Trưng bày Thanh xuân gửi lại do Cục Văn thư lưu trữ nhà nước tổ chức ngày 17/7 giới thiệu hơn 100 hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B, trở thành cuộc hội ngộ của các thế hệ thầy cô giáo, y bác sĩ, kỹ sư… từng lên đường vào miền Nam dạy học, lao động, trực tiếp chiến đấu, giai đoạn 1959-1975.
Chủ trương xuất phát từ thực tế cấp bách chi viện sức người, sức của cho miền Nam sau thời kỳ càn quét, khủng bố của đối phương. Cán bộ miền Bắc được bổ sung cho miền Nam gọi là đi B. Ban đầu là lực lượng vũ trang, sau mở rộng ra nhiều ban ngành, từ cán bộ, Đảng viên, giáo viên đến y bác sĩ, kỹ sư, văn nghệ sĩ, do Ủy ban Thống nhất của Hội đồng Chính phủ quản lý.
Hành trình đi B luôn được giữ bí mật tuyệt đối, kể cả với người thân. Những người tình nguyện lên đường lặng lẽ rời nơi công tác, tập kết tại những địa chỉ bí mật tại Hà Nội, Hòa Bình, Hà Tây cũ. Tài liệu thuộc về tổ chức, nhân sự như lý lịch Đảng, lý lịch cán bộ, huân huy chương, tư trang như ảnh, nhật ký, thư từ, sổ tiết kiệm đều được gửi lại miền Bắc chờ ngày họ trở về.
Năm 26 tuổi, thầy giáo Nguyễn Việt Anh, khi ấy là Hiệu phó trường cấp 2 Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Tây cũ, nhận quyết định lên đường đi B. “Tôi muốn cống hiến một phần sức trẻ của mình cho ngày đất nước thống nhất”, thầy giáo từng dạy Văn kể về lý do tình nguyện viết đơn năm 1969. Cùng với thế hệ sinh viên các trường đại học gác bút nghiên trực tiếp ra trận, một lớp thầy cô giáo cũng lên đường.
Mùa đông năm 1969, đoàn cán bộ ngành giáo dục sau khi được đào tạo lý luận, học bắn súng, huấn luyện tân binh tập trung tại Hà Nội để lên đường. Gia đình, bạn bè đều không ai biết, thầy giáo Việt Anh cũng không kịp viết thư về cho gia đình bởi hành trình phải giữ bí mật. Cả đoàn gần trăm người đi tàu đến Quảng Bình rồi hành quân bộ vượt Trường Sơn để vào mặt trận.
Nhiều năm sau này, thầy giáo 82 tuổi vẫn nhớ đêm giao thừa giữa rừng Trường Sơn. Bữa tất niên đón năm mới chỉ có thanh lương khô, vắt cơm nắm mừng năm mới rồi lại tranh thủ hành quân tiếp. Đi bộ nửa năm họ mới tới được nơi làm nhiệm vụ, mấy lần chết hụt vì pháo kích, nhiều người rớt lại dọc đường vì kiệt sức, ốm nặng. Vào mặt trận, các thầy cô giáo ngoài dạy học còn kiêm cán bộ văn hóa, làm báo, nông vận, binh vận.
Ông Việt Anh được điều sang làm trợ lý văn hóa của Trung đoàn 180 – cơ quan an ninh bảo vệ Trung ương Cục miền Nam, đóng ở Tây Ninh. Thầy giáo trẻ chuyên đứng lớp bồi dưỡng văn hóa cho cán bộ tiểu đội của đơn vị, tiếp đón và hướng dẫn các đoàn giáo viên “tân binh” từ miền Bắc vào Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, ông trở lại Hà Nội năm 1976 và tiếp tục công tác trong ngành giáo dục cho đến lúc về hưu.
Trưng bày là dịp hiếm hoi giúp thầy giáo dạy Văn gặp gỡ bạn bè, đồng đội các thế hệ đi B, những người mà ông còn nhớ rõ mặt rõ tên, từ Lê Đình Lập đến Trọng Văn, Dương Ngọc Tấn… Ông chỉ tiếc trong đoàn hành quân năm ấy có bốn cô giáo thì một người đã nằm lại mặt trận phía Nam không kịp đợi ngày thống nhất. Nếu chọn lại, thầy giáo nói vẫn sẽ chọn lên đường.
Hội ngộ đồng nghiệp cũ, cô giáo Trần Thị Phú Bình lại chọn một chiếc khăn rằn gợi nhớ những tháng ngày đi B năm 1973. Người con gái phố Hàng Thiếc, Hà Nội năm nào không giấu niềm xúc động khi ngắm nhìn kỷ vật gửi lại miền Bắc thời thanh niên, từ tờ phiếu cắt lương thực đến lý lịch Đoàn viên. Tờ phiếu tiêu chuẩn mỗi tháng 12 kg gạo được cắt chuyển từ ngoài Hà Nội vào trong Trường đào tạo cán bộ miền Nam khi cô giáo Bình lên đường đi B.
“Không ngờ có ngày được nhìn lại kỷ vật của mình ngày xưa, đó là những ký ức không gì thay thế được”, bà nói, cho rằng những đóng góp của mình như “một hạt cát trong biển lớn” so với các thế hệ đã hy sinh và cống hiến cho đất nước.
Chung niềm xúc động như các thầy cô giáo, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị bất ngờ khi nhìn lại những kỷ vật gửi lại cho Ủy ban Thống nhất trước ngày lên đường đi B năm 1971. Từ lý lịch cá nhân, học bạ phổ thông đến chứng nhận Đoàn viên 4 tốt – những giấy tờ mà bản thân ông không dám chắc sau này sẽ còn được nhìn thấy. “Một bộ hồ sơ khiêm tốn” trong 72.000 bộ hồ sơ mà Cục Văn thư lưu trữ nhà nước đang gìn giữ.
“Điều may mắn là người còn sống, hiện vật còn giữ, anh em đồng chí bạn bè vẫn còn những cơ hội gặp mặt. Đó là niềm hạnh phúc đặc biệt”, ông nói.
Ông Nghị cho rằng mỗi cán bộ đi B ngày ấy lên đường với hoàn cảnh riêng khác nhau, nhưng có lẽ đều chung niềm suy nghĩ “Tổ quốc là trên hết”. Giấy tờ là kỷ vật cá nhân nhưng cũng gợi nhắc cho người đi qua cuộc chiến như ông ký ức về chiến trường, đồng đội, về những gì diễn ra trong quá khứ. Người Việt hôm nay sống trong hòa bình và phát triển nhưng vẫn có những giây phút nhìn lại, tri ân những người đã hy sinh trong kháng chiến.
Ông Đặng Thanh Tùng, Cục trưởng Văn thư và lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ, cho biết cơ quan đang bảo quản hơn 72.000 hồ sơ của cán bộ đi B. Đến nay, phần lớn giấy tờ vẫn đang tìm chủ nhân hoặc chờ gia đình đến nhận lại. Việc trao trả lại hồ sơ, kỷ vật gặp khó khăn do nhiều người đã qua đời hoặc tên làng xã, nơi ở trong giấy tờ đổi khác sau nhiều năm thay đổi địa giới hành chính.
Cục đã tham mưu cho Bộ nội vụ có văn bản gửi các địa phương kết nối tìm kiếm chủ nhân của các hồ sơ. Cơ quan này đồng thời kế hoạch số hóa toàn bộ tư liệu đưa lên website chính thức để các gia đình tra cứu và nhận lại bản sao hoặc trực tiếp tới số 12 Đào Tấn, Hà Nội.
“Riêng bản gốc đã thành tài sản quốc gia, sẽ được đơn vị bảo quản và gìn giữ cho mai sau”, ông nói.
Nội dung này được nêu ra tại họp báo thông tin về kết quả kỳ họp thứ nhất, với sự chủ trì của Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh.
Trả lời câu hỏi về việc có nghiên cứu để tăng thêm kỳ họp Quốc hội, đặc biệt khi kỳ họp thứ hai dự kiến tới tháng 10 mới diễn ra, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Văn Hiển cho rằng việc này đã được nêu trong Kết luận 19 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam trong điều kiện mới.
Theo ông Hiển, trong phiên khai mạc kỳ họp, Tổng Bí thư cũng đã nêu rõ, trong thế giới biến động không ngừng, Quốc hội không thể vận hành và làm theo cách làm cũ mà phải có năng lực thích ứng nhanh, nghiên cứu tăng tần suất các kỳ họp, đa dạng hóa và linh hoạt hóa các hình thức hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội.
Trước lo ngại về việc kỳ họp thứ hai dự kiến diễn ra vào tháng 10 có thể khiến cho các luật, nghị quyết cấp bách, quan trọng không được thể chế hóa kịp thời, ông Hiển cho hay theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội và nội quy kỳ họp, mỗi năm Quốc hội họp hai kỳ.
Trong trường hợp cấp bách, theo đề nghị của Chủ tịch nước, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, của Thủ tướng Chính phủ hoặc là 1/3 đại biểu Quốc hội có thể tổ chức kỳ họp không thường lệ.
Thực tiễn hoạt động của Quốc hội thời gian qua, bên cạnh những giá trị cốt lõi trong hoạt động nghị viện là dân chủ, pháp quyền, công khai, minh bạch, Quốc hội đẩy mạnh các giá trị hiện đại, linh hoạt, phản ứng chính sách nhanh.
Điều này giúp thu hẹp giữa chủ trương chính sách từ khi ban hành cho đến đi vào cuộc sống, thể chế hóa một cách đầy đủ và kịp thời để thực thi hiệu quả. Do đó, những vấn đề phát sinh thực tiễn, vấn đề cấp bách quan trọng cần phải thể chế hóa thuộc chức năng của Quốc hội, khi có đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn có thể tổ chức các kỳ họp Quốc hội ngay.
“Không có lý do gì chúng ta e ngại về việc không thể chế hóa nhanh được những vấn đề quan trọng, cấp bách thuộc thẩm quyền của Quốc hội vì lý do Quốc hội không tổ chức được kỳ họp” - ông Hiển khẳng định.
Về công tác nhân sự, Phó chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu Tạ Thị Yên khẳng định công tác này đã được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, bài bản, đúng theo quy trình cũng như quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch, đồng thuận, thống nhất cao.
"Điều quan trọng hơn, các nhân sự được bầu và phê chuẩn lần này đều là những cán bộ tiêu biểu, đã được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược và năng lực tổ chức thực hiện" - bà Yên nói.
Theo bà, đây là yếu tố then chốt để bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, hiệu quả trong toàn bộ hệ thống chính trị. Việc kiện toàn công tác nhân sự tại kỳ họp này không chỉ là bước kiện toàn về tổ chức, mà có ý nghĩa mở đầu cho nhiệm kỳ mới. Đó là tạo nền tảng vững chắc để triển khai các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Quốc hội, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.
Về các luật và nghị quyết được Quốc hội thông qua tại kỳ họp này, ông Nguyễn Trường Giang - Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp - cho hay nhiều luật và nghị quyết được thông qua đã kịp thời bám sát các yêu cầu của thực tiễn, được người dân quan tâm, thể hiện tinh thần lập pháp chủ động, thể chế hóa kịp thời các chủ trương chính sách.
Tại phiên chất vấn kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh Quảng Ngãi chiều nay 17.7, các đại biểu đã yêu cầu làm rõ nguyên nhân và giải pháp để hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% vốn trong những tháng cuối năm.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Quảng Ngãi, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được giao là 7.368,7 tỉ đồng. Sau khi thực hiện chủ trương tiết kiệm 5% kế hoạch vốn đầu tư công từ nguồn ngân sách địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tổng nguồn vốn còn hơn 7.075 tỉ đồng.
Tại phiên chất vấn, ông Nguyễn Kiên, Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh Quảng Ngãi, cho rằng tiến độ giải ngân hiện nay còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu, cần làm rõ những nguyên nhân khiến nhiều dự án chậm triển khai, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công.
Báo cáo của Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi cho biết, theo số liệu cập nhật của ngành, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 của tỉnh là 7.454 tỉ đồng. Sau khi thực hiện cắt giảm 5% theo chỉ đạo của Chính phủ, kế hoạch vốn còn khoảng 7.161 tỉ đồng.
Trả lời chất vấn tại kỳ họp, ông Nguyễn Văn Trọng, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi, cho biết đến ngày 30.6, toàn tỉnh đã giải ngân khoảng 2.115 tỉ đồng, đạt 28,4% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao và bằng 29,5% kế hoạch sau khi thực hiện tiết kiệm 5% ngân sách địa phương.
Theo ông Trọng, tiến độ giải ngân chậm xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là những vướng mắc kéo dài trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Nhiều dự án chưa có mặt bằng sạch để thi công do việc xác định giá đất cụ thể phục vụ bồi thường diễn ra chậm, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai công trình.
Bên cạnh đó, thị trường khan hiếm một số loại vật liệu xây dựng chủ yếu như đất đắp, cát, đá... cũng khiến nhiều gói thầu thi công không đạt tiến độ đề ra.
Một số dự án trọng điểm có kế hoạch vốn lớn trong năm 2026 cũng đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về thủ tục, đấu thầu, giải phóng mặt bằng…, trong đó có các dự án: cầu Trà Khúc 1; hệ thống thu gom và xử lý nước mưa, nước thải thành phố Quảng Ngãi thuộc lưu vực phía nam hạ lưu sông Trà Khúc; công viên cây xanh Thạch Bích...
Theo lãnh đạo Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi, đây đều là những dự án có tính chất phức tạp, phát sinh nhiều nội dung vượt thẩm quyền địa phương nên phải xin ý kiến, tham vấn các bộ, ngành trung ương. Quá trình xử lý kéo dài khiến nguồn vốn chưa thể giải ngân theo kế hoạch.
Để hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công trong 6 tháng cuối năm, ông Nguyễn Văn Trọng cho rằng các sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư phải triển khai đồng bộ nhiều giải pháp quyết liệt hơn.
Trong đó, các đơn vị cần nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ và UBND tỉnh; tập trung tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến đấu thầu, đấu giá quyền sử dụng đất nhằm tạo nguồn thu cho đầu tư phát triển.
Đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, các chủ đầu tư phải phối hợp chặt chẽ với địa phương để đẩy nhanh việc xác định giá đất, lập phương án bồi thường, tái định cư và bàn giao mặt bằng đúng tiến độ. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, đôn đốc các nhà thầu huy động nhân lực, thiết bị, tranh thủ thời tiết thuận lợi để đẩy nhanh thi công.
Lãnh đạo Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi cũng cho rằng tỉnh cần chủ động rà soát toàn bộ danh mục dự án, kịp thời điều chuyển vốn từ các dự án triển khai chậm hoặc không có khả năng giải ngân sang các dự án có tiến độ tốt, có nhu cầu bổ sung vốn, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư công trong năm 2026.
Ngày 7.4, các đơn vị chức năng Công an tỉnh Gia Lai cho biết đang khẩn trương củng cố hồ sơ để xử lý vụ thuốc lá lậu lớn nhất tỉnh từ trước đến nay, với số lượng tang vật đặc biệt lớn.
Trước đó, chiều 2.4, tại Trạm kiểm soát giao thông Tuy Phước, lực lượng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với lực lượng Cảnh sát giao thông và Đội quản lý thị trường số 3 phát hiện xe container nghi vấn vận chuyển thuốc lá lậu lưu thông theo hướng nam - bắc.
Tiến hành kiểm tra phương tiện mang biển kiểm soát 50E-646.49, lực lượng chức năng xác định xe do Đỗ Quốc Tánh (30 tuổi, ở xã An Lương, tỉnh Gia Lai) điều khiển, đi cùng Nguyễn Hữu Ba (38 tuổi, ở phường Bồng Sơn, tỉnh Gia Lai).
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe chở 224.810 bao thuốc lá điếu nhập lậu, đều do nước ngoài sản xuất và không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp. Đây được xác định là vụ thuốc lá lậu lớn nhất Gia Lai từng bị phát hiện.
Toàn bộ số hàng hóa này đều không rõ nguồn gốc, vi phạm quy định về kinh doanh và vận chuyển hàng cấm.
Hiện Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Gia Lai đã tạm giữ phương tiện, tang vật cùng những người liên quan để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.