Ngày 15-6, Công an tỉnh Phú Thọ cho biết Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 8,75 triệu đồng với TikToker Phan Trung K. (31 tuổi, trú Phú Thọ) về hành vi cung cấp thông tin sai sự thật, xuyên tạc trên mạng xã hội.
Qua công tác nắm tình hình trên không gian mạng, Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện tài khoản TikTok “Khuê ơi dậy đi” (ID: @khueoidaydi, có hơn 182.000 lượt theo dõi, hơn 3,1 triệu lượt thích) đăng tải một video chứa nhiều phát ngôn mang tính so sánh, đánh giá phiến diện người dân các vùng miền. Đồng thời có dấu hiệu gây chia rẽ, kích động người trong cộng đồng mạng.
Sau khi đăng tải, video nhanh chóng lan truyền với hàng triệu lượt xem trên các nền tảng mạng xã hội, thu hút hàng chục nghìn lượt bình luận, chia sẻ cùng nhiều ý kiến trái chiều.
Công an xác định trước đó tài khoản này cũng đăng một video khác có nội dung tương tự.
Chủ kênh sử dụng các nhận định mang tính chủ quan để so sánh giữa người miền Bắc và người miền Nam trong lối sống, cách làm việc và điều kiện kinh tế – xã hội.
Lực lượng công an đã nhanh chóng xác định tài khoản TikTok nêu trên do Phan Trung K. quản lý.
Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã tiến hành làm việc với K..
Quá trình làm việc, K. thừa nhận đã đăng tải các video chứa thông tin sai sự thật, xuyên tạc nhằm mục đích thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng, tăng tương tác và phát triển trang cá nhân.
Sau khi được lực lượng chức năng phân tích, làm rõ tính chất, mức độ vi phạm, K. đã nhận thức được hành vi sai trái, tự giác gỡ bỏ các nội dung vi phạm, cam kết không tái phạm.
Từ vụ việc trên, Công an tỉnh Phú Thọ khuyến cáo người dân cần sử dụng mạng xã hội một cách thông minh, có trách nhiệm, đặc biệt cần kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải, chia sẻ.
Không đăng tải, phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc, kích động chia rẽ vùng miền hoặc gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, để góp phần xây dựng môi trường mạng lành mạnh, an toàn và văn minh.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Varsha Gohil, 61 tuổi, lần đầu đệ đơn ly hôn chồng cũ là Bhadresh Gohil vào tháng 5/2002 với lý do chồng ngoại tình. Thời điểm đó, bà đã chấp nhận một thỏa thuận tài chính từ chồng cũ, nhận được 270.000 bảng Anh và chiếc ôtô Peugeot của gia đình.
Nhưng trong quá trình ly hôn, người mẹ ba con, lúc đó 37 tuổi, cho rằng chồng đã không tiết lộ đầy đủ số tiền và tài sản mà ông ta sở hữu. Theo luật, những người đang ly hôn có nghĩa vụ kê khai đầy đủ tài sản và thu nhập.
Năm 2007, Varsha nộp đơn yêu cầu hủy bỏ thỏa thuận dàn xếp tài chính ban đầu sau khi thu thập đủ bằng chứng về hành vi lừa dối của chồng.
Bhadresh sau đó bị kết tội rửa tiền, làm giả giấy tờ và âm mưu lừa đảo vào năm 2011. Cố vấn pháp lý 61 tuổi bị kết án 10 năm tù. Cơ quan Công tố Hoàng gia (CPS) đã đóng băng số tài sản trị giá 28 triệu bảng Anh mà Bhadresh đang cất giấu trong một mạng lưới công ty và tổ chức trên khắp thế giới.
Cặp vợ chồng đã ly hôn không ngừng kiện tụng, nộp đơn kháng cáo nhằm yêu cầu xem xét lại thỏa thuận phân chia tài sản ban đầu. Tranh chấp giữa hai bên kéo dài dai dẳng, cuối cùng lên tới Tòa án Tối cao.
Trong một phán quyết mang tính bước ngoặt năm 2015, Varsha giành được quyền yêu cầu một phiên điều trần mới nhằm xác định khoản phân chia tài sản mà bà được hưởng sau khi ly hôn. Các thẩm phán Tòa án Tối cao cho rằng những người vợ/chồng không cung cấp thông tin đầy đủ và trung thực không nên được hưởng lợi từ hành vi lừa dối.
Những trở ngại mà CPS gặp phải khi truy tìm và thu hồi tài sản của Bhadresh khiến vụ việc bị đình trệ, phải đến năm 2023 phiên điều trần tại Tòa Thượng thẩm mới được mở.
Tại tòa, cuộc chiến pháp lý giữa hai người xoay quanh việc ai mới là người có quyền đối với khối tài sản trị giá hàng triệu bảng Anh. Bhadresh cho rằng đây không phải tài sản của mình, vì vậy Varsha không có cơ sở pháp lý để yêu cầu được phân chia số tài sản đó.
Varsha khẳng định khối tài sản này thực chất thuộc sở hữu của chồng bà trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, CPS cho rằng Bhadresh đã tích lũy tiền tài từ các khoản thu lợi bất hợp pháp. Vì vậy, tài sản này thuộc diện bị thu hồi theo quy định về tài sản phạm tội và không thể được chuyển giao cho Varsha.
Tuy nhiên, thẩm phán nhận định số tài sản tranh chấp thuộc sở hữu của Bhadresh và CPS không chứng minh được rằng toàn bộ 28 triệu bảng Anh đều là tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Thẩm phán chỉ ra rằng một số tài sản là các cơ sở kinh doanh hợp pháp được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
Ngày 28/5, tòa ra phán quyết Varsha được hưởng số tài sản trị giá 6,6 triệu bảng Anh.
Tin Gốc: Vnexpress
Pháp Luật
Tăng mức phạt vi phạm hành chính: Cần bảo đảm hài hòa giữa răn đe và khả thi

Đề xuất sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng nâng mức tiền phạt trong nhiều lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Nhiều ý kiến cho rằng việc tăng chế tài là cần thiết để nâng cao hiệu quả răn đe, siết chặt kỷ cương pháp luật. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng vấn đề cốt lõi không nằm ở việc "phạt nặng đến đâu" mà ở chỗ mức phạt có hợp lý, khả thi và được xã hội chấp nhận hay không.
Mới đây, khi chủ trì cuộc họp về hồ sơ chính sách Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu cũng nhấn mạnh việc đề xuất mức xử phạt phải được rà soát kỹ lưỡng, có cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn vững chắc. Với từng lĩnh vực cụ thể, cần đánh giá đầy đủ tác động, khả năng thực thi, tính răn đe và mức độ đồng thuận xã hội.
Đồng tình với phát biểu chỉ đạo của Phó thủ tướng, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) cho rằng đây không chỉ là một định hướng chính sách mà cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định chuyên ngành.
Theo bà, bản chất của xử phạt hành chính là điều chỉnh hành vi xã hội nhằm bảo vệ trật tự công cộng và lợi ích cộng đồng. Vì vậy, một mức phạt chỉ phát huy hiệu quả khi người dân cảm nhận được sự công bằng và tính chính đáng của nó.
"Nếu mức phạt vượt quá khả năng chịu đựng thực tế của người vi phạm thì hiệu ứng tạo ra không phải là răn đe mà là né tránh, đối phó hoặc phát sinh tiêu cực. Ngược lại, mức phạt quá thấp sẽ khiến người vi phạm coi đó như một chi phí phải trả và sẵn sàng tiếp tục vi phạm", bà Tú Anh nhận định.
Theo nữ đại biểu, đồng thuận xã hội là điều kiện quan trọng để pháp luật được thực thi hiệu quả. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy những quy định xử phạt thiếu sự đồng thuận thường có tỷ lệ tuân thủ thấp và chi phí thực thi cao, bất kể mức phạt được quy định nặng đến đâu.
Thực tế cũng cho thấy không ít trường hợp mức phạt trên giấy rất cao nhưng hiệu quả răn đe hạn chế. Cơ quan chức năng ngại áp dụng vì cho rằng chế tài quá nặng so với tính chất vi phạm, trong khi người vi phạm tìm mọi cách đối phó hoặc né tránh. Điều này cho thấy mức phạt cao không đồng nghĩa với tính nghiêm minh của pháp luật.
Theo ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh, để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả, chính sách xử phạt hành chính cần đáp ứng ít nhất bốn tiêu chí cơ bản.
Đầu tiên, mức phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hại của hành vi vi phạm, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế của đối tượng bị điều chỉnh. Một mức phạt có thể hợp lý với doanh nghiệp lớn nhưng lại vượt quá khả năng của hộ kinh doanh nhỏ hoặc người dân ở khu vực nông thôn. Vì vậy, cần nghiên cứu các cơ chế điều chỉnh phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Thứ hai, việc xây dựng mức phạt phải dựa trên đánh giá tác động thực chất. Nhiều đề xuất hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quản lý, trong khi còn thiếu dữ liệu về khả năng tuân thủ, năng lực tài chính của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả thực tế của chế tài. Việc đánh giá tác động cần được thực hiện nghiêm túc trước khi ban hành quy định.
Tiếp theo, xử phạt không chỉ nhằm trừng phạt mà còn phải hướng tới giáo dục và phòng ngừa. Đối với những trường hợp vi phạm lần đầu hoặc do thiếu hiểu biết pháp luật, việc kết hợp chế tài với các biện pháp tuyên truyền, giáo dục có thể mang lại hiệu quả thay đổi hành vi bền vững hơn so với phạt tiền đơn thuần.
Cuối cùng nữ đại biểu cho rằng, hệ thống chế tài phải bảo đảm tính thống nhất và công bằng giữa các lĩnh vực. Những hành vi có mức độ nguy hại tương đương cần được xử lý tương xứng. Nếu mức phạt giữa các lĩnh vực chênh lệch quá lớn, người dân dễ cảm nhận sự thiếu công bằng, từ đó ảnh hưởng tới niềm tin vào pháp luật.
Ở góc độ chuyên môn, Luật gia Võ Văn Tuyển (Ban Nghiên cứu - Xây dựng và Phổ biến pháp luật, Hội Luật gia Việt Nam), cho rằng mức tiền phạt hiện hành đã bộc lộ hạn chế trong một số lĩnh vực như đất đai, môi trường, thương mại điện tử, chứng khoán, quảng cáo sai sự thật, hàng giả và hàng nhái… Trong nhiều trường hợp, lợi ích mà tổ chức, cá nhân thu được từ hành vi vi phạm lớn hơn rất nhiều so với mức xử phạt phải chịu, khiến chế tài hành chính mất đi tác dụng răn đe.
Tuy nhiên, theo ông Tuyển, mức phạt chưa phải nguyên nhân cốt lõi của những bất cập trong thực tiễn xử lý vi phạm hành chính hiện nay. Nhiều khó khăn nằm ở khâu phát hiện và chứng minh hành vi vi phạm, sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật hoặc những vướng mắc trong quá trình thi hành quyết định xử phạt.
"Nếu chỉ tăng mức tiền phạt mà không đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi, hoàn thiện cơ chế cưỡng chế và khắc phục sự chồng chéo của hệ thống pháp luật thì chưa chắc hiệu quả quản lý nhà nước sẽ được cải thiện", ông Tuyển nhận định.
Theo ông, cùng với phạt tiền, các hình thức xử phạt bổ sung như tước giấy phép kinh doanh, giấy phép hành nghề cần được cân nhắc thận trọng về thời hạn, trình tự và tác động thực tế. Bởi, một quyết định tước giấy phép kéo dài nhiều tháng có thể khiến doanh nghiệp đình trệ hoạt động, ảnh hưởng tới người lao động và các đối tác liên quan.
Vì vậy, chế tài phải bảo đảm tính tương xứng, tránh tạo ra những hệ quả xã hội vượt quá mục tiêu quản lý, điều này cũng phù hợp với tinh thân Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.
Cùng với đó, Tuyển cũng cho rằng cần phân hóa rõ giữa cá nhân và tổ chức khi thiết kế chế tài xử phạt. Đối với doanh nghiệp hoặc tổ chức có tiềm lực tài chính lớn, cố tình vi phạm để thu lợi bất hợp pháp, có thể nghiên cứu áp dụng mức phạt cao hơn. Ngược lại, nếu tăng đồng loạt đối với cá nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực gắn với đời sống dân sinh như giao thông, cư trú, kinh doanh nhỏ lẻ, có thể tạo áp lực lớn cho người dân.
Theo vị chuyên gia, thay vì chỉ tập trung nâng tiền phạt, cần chú trọng hơn tới các biện pháp tước bỏ lợi ích thu được từ hành vi vi phạm như buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp, thu hồi sản phẩm vi phạm, tịch thu tang vật hoặc tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn phù hợp. Trong nhiều trường hợp, đây là giải pháp hiệu quả hơn so với việc chỉ tăng mức xử phạt bằng tiền.
Các ý kiến cho rằng quá trình sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính cần được thảo luận công khai, đa chiều và tiếp thu đầy đủ ý kiến phản biện xã hội. Bởi với một đạo luật tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng tính nghiêm khắc của pháp luật mà còn phải bảo đảm tính hợp lý, khả thi và sự đồng thuận trong quá trình thực thi.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Pháp Luật
Cú lật kèo giúp đại gia Đinh Trường Chinh bán đất giá gấp hàng trăm lần

Cáo trạng của Viện KSND TPHCM xác định hành vi này xảy ra tại Dự án Khu đô thị An Phú - An Khánh do Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh nhà (HDTC) làm chủ đầu tư.
HDTC tiền thân là doanh nghiệp Nhà nước, được cổ phần hóa năm 2016. Sau quá trình này, ông Đinh Trường Chinh (52 tuổi, cựu Chủ tịch HĐQT HDTC) cùng người thân nắm khoảng 70% vốn góp tại công ty.
Ông Đinh Trường Chinh bị cáo buộc đã chỉ đạo anh trai là Đinh Chí Minh (Tổng Giám đốc HDTC) và chị gái Đinh Ngọc Thiên Hương thực hiện nhiều sai phạm trong quá trình điều hành doanh nghiệp.
Trước thời điểm cổ phần hóa, Công ty TNHH MTV HDTC đã ký nhiều hợp đồng bán nền tại Dự án Khu đô thị An Phú - An Khánh cho khách hàng. Tuy nhiên, dù nhiều người đã thanh toán gần hết hoặc toàn bộ tiền mua đất, công ty vẫn không bàn giao nền.
Năm 1998, bà Nguyễn Thị Hạnh mua 4 nền đất tại dự án, để con gái đứng tên hợp đồng và đã thanh toán 95% giá trị, tương đương 1,4 tỷ đồng. Đến tháng 12/2018, bà tiếp tục được hướng dẫn nộp nốt 5% còn lại.
Năm 2000, bà Trương Thanh Tâm ký hợp đồng mua nền đất tại khu A đường Vũ Tông Phan và đã thanh toán 256 triệu đồng, tương đương 95% giá trị hợp đồng.
Tương tự, năm 2003, ông Hà Văn Cun mua một nền đất và đã thanh toán toàn bộ hơn 270 triệu đồng theo hợp đồng ký với Công ty TNHH MTV HDTC.
Sau khi HDTC cổ phần hóa, các khách hàng nhiều lần gửi đơn, trực tiếp yêu cầu bàn giao đất nhưng không được giải quyết. Những người mua được thông báo dự án đang vướng đền bù giải tỏa, chờ quyết toán cổ phần hóa hoặc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng do phát hiện sai phạm trong quá trình ký kết trước đây.
Hồ sơ vụ án thể hiện, lợi dụng việc nắm gần 70% cổ phần và giữ vai trò Chủ tịch HĐQT HDTC, ông Chinh quyết định không bàn giao 6 nền đất cho các khách hàng đã ký hợp đồng từ trước thời điểm cổ phần hóa.
Ông Chinh giao anh trai là Đinh Chí Minh chỉ đạo Phòng Kinh doanh - Tiếp thị tìm khách mới để chuyển nhượng lại các nền đất với giá khoảng 200-275 triệu đồng mỗi m2.
Đối với các hợp đồng đã ký với bà Nguyễn Thị Hạnh, Vân Bảo Ngọc, ông Hà Văn Cun và bà Trương Thanh Tâm, ông Chinh bị cáo buộc trực tiếp ký các thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng gửi khách hàng vào tháng 4/2021.
Dù biết các nền đất này đã được chuyển nhượng từ trước thời điểm cổ phần hóa và khách hàng liên tục yêu cầu bàn giao, ông Chinh vẫn chỉ đạo tìm môi giới và khách hàng mới để bán lại, theo kết luận điều tra.
Các nền đất sau đó được chuyển nhượng cho khách mới với giá 12-47,5 tỷ đồng mỗi nền, cao gấp hàng chục đến gần 200 lần giá hợp đồng ban đầu.
Cơ quan điều tra xác định, tổng số tiền ông Chinh bị cáo buộc chiếm đoạt của khách hàng đã nộp cho công ty là 199 tỷ đồng. Ông Chinh và anh trai bị truy tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Làm việc với cơ quan điều tra, ông Chinh khai cho rằng các hợp đồng ký trước đây không có giá trị pháp lý nên đã quyết định chuyển nhượng các nền đất để lấy tiền nộp thuế cho HDTC, đồng thời gửi thông báo chấm dứt hợp đồng với khách hàng cũ. Trong khi đó, Đinh Chí Minh thừa nhận hành vi giúp sức cho em trai.
Đến nay, các khách hàng vẫn không đồng ý việc đơn phương chấm dứt hợp đồng và chưa có phán quyết nào xác định các hợp đồng trước đây vô hiệu. Trong khi đó, các nền đất đã được chuyển nhượng cho nhiều khách hàng khác.
Quá trình điều tra, ông Chinh khai nhận rằng bản thân nhận thấy các hợp đồng chuyển nhượng nền đất do công ty ký với bà Văn Bảo Ngọc, ông Hà Văn Cun và bà Trương Thanh Tâm không có giá trị pháp lý. Do Công ty cổ phần HDTC đang cần tiền để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nên Đinh Trường Chinh đã tự quyết định và chỉ đạo các nhân viên thực hiện việc chuyển nhượng các nền đất liên quan đến những hợp đồng nêu trên cho các khách hàng khác.
Sau đó, Đinh Trường Chinh tiếp tục ký các thông báo gửi đến các cá nhân đã ký hợp đồng trước đó, với nội dung đơn phương chấm dứt hợp đồng và tuyên bố các hợp đồng này vô hiệu.
Với hành vi trên, ông Chinh bị truy tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, người này còn bị cáo buộc tham ô hơn 140 tỷ đồng.
Tin Gốc: Dân Trí

