn.
Trước hết, tiếp tục rà soát, hoàn thiện mô hình tổ chức theo hướng tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, bảo đảm rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo. Việc duy trì hay giải thể các đơn vị trực thuộc phải dựa trên tiêu chí hiệu quả thực chất, đúng tôn chỉ, mục đích.
Thứ hai, chuyển mạnh sang cơ chế "đặt hàng - giao nhiệm vụ" gắn với sản phẩm cụ thể, có đánh giá đầu ra rõ ràng. Ngân sách nhà nước cần được phân bổ theo nguyên tắc hiệu quả, minh bạch, đồng thời thúc đẩy các hội từng bước tự chủ tài chính, tăng cường xã hội hóa.
Thứ ba, đổi mới phương thức hoạt động theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, lấy hội viên và người dân làm trung tâm phục vụ. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị, điều hành; phát triển các nền tảng kết nối hội viên; nâng cao chất lượng tư vấn, phản biện xã hội.
Thứ tư, phát huy mạnh mẽ vai trò của các hội trong việc nắm bắt, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; góp phần củng cố đồng thuận xã hội - yếu tố cốt lõi của "thế trận lòng dân".
Đổi mới tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ là một quá trình tất yếu, xuất phát từ yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Đây không chỉ là vấn đề tổ chức bộ máy, mà là vấn đề nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, tái định vị vai trò của các hội trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội.
Khi được tổ chức hợp lý, vận hành hiệu quả và gắn chặt với lợi ích của nhân dân, các hội sẽ tiếp tục là lực lượng quan trọng góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin xã hội, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững, đúng như tinh thần mà Đại hội XIV của Đảng đã xác định.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Shangri-La 23

CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO HÒA BÌNH - ỔN ĐỊNH - PHÁT TRIỂN TRONG MỘT THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Thưa Ngài Lawrence Wong, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore,
Thưa Tiến sĩ Bastian Giegerich, Tổng giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS),
Thưa quý vị và các bạn!
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Singapore và Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát. Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề: Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé". Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế - xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế. Lòng tin chiến lược không phải là xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn. Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hóa, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới. Chính vì là nơi hội tụ thách thức, châu Á - Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải.
Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường.
Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng. Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia.
Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hóa thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có.
Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối. Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung.
Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung. Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác. Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hóa xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới. Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn. Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại. Vì vậy, châu Á - Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: châu Á - Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển. Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng. Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần túy của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế. Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của châu Á - Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi Mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong đó, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, MTTQ VN, các tổ chức chính trị - xã hội và cán bộ, đảng viên tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh.
Chỉ thị nêu rõ cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy giá trị di sản Hồ Chí Minh. Học tập, thực hành theo Bác phải gắn với trách nhiệm nêu gương, đạo đức công vụ, phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, gần dân, sát dân, vì dân; thực hiện tốt quan điểm "dân là gốc". Góp phần xây dựng Đảng thật sự "là đạo đức, là văn minh", đội ngũ cán bộ, đảng viên "vừa hồng, vừa chuyên". Cần lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc, sự hài lòng của nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo kết quả học tập, thực hành theo Bác.
Chỉ thị nhấn mạnh học tập, thực hành theo Bác, trước hết là về bản lĩnh và tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Kịp thời thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám quyết, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Bộ Chính trị cũng chỉ đạo xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Cùng đó, gắn việc học tập, thực hành theo Bác với các phong trào thi đua yêu nước. Chỉ thị yêu cầu phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ủy viên T.Ư Đảng.
Nêu gương phải trở thành phương thức lãnh đạo quan trọng; lấy sự nêu gương để tạo uy tín, lan tỏa trách nhiệm, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và hệ thống chính trị. Trách nhiệm nêu gương phải được cụ thể hóa thành tiêu chí đánh giá trong công tác cán bộ, tập trung vào 3 nhóm nội dung. Cụ thể là bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới và năng lực tổ chức thực hiện; đạo đức công vụ và kỷ luật thực thi; tinh thần phục vụ nhân dân.
Bộ Chính trị yêu cầu tập trung nghiên cứu, làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của di sản Hồ Chí Minh trước yêu cầu mới, nhân rộng mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả, biểu dương kịp thời các điển hình tiên tiến trong học tập, thực hành theo Bác. Tăng cường kỷ luật phát ngôn, văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên trên không gian mạng, chủ động lan tỏa thông tin chính thống, tích cực, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác trực diện các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc.
Tin Gốc: Thanh Niên

