Bộ Quốc phòng đã và đang triển khai đợt huấn luyện, thực hành thả và nhảy dù cho các đơn vị đặc biệt tinh nhuệ, phi công quân sự đóng quân ở khu vực phía nam.
Lực lượng nhảy dù của không quân gồm phi công quân sự, sĩ quan nhân viên dù – tìm kiếm cứu nạn đường không của các Trung đoàn Không quân 935, 937, 917 thuộc Sư đoàn Không quân 370; Trung đoàn 920 thuộc Trường Sĩ quan Không quân.
Các đơn vị đặc biệt tham gia nhảy dù là lực lượng đặc nhiệm của Lữ đoàn trinh sát đặc nhiệm 94 (Tổng cục II, Bộ Quốc phòng); Đội chống khủng bố Lữ đoàn đặc công bộ 429 (Binh chủng Đặc công); Tiểu đoàn đặc công 60 (Bộ Tham mưu Quân khu 7)…
Công tác huấn luyện và chỉ đạo chuyên môn do Trung tâm quốc gia Huấn luyện tìm kiếm cứu nạn đường không (thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không – Không quân) đảm nhiệm.
Nhiệm vụ thả dù được Bộ Quốc phòng và Quân chủng Phòng không – Không quân giao cho Trung đoàn Không quân 917 (Sư đoàn Không quân 370).
Thượng tá Trương Thanh Bình, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân trực thăng 917 (Sư đoàn Không quân 370, Quân chủng Phòng không – Không quân) cho biết: Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, đơn vị đã làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức lực lượng và chuyển 2 máy bay trực thăng Mi-171 số hiệu SAR-02 và Mi-8 số hiệu 7848, từ căn cứ sân bay Cần Thơ về sân bay quân sự Biên Hòa (TP.Đồng Nai) để tập trung làm nhiệm vụ thả dù, đổ bộ đường không.
Lực lượng thả dù (các tổ bay và lực lượng bảo đảm kỹ thuật) của Trung đoàn Không quân 917 tại sân bay Biên Hòa do đại tá Đoàn Hồng Hải (Phó trung đoàn trưởng – tham mưu trưởng) chỉ huy.
Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhảy dù là một nhiệm vụ huấn luyện và tác chiến đặc biệt nguy hiểm, thường do các lực lượng tinh nhuệ của các lữ đoàn thuộc Binh chủng Đặc công, Đặc công Hải quân, Trinh sát Đặc nhiệm Tổng cục II và các đội đặc nhiệm của Quân khu, Bộ Tư lệnh Thủ đô, Bộ Tư lệnh TP.HCM… đảm nhận.
Đây là kỹ năng cốt lõi của hoạt động đổ bộ đường không, với nhiệm vụ nhảy dù đổ bộ từ máy bay trực thăng hoặc vận tải ở độ cao khoảng 800 – 1.000 mét để bí mật tiếp cận mục tiêu, thực hiện trinh sát, tập kích phía sau phòng tuyến đối phương và thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt khác.
Đối với phi công quân sự, nhảy dù là kỹ năng bắt buộc đối với các phi công lái máy bay quân sự nhằm rèn luyện bản lĩnh và kỹ năng thoát hiểm an toàn trong trường hợp máy bay gặp sự cố trên không.
Đặc biệt tại Việt Nam, còn có Trung tâm quốc gia Huấn luyện tìm kiếm cứu nạn đường không (thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không – Không quân), được Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ký quyết định thành lập vào ngày 11.1.2006 (trên cơ sở Trung tâm Huấn luyện Dù – Tìm kiếm cứu nạn đường không, đã được thành lập ban đầu vào ngày 1.9.1979).
Bên cạnh nhiệm vụ cốt lõi là tổ chức đào tạo sĩ quan dù, nhân viên kỹ thuật dù – tìm kiếm cứu nạn cho các đơn vị Quân đội và Ủy ban Quốc gia phòng chống sự cố, thiên tai, tìm kiếm cứu nạn…, trung tâm còn huấn luyện nhảy dù cho phi công quân sự, lực lượng công tác trên không, trinh sát đặc nhiệm, chống khủng bố và thực hiện các hoạt động tìm kiếm cứu nạn đường không, ứng cứu lũ lụt…
Về đào tạo, hiện nay Trường Sĩ quan Không quân là cơ sở duy nhất đào tạo sĩ quan dù – tìm kiếm cứu nạn đường không. Đây là lực lượng đặc thù thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân, chuyên thực hiện nhiệm vụ nhảy dù tiếp tế, đổ bộ và cứu hộ, cứu nạn trong các tình huống khẩn cấp…
Thiếu tá Phạm Minh Tuấn (Chủ nhiệm Dù – Tìm kiếm cứu nạn đường không, Trung đoàn Không quân 935, Sư đoàn Không quân 370, Quân chủng Phòng không – Không quân) cho biết: Theo quy định của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, mỗi giáo viên dù phải nhảy dù 8 lần/chuyến trong 1 năm, nhân viên dù phải nhảy 5 lần/chuyến trong 1 năm…
Được biết, độ tuổi nhảy dù của phi công quân sự không quá 35 tuổi. Với lực lượng chuyên trách dù – tìm kiếm cứu nạn, giáo viên – huấn luyện viên dù thì không giới hạn độ tuổi.
Một số hình ảnh nhảy dù giữa tháng 5.2026 của phi công quân sự và lực lượng đặc biệt đóng quân tại phía nam, do phóng viên Thanh Niên ghi lại từ máy bay trực thăng, trên bầu trời Biên Hòa, TP.Đồng Nai.
UBND TP.HCM vừa ban hành kế hoạch triển khai chương trình hành động của Thành ủy (ban hành ngày 17-4), để thực hiện Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030.
Trong đó, thành phố xây dựng danh sách hơn 80 dự án thuộc lĩnh vực văn hóa, di tích để sắp xếp ưu tiên đầu tư trong giai đoạn từ nay đến 2030. Nhiều dự án có quy mô lớn, tính chất trọng điểm, với lộ trình triển khai cụ thể tùy theo việc đã xác định chủ đầu tư và mức độ hoàn thiện kế hoạch chi tiết.
Cụ thể, dự án xây dựng Nhà hát giao hưởng, nhạc và vũ kịch tổng vốn sơ bộ 1.988 tỉ đồng.
Xây dựng mới Bảo tàng TP.HCM, chủ đầu tư là Ban Dân dụng và Công nghiệp đang hoàn thiện hồ sơ theo quy định. Tổng vốn dự án khoảng 2.622 tỉ đồng, trong đó vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 là 2.000 tỉ đồng.
Dự án xây dựng mới nhà tập luyện 1 tổng vốn hơn 1.978 tỉ đồng; xây dựng mới nhà tập luyện 2 cùng ở trung tâm huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao Phú Thọ tổng vốn khoảng 2.223 tỉ đồng. Hiện hai dự án do Ban Dân dụng và Công nghiệp làm chủ đầu tư, được Sở Tài chính phối hợp các sở ngành lấy ý kiến thẩm định.
Các dự án khác như khu hành chính và ứng dụng công nghệ thể thao (phường Phú Thọ) do Ban Dân dụng và Công nghiệp làm chủ đầu tư, vốn khoảng 1.500 tỉ đồng. Hiện Sở Văn hóa và Thể thao đang phối hợp với chủ đầu tư hoàn thiện báo cáo.
Dự án trung tâm huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao khu vực 3, kết hợp nâng cấp sân vận động Lam Sơn (phường Vũng Tàu) với số vốn khoảng 412 tỉ đồng; dự án tu bổ, tôn tạo Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM (phường Sài Gòn) vốn khoảng 430 tỉ đồng; tu bổ, tôn tạo Bảo tàng TP.HCM vốn 624 tỉ đồng.
Dự án chỉnh lý trưng bày kết hợp mở rộng Bảo tàng Côn Đảo (đặc khu Côn Đảo) vốn 370 tỉ đồng, quảng trường Vinh Quang kết hợp di dân, giải phóng mặt bằng khu vực bảo vệ di tích lịch sử Côn Đảo vốn 1.080 tỉ đồng.
Dự án xây dựng mới Trung tâm Nghệ thuật truyền thống TP.HCM ở phường Phú Thọ với tổng vốn 1.918 tỉ đồng, do Ban Dân dụng và Công nghiệp làm chủ đầu tư... cùng hàng loạt dự án khác.
Ngoài ra, TP.HCM còn ban hành phụ lục các đề án, thiết chế, nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực văn hóa và tiến độ cụ thể. Đơn cử như đề án "Phát triển công nghiệp văn hóa TP.HCM đến năm 2030", giai đoạn 2026 - 2028, thời gian hoàn thành trong quý 3-2026.
Ngày 6.5, Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng cho biết, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng ông Trần Chí Cường đã ký ban hành kế hoạch kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật liên quan đến an toàn công trình thủy điện, đặc biệt là công tác đánh giá an toàn đập và hồ chứa trong năm 2026.
Theo kế hoạch, Sở Công thương thành phố Đà Nẵng được giao chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan thành lập đoàn kiểm tra, xây dựng lịch kiểm tra cụ thể cho từng công trình.
Kết quả kiểm tra sẽ được tổng hợp, báo cáo về Bộ Công thương và UBND thành phố để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành.
Danh sách kiểm tra gồm 34 công trình thủy điện, chia thành hai nhóm. Trong đó, có 8 công trình đang thi công hoặc chưa vận hành, như: Trà Linh 1, Tăk Lê, Trà Leng 2, A Vương 5, An Điềm 2 (mở rộng), Sông Bung 3A, Tr'Hy và Nước Chè.
26 công trình đã vận hành phát điện, gồm: Sông Bung 4, Sông Bung 2, Đăk Pring, Trà Linh 3, Trà Linh 2, Đăk Di 1, Đăk Di 2, Nước Biêu, Nước Bươu, Sông Côn 2, Đăk Mi 4, Đăk Mi 2, Đăk Mi 3, Khe Diên, Tầm Phục, Sông Tranh 2, Đăk Sa, Za Hung, Sông Bung 5, Sông Bung 6, Sông Tranh 3, Sông Tranh 4, A Vương, Sông Bung 4A, An Điềm, Tà Vi và A Vương 3.
Các nội dung kiểm tra tập trung vào công tác bảo vệ công trình điện lực và an toàn điện; an toàn đập, hồ chứa thủy điện; quy định về đầu tư, xây dựng và quản lý chất lượng công trình cũng như trách nhiệm đánh giá an toàn của chủ sở hữu công trình.
Theo Sở Công Thương, hiện trên địa bàn Đà Nẵng có tổng cộng 44 công trình thủy điện, với tổng công suất thiết kế đạt 1.784,31 MW, sản lượng điện bình quân năm hơn 6,1 tỉ kWh.
Dù tất cả các công trình đều được phê duyệt quy trình vận hành trước khi tích nước, nhiều cử tri vẫn bày tỏ lo ngại về mật độ thủy điện ngày càng dày đặc. Đặc biệt, vấn đề xả lũ và tác động môi trường đang được người dân quan tâm.
Trước thực tế này, cử tri đã kiến nghị tổ chức một hội nghị chuyên đề nhằm đánh giá tổng thể hoạt động của các công trình thủy điện, đồng thời rà soát lại quy trình vận hành, nhất là trong mùa mưa bão.
Tại phiên họp kinh tế - xã hội thường kỳ tháng 4 của UBND TP HCM vào chiều 8/5, khi báo cáo tiến độ xây dựng đề án thành lập đơn vị hành chính đô thị trên địa bàn, ông Nguyễn Bắc Nam, Phó giám đốc Sở Nội vụ, cho biết đã có 23 xã tự rà soát các tiêu chí và gửi hồ sơ đề nghị lên phường
Theo cơ quan này, TP HCM hiện có 168 đơn vị hành chính gồm phường, xã và đặc khu; trong đó 54 xã chiếm khoảng 32% tổng số đơn vị hành chính.
Đến nay, 23 xã đã hoàn tất bước tự rà soát hiện trạng và gửi hồ sơ đề nghị thành lập đơn vị hành chính đô thị (phường). Một số địa phương cơ bản đạt tiêu chuẩn gồm Vĩnh Lộc, Tân Vĩnh Lộc, Bình Lợi, Tân Nhựt, Bình Chánh, Hưng Long, Đông Thạnh, Hóc Môn, Bà Điểm, Xuân Thới Sơn, Cần Giờ, Bình Hưng, Dầu Tiếng, Phước Hải, An Nhơn Tây, Ngãi Giao, Bắc Tân Uyên, Bàu Bàng...
Sở Nội vụ đang phối hợp các sở, ngành thẩm định tiêu chuẩn thành lập phường trước khi trình UBND TP HCM, Đảng ủy UBND TP và Ban Thường vụ Thành ủy xem xét chủ trương.
Bên cạnh 23 xã đã gửi hồ sơ, Sở Nội vụ cũng đề xuất các xã còn lại tiếp tục rà soát theo tiêu chí để thành phố hoàn tất hồ sơ đề án trình HĐND trước ngày 15/6. Sau đó, hồ sơ sẽ được Bộ Nội vụ thẩm định, Chính phủ xem xét và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định.
Theo Nghị quyết 112 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xã muốn chuyển lên phường phải đáp ứng 5 nhóm tiêu chí gồm quy mô dân số từ 21.000 người trở lên, diện tích tự nhiên tối thiểu 5,5 km2, tỷ lệ dân số đô thị từ 50% trở lên. Đồng thời xã phải đạt các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế - xã hội như tự cân đối ngân sách, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức trung bình của TP HCM trong ba năm gần nhất.
Xét tiêu chí điều kiện diện tích tự nhiên (từ 5,5 km2 trở lên), hiện tất cả 54 xã đều đạt (gấp từ hơn 4 lần đến 47 lần chỉ tiêu diện tích). Về quy mô dân số (hơn 21.000 người trở lên) chỉ có 3 xã An Thới Đông (18.413 người), xã Phước Thành (15.803 người) và xã An Long (17.906 người) là còn thiếu, các xã còn lại đều đạt và vượt xa.
Do tốc độ đô thị hóa cao, hạ tầng nhiều xã ở TP HCM đã được cải thiện, hình thành một số khu đô thị hiện đại nhưng bị giới hạn bởi mô hình quản lý đơn vị hành chính nông thôn. Theo quy định, khi chuyển xã thành phường, bộ máy được thêm biên chế từ 50 lên 70 người; chính sách về đất đai, quy hoạch sẽ quản lý theo mô hình đô thị, giải quyết tốt hơn nhu cầu của người dân.