Đang đi mua sắm ở cửa hàng tạp hóa trước Lễ Tạ ơn 27/11/2025, Amanda Blake, quản lý phát triển kinh doanh 46 tuổi ở bang Pennsylvania, bỗng nhận được cuộc gọi từ con trai 16 tuổi báo tin cảnh sát đến nhà.
Amanda vội vã trở về, lo sợ nghe được tin dữ về mẹ mình. Nhưng thay vào đó, cô được thông báo mẹ mình đang bị cảnh sát giam giữ, và cuộc sống quen thuộc của cô sắp bị đảo lộn hoàn toàn.
“Cô đã mất tích 43 năm. Cô không phải Amanda mà là Michelle Marie Newton”, cô nhớ lại lời cảnh sát nói.
“Đó là cảm giác khó tin nhất mà tôi từng trải qua. Tôi nhớ mình đã bật khóc nhưng cũng cảm thấy chai sạn. Cuộc đời tôi trước đó là một chuỗi bí ẩn với vô số điều không thể hiểu nổi. Nhưng ngay trong khoảnh khắc ấy, mọi thứ đột nhiên sáng tỏ, như thể tất cả mảnh ghép cuối cùng đã vào đúng vị trí”, Michelle chia sẻ.
Trước đó, Michelle biết mẹ mình tên là Sharon Nealy, nhưng nay mới rõ bà thực chất là Debra Newton – kẻ bị truy nã vì bắt cóc con gái 3 tuổi.
Nhờ tin báo từ thám tử nghiệp dư, chính quyền bắt Debra vào tháng 11/2025 tại nhà riêng ở The Villages, Florida. Trong quá trình thẩm vấn, Debra khóc khi thừa nhận mang theo con gái bỏ nhà ra đi, nhưng giải thích rằng làm vậy vì muốn chạy trốn khỏi cuộc hôn nhân bạo lực. Bà ta cũng thừa nhận đã sử dụng danh tính của người khác để bắt đầu cuộc sống mới.
Debra đồng ý thỏa thuận nhận tội, được giảm tội danh cản trở quyền nuôi con hợp pháp từ trọng tội xuống tội nhẹ.
Tại phiên tòa ngày 15/5 vừa qua, Michelle thất vọng vì Debra chỉ phải nhận mức án một năm tù treo. Cô kể rằng khi rời phòng xử án ở thành phố Louisville, bang Kentucky, Debra thậm chí không nhìn con gái một lần nào.
Người mẹ ôm con bỏ trốn
Theo Michelle, Debra đã trốn khỏi ngôi nhà ở Kentucky để đến Georgia cùng người đàn ông khác, mang theo con gái 3 tuổi. Chồng cũ của Debra, Joe, thừa nhận không phải người bạn đời hoàn hảo, nhưng phủ nhận từng bạo hành vợ.
Debra kết hôn với Joe Newton ở tuổi 16. Michelle chào đời năm 1979, khi Joe 20 tuổi và Debra 19 tuổi.
Theo Dave Ernst, thám tử đã nghỉ hưu của Văn phòng Cảnh sát trưởng hạt Jefferson, Debra gặp gỡ một doanh nhân rất khéo ăn nói khi làm việc tại văn phòng một công ty vận tải. Năm 1983, Debra nói với gia đình rằng đã nhận được công việc mới ở Georgia, rồi chất đồ lên chiếc xe tải nhỏ và rời đi hai tuần sau đó.
Gia đình cho biết Joe dự định theo vợ con đến Georgia vài tuần sau khi hoàn thành công việc xây dựng ở Kentucky. Tuy nhiên, không lâu sau, Debra ngắt liên lạc. Khi đến Georgia, Joe phát hiện Debra nói dối về nơi làm việc, nghe nói rằng con gái đang phải sống trong hoàn cảnh tồi tệ. Joe báo cảnh sát, nhưng không gặp lại hay nghe tin tức gì về con gái hay vợ cũ trong suốt bốn thập kỷ.
Thám tử Ernst cho biết khi đó, Debra đã bỏ trốn cùng Michelle và doanh nhân nọ. Người này tự xưng là mục sư, dẫn hai mẹ con gia nhập một giáo phái đa thê.
Michelle khẳng định người đàn ông này đã nhiều lần lạm dụng tình dục cô, Debra biết nhưng không can thiệp. Cho đến năm ngoái, Michelle vẫn tin rằng ông ta là bố ruột của mình.
Người vợ cả trong giáo phái sau đó đã đuổi Debra và Michelle ra khỏi nhà khi thấy doanh nhân kia vào phòng họ giữa đêm. Khi Michelle học mẫu giáo, hai mẹ con chuyển đến Florida, cuối cùng định cư ở Pennsylvania. Sau khi Debra kết hôn với Wayne Brookover, Michelle nói rằng cuộc sống của cô trở nên bình thường hơn.
Tuy nhiên, Michelle luôn nghi ngờ Debra đang che giấu bí mật gì đó. Mỗi khi hỏi mẹ về quá khứ hay những người thân trong gia đình, cô đều chỉ nhận được câu trả lời lảng tránh. Michelle được kể rằng ông bà ngoại đã bị một tài xế say rượu tông chết, còn những bức ảnh hồi bé của cô thì bị mất trong một vụ hỏa hoạn.
Cuộc hội ngộ sau 43 năm
Ở tuổi thiếu niên, Michelle bắt đầu tìm hiểu về cuộc đời mình, tự làm hồ sơ điều tra dài hàng trăm trang. Năm 19 tuổi, cô liên lạc với chính quyền bang New Jersey để yêu cầu bản sao giấy khai sinh mang tên Amanda vì nghĩ đây là nơi sinh của mình. Michelle được thông báo rằng giấy khai sinh đó không tồn tại. Khi bị truy hỏi, Debra nói rằng bệnh viện từng bị cháy nên các hồ sơ quan trọng đã bị phá hủy.
Trong khi đó, sau khi trình báo con gái mất tích, Joe giành được quyền nuôi con. Hồ sơ tòa án cho thấy Debra bị buộc tội bỏ trốn để tránh bị truy tố vào năm 1985. Cáo buộc sau đó bị hủy vì chính quyền không thể tìm thấy bà ta.
Năm 2005, Michelle bị xóa tên khỏi cơ sở dữ liệu của Trung tâm Quốc gia về Trẻ em Mất tích và Bị bóc lột (NCMEC). Sau nhiều năm tìm kiếm vô vọng, gia đình cho rằng Debra và Michelle đã chết. Bố mẹ Debra qua đời vào những năm 2010 mà không hề biết chuyện gì đã xảy ra với con gái và cháu ngoại.
Debra kết hôn lần ba với cựu binh Thủy quân lục chiến Reggie Nealy, chuyển đến The Villages và nghỉ hưu. Năm 2016, bà ta bị tái truy tố tại tòa án bang Kentucky sau khi thám tử Ernst và cộng sự trình bày những phát hiện mới trước đại bồi thẩm đoàn. Những bức ảnh dự đoán sự thay đổi ngoại hình của Michelle sau đó được NCMEC đăng tải trực tuyến.
Năm 2025, chính quyền xác định danh tính của Debra thông qua đối chiếu mẫu ADN với người thân.
Sau khi mẹ bị bắt, Michelle thực hiện “chuyến đi dài nhất đời”, từ Pennsylvania đến Kentucky, để gặp gia đình. “Liệu họ có phải là người tốt không?”, cô tự hỏi trong suốt hành trình 11 tiếng. Nhưng khi ôm bố lần đầu tiên sau 43 năm, Michelle cảm thấy nhẹ nhõm tức thì và nhanh chóng tìm lại sự gắn kết.
Joe cho biết vẫn xúc động mỗi khi nhớ đến cuộc hội ngộ với con gái. “Điều đầu tiên tôi nói với con gái mình là tôi muốn con bé biết rằng tôi chưa bao giờ bỏ rơi con”, Joe chia sẻ.
Michelle, có hai con trai và một con gái, hiện không nói chuyện với mẹ. Cô cho biết mẹ đã hứa sẽ xin lỗi nhưng vẫn chưa thực hiện.
Theo cáo trạng mới được ban hành, ngoài truy tố nhóm cựu lãnh đạo Bộ Lao động nhận hối lộ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cũng xác định nguyên Thứ trưởng Lê Tấn Dũng cùng một số cán bộ có nhận tiền nhưng không bị xử lý hình sự.
Theo cáo trạng, ông Nguyễn Bá Hoan khi đương chức Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, mặc dù biết nhưng vẫn "bỏ mặc" cho cấp dưới tạo rào cản gây khó khăn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, buộc họ phải "bôi trơn" tổng số tiền hơn 30 tỉ đồng.
Trong giai đoạn 2017 - 2025, với vai trò Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, ông Tống Hải Nam đã chỉ đạo cấp dưới là Nguyễn Thành Hưng và Phan Thị Thu Trang (chuyên viên Phòng Pháp chế) gây khó khăn cho doanh nghiệp khi nộp hồ sơ đề nghị cấp mới hoặc cấp đổi giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Nguyễn Thành Hưng chủ động đưa ra mức "chi phí" từ 250 - 400 triệu đồng/hồ sơ cấp mới. Với hồ sơ cấp đổi, mức tiền thấp hơn.
Đối với ông Lê Tấn Dũng - nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - kết quả điều tra xác định ông đã ký 135 giấy phép xuất khẩu lao động trong giai đoạn từ 2019 - 2021. Trong đó có 7 doanh nghiệp liên quan đến việc đưa tiền "chạy giấy phép". Ông Dũng được xác định đã nhận 500 triệu đồng thông qua Tống Hải Nam khi ký 7 giấy phép.
Tuy nhiên cơ quan điều tra xác định nguyên Thứ trưởng Lê Tấn Dũng không được giao phụ trách Cục Quản lý lao động ngoài nước, không biết việc gây khó khăn, buộc doanh nghiệp phải đưa tiền của cấp dưới, không có sự bàn bạc, thỏa thuận hay tiếp xúc trực tiếp với doanh nghiệp.
Ông Dũng cũng đã nộp lại toàn bộ số tiền đã nhận nên không có căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Dũng, cáo trạng nêu.
Liên quan đến các cá nhân thuộc Cục Quản lý lao động ngoài nước, theo kết luận điều tra được ban hành trước đó, có 6 lãnh đạo, chuyên viên Phòng Tài chính - Kế toán đã nhận tiền khi tham gia các đoàn kiểm tra, với tổng số tiền từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng mỗi người.
Quá trình điều tra xác định các cá nhân này chỉ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra báo cáo tài chính, tiền ký quỹ của doanh nghiệp, không có vai trò quyết định trong việc đề xuất cấp giấy phép. Đồng thời không có tài liệu chứng minh việc họ gây khó khăn hoặc nhận tiền để xử lý nhanh hồ sơ.
Vì vậy không đủ căn cứ để xử lý hình sự, nhưng cần tịch thu sung công quỹ số tiền nhóm cán bộ này đã nhận từ doanh nghiệp.
Ngoài ra ông Nguyễn Xuân Long, nguyên thư ký lãnh đạo bộ, được xác định đã nhận 239 triệu đồng từ các cá nhân liên quan. Tuy nhiên kết quả điều tra xác định ông không có thỏa thuận nhận tiền với các bị can để bỏ qua lỗi hồ sơ trình phê duyệt nhanh giấy phép.
Vì vậy không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự, nhưng cần tịch thu sung công quỹ toàn bộ số tiền ông Long đã nhận, kết luận điều tra nêu.
Theo cáo trạng, tổng số tiền cựu Thứ trưởng Lê Tấn Dũng cùng 13 người gồm nguyên lãnh đạo, cán bộ của Bộ Lao động đã nộp lại là hơn 3,6 tỉ đồng. Trong đó, ông Đặng Sỹ Dũng, nguyên Phó cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, nộp lại số tiền nhiều nhất là 1 tỉ đồng.
Quá trình điều tra và truy tố vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nhận định các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn thiếu cụ thể, chưa bảo đảm tính chặt chẽ và đồng bộ.
Theo cơ quan tố tụng, những bất cập này đã tạo ra nhiều kẽ hở trong quá trình áp dụng pháp luật, dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất, đồng thời tạo điều kiện để một số cá nhân có thẩm quyền lợi dụng chức vụ gây phiền hà, nhũng nhiễu, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp.
Viện kiểm sát cũng cho rằng công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, cũng như việc kê khai, báo cáo thuế của doanh nghiệp, chưa được nâng cao. Trách nhiệm được xác định thuộc về Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các đơn vị liên quan khi chưa kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm xảy ra tại Cục Quản lý lao động ngoài nước và một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động.
Từ đó, viện kiểm sát kiến nghị cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra đối với các lĩnh vực này.
Chiều 26-6, ông Nguyễn Hùng Cường - Phó chủ tịch UBND xã Núi Cấm (tỉnh An Giang) - cho biết xã vừa xử phạt hành chính 7,5 triệu đồng đối với bà Trần Thị Thanh Nh. (38 tuổi, ở tổ 9, ấp Tân Thành, xã Núi Cấm) vì có hành vi lợi dụng mạng xã hội, cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật…
UBND xã Núi Cấm buộc bà Nh. gỡ bỏ thông tin sai sự thật và nộp phạt 7,5 triệu đồng vào Kho bạc Nhà nước.
Trước đó Tuổi Trẻ Online đưa tin, bà Nh. đã cung cấp thông tin đến cơ quan tổ chức xã Núi Cấm có phát hiện và chụp ảnh 1 con cá sấu xuất hiện trên kênh Vịnh Tre là thật.
Công an xã Núi Cấm và lực lượng chức năng đã xác minh những hộ dân xung quanh để truy vết bắt cá sấu trên. Tuy nhiên qua quá trình đấu tranh, khoảng 8h sáng 11-6, em Lê Ngọc Th. (con ruột bà Nh.) đến cơ quan Công an xã Núi Cấm khai nhận hình ảnh cá sấu trên được tạo dựng từ AI và được gửi vào nhóm Zalo của gia đình.
Liên quan việc này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang đã báo cáo và đề xuất Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang có văn bản gửi Công an tỉnh An Giang xem xét xử lý thông tin giả mạo, sai sự thật trên.
Quyền được Nhà nước bồi thường là quyền có tính chất hiến định, được ghi nhận xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013.
Thể chế hóa nguyên tắc này, Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường, từ Nghị định số 47-CP năm 1997, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
Sau gần 8 năm thi hành, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã trở thành công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hoạt động công vụ gây ra; đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trước Nhân dân và góp phần củng cố niềm tin vào pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng luật này cho thấy một số khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi.
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Từ Điều 8 đến Điều 12 của luật hiện hành quy định tương đối đầy đủ các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.
Tuy nhiên thực tế xuất hiện trường hợp người bị thiệt hại đã có kết luận tố cáo đúng hoặc kết luận thanh tra xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, nhưng cá nhân vi phạm không bị xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính do hết thời hiệu hoặc chưa đến mức xử lý.
Hệ quả là người bị thiệt hại không có văn bản thuộc diện luật quy định để làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Do đó, cần nghiên cứu bổ sung kết luận giải quyết tố cáo hoặc kết luận thanh tra theo quy định pháp luật xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là một trong các căn cứ phát sinh quyền yêu cầu bồi thường.
Thứ hai, về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Các Điều 17 đến Điều 21 luật hiện hành quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường theo hướng liệt kê. Tuy nhiên thực tiễn phát sinh nhiều trường hợp có hành vi trái pháp luật và có thiệt hại thực tế nhưng không thuộc diện được bồi thường.
Ví dụ: Luật quy định trách nhiệm bồi thường đối với việc cấp hoặc thu hồi giấy phép trái pháp luật, nhưng chưa quy định trường hợp hủy bỏ giấy phép trái pháp luật; hoặc quy định trách nhiệm đối với cấp, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật nhưng chưa điều chỉnh trường hợp không cấp giấy chứng nhận trái pháp luật.
Đặc biệt, cần nghiên cứu bổ sung cơ chế bồi thường trong trường hợp đặc biệt khi công lý không còn khả năng được thực hiện do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thực tiễn đặt ra những vụ việc mà người bị hại hoặc thân nhân chịu thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng nhưng cuối cùng không thể xử lý hình sự vì hết thời hiệu, trong khi quá trình giải quyết kéo dài có dấu hiệu gắn với trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật.
Trường hợp ông Đỗ Thanh An tại Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) mà báo Tuổi Trẻ nhiều lần phản ánh, là một ví dụ được dư luận quan tâm. Theo thông tin được báo phản ánh, gia đình nạn nhân nhiều năm cung cấp tài liệu, liên tục kiến nghị làm rõ cái chết của người mẹ. Tuy nhiên vụ việc kéo dài qua nhiều giai đoạn, đến khi xác định được đối tượng thì phát sinh vấn đề hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ thực tiễn đó, câu hỏi pháp lý được đặt ra không chỉ là còn hay không còn thời hiệu xử lý hình sự, mà còn là: Ai chịu trách nhiệm đối với những tổn thất vật chất và tinh thần kéo dài của gia đình người bị hại khi công lý không thể thực hiện được bằng bản án?
Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quyền sống được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, bảo vệ quyền tiếp cận công lý không chỉ dừng lại ở việc thiết lập chế tài hình sự mà còn cần cơ chế khắc phục khi quyền đó không được bảo vệ hữu hiệu.
Đề xuất này không đồng nghĩa mở rộng vô hạn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Cơ chế đặc biệt chỉ nên áp dụng khi đồng thời đáp ứng các điều kiện: thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng; có căn cứ cho thấy quá trình giải quyết vụ án kéo dài bất hợp lý hoặc có phần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng; việc hết thời hiệu làm mất cơ hội phục hồi quyền lợi chính đáng của người bị hại.
Trong quá trình thảo luận chính sách sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, nhưng đồng thời khẳng định Quốc hội vẫn là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuối cùng đối với những trường hợp đặc biệt phát sinh từ thực tiễn. Đó là một gợi mở đáng suy ngẫm: Pháp luật cần ổn định nhưng không nên khép kín trước những hoàn cảnh đặc biệt của đời sống.
Vì vậy, luật sửa đổi nên bổ sung trường hợp đặc biệt: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho thân nhân người bị thiệt hại trong vụ án hình sự bị đình chỉ do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội như vụ án ông Đỗ Thanh An cả đời đi tìm công lý sau cái chết của mẹ.