Sự xuất hiện của phương thức kết nối Internet mới này đang thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận khi đặt lên bàn cân so sánh trực diện với các nhà mạng cáp quang truyền thống.
Chi phí phần cứng và giá cước hàng tháng
Theo dữ liệu từ hệ thống đặt hàng của Starlink, gói dịch vụ dành cho hộ gia đình tại Việt Nam có mức cước định kỳ là 1.711.100 đồng/tháng. Bên cạnh đó, để có thể sử dụng dịch vụ, người dùng phải đầu tư khoản chi phí phần cứng ban đầu khá lớn.
Cụ thể, bộ thiết bị đầu cuối thế hệ mới Standard 4X có giá là 10.269.900 đồng, cùng với phí vận chuyển và xử lý thiết bị là 578.900 đồng. Ngoài ra, người dùng cần đóng khoản tiền đặt cọc trước trị giá 2.026.300 đồng (khoản này sẽ được khấu trừ vào chi phí tổng của bộ thiết bị khi thực hiện thanh toán chính thức).
Đối chiếu với thị trường Internet cố định tại Việt Nam, mức giá của Starlink có sự chênh lệch rất lớn so với dịch vụ cáp quang truyền thống từ các nhà mạng lớn như FPT, VNPT và Viettel.
Hiện nay, các gói cước phổ thông của những đơn vị này chỉ dao động trong khoảng từ 195.000 đồng đến 359.000 đồng/tháng (tuỳ vào gói đăng ký).
Không những vậy, người dùng mạng cáp quang thông thường còn được các nhà mạng trong nước miễn phí hoặc hỗ trợ phần lớn chi phí thiết bị đầu cuối (Modem Wi-Fi) khi tham gia các chương trình cam kết sử dụng hoặc đóng trước cước.
Internet Starlink dành cho đối tượng nào?
Xét về mặt tốc độ lý thuyết, các gói cáp quang trong nước đang nắm lợi thế lớn khi cung cấp băng thông từ 500Mbps đến 1Gbps, vượt trội so với mức cam kết tối đa trên 400Mbps của gói Internet vệ tinh Starlink.
Thêm vào đó, độ trễ của cáp quang truyền thống luôn ổn định và thấp hơn đáng kể so với truyền dẫn tín hiệu qua không gian.
Tuy nhiên, việc so sánh thuần túy về giá thành và tốc độ chưa phản ánh toàn diện bản chất của hai loại hình dịch vụ này.
Internet cáp quang đòi hỏi hạ tầng dây cáp vật lý phức tạp, do đó dễ bị giới hạn tại những vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc trên các phương tiện di động đường biển.
Trong khi đó, Starlink vận hành dựa trên chùm vệ tinh quỹ đạo thấp (LEO), cho phép phủ sóng toàn cầu. Bộ thiết bị Standard 4X đi kèm Router Wi-Fi 6 của Starlink có khả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt, chịu gió trên 96km/h và tích hợp tính năng tự động làm tan tuyết, phục vụ mục đích kết nối mọi lúc mọi nơi.
Chia sẻ với phóng viên báo Dân trí, một chuyên gia trong lĩnh vực Internet vệ tinh đánh giá, Việt Nam có tiềm năng thị trường rất lớn đối với Starlink. Với dân số hơn 100 triệu người, nền kinh tế tăng trưởng nhanh và chính sách thúc đẩy số hóa của chính phủ, nhu cầu về Internet tốc độ cao, ổn định ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các khu vực chưa được phủ sóng đầy đủ.
“Việt Nam cũng nằm trong nhóm các quốc gia hàng đầu Đông Nam Á về dịch vụ số và mức độ tham gia trực tuyến. Starlink có lợi thế lớn tại vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa, nơi việc triển khai cáp quang tốn kém và mất nhiều thời gian. Bên cạnh đó, với đường bờ biển dài, nhiều tàu đánh cá và hải đảo, Việt Nam có nhu cầu chiến lược cao đối với kết nối vệ tinh”, vị chuyên gia đánh giá.
Theo đó, Internet Starlink có thể cung cấp hạ tầng số quan trọng cho các khu vực khó tiếp cận, hỗ trợ các dịch vụ thiết yếu.
Trong giáo dục, công nghệ này sẽ giúp học sinh tại những vùng khó khăn tiếp cận với các nền tảng học trực tuyến, tham gia lớp học ảo và khai thác nguồn tài nguyên giáo dục toàn cầu mà trước đây họ chưa từng có cơ hội tiếp cận.
Trong lĩnh vực y tế, Starlink có thể kết nối các trạm y tế từ xa với bệnh viện trung ương, hỗ trợ hiệu quả việc khám chữa bệnh từ xa, chẩn đoán bệnh chính xác hơn và điều phối cấp cứu kịp thời.
Đối với kinh tế biển, hệ thống Internet vệ tinh mang đến sự hỗ trợ thiết yếu cho tàu đánh cá và các hoạt động ngoài khơi, giúp duy trì liên lạc, đảm bảo an toàn cho thuyền viên, tối ưu hóa việc quản lý logistics và tiếp cận thị trường.
Trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh, Starlink cung cấp kết nối băng thông rộng với độ trễ thấp và khả năng mã hóa cao, hỗ trợ vận hành tại các căn cứ quân sự, tăng cường an ninh biên giới và nâng cao hiệu quả ứng phó khẩn cấp.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) ở vùng xa, cũng sẽ được hưởng lợi lớn từ công nghệ này. Nhờ vào kết nối ổn định, họ có thể kết nối với nền tảng thương mại điện tử, sử dụng công cụ điện toán đám mây và tiếp cận thị trường quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Những lợi ích của Starlink đã được minh chứng qua nhiều tình huống thực tế trên thế giới, với các tác động rõ rệt trong những bối cảnh khác nhau.
Có thể thấy, đối với người dùng phổ thông tại các đô thị và khu vực có hạ tầng viễn thông phát triển, cáp quang nội địa vẫn là giải pháp tối ưu nhờ chi phí rẻ hơn từ 5 đến 7 lần và tốc độ vượt trội.
Ngược lại, dịch vụ Internet vệ tinh hướng tới phân khúc khách hàng đặc thù như các tàu thủy, khu nghỉ dưỡng biệt lập, lực lượng cứu hộ, hoặc các hộ gia đình cư trú tại vùng địa hình hiểm trở nơi cáp quang không thể tiếp cận.
Thủ tướng ngày 4/6 phê duyệt Đề án hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030, cả nước phấn đấu có 5.000 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam phát sinh doanh thu từ thị trường quốc tế. Doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số đạt tối thiểu 55 tỷ USD mỗi năm, tăng trưởng bình quân 30%/năm.
Ngoài ra, Việt Nam sẽ có 60 doanh nghiệp công nghệ số đạt doanh thu từ thị trường nước ngoài từ 20 triệu USD trở lên và 5 doanh nghiệp đạt doanh thu một tỷ USD; thực hiện thành công 25 thương vụ mua bán, sáp nhập, liên doanh hoặc hợp tác chiến lược giữa doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam với đối tác quốc tế, mỗi thương vụ có giá trị từ một triệu USD.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực và thế giới; có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Thương hiệu Make in Vietnam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và có uy tín trên thị trường toàn cầu.
Đề án xác định doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam không chỉ làm chủ công nghệ và thị trường mà còn từng bước tham gia định hình xu hướng phát triển công nghệ số toàn cầu, đóng góp vào việc xây dựng các tiêu chuẩn, chuẩn mực và hệ sinh thái số quốc tế.
Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ sẽ ưu tiên nguồn lực cho các chương trình nghiên cứu, phát triển sản phẩm và dịch vụ công nghệ số Make in Vietnam có tiềm năng xuất khẩu, tập trung vào công nghệ chiến lược và công nghệ lõi. Các quỹ đầu tư trong và ngoài nước, cùng Quỹ Đầu tư Phát triển công nghiệp chiến lược, được khuyến khích ưu tiên nguồn vốn cho các dự án hướng tới thị trường quốc tế.
Mô hình hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp sẽ được thúc đẩy nhằm tăng cường nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ. Nhà nước cũng hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, thử nghiệm, bản địa hóa, tiêu chuẩn hóa sản phẩm để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, pháp lý, ngôn ngữ và văn hóa của từng thị trường; hỗ trợ chứng nhận, thử nghiệm độc lập và mở rộng hoạt động ra nước ngoài.
Theo đề án, Việt Nam sẽ xây dựng bộ nhận diện thương hiệu và cẩm nang truyền thông đa ngôn ngữ cho ngành công nghiệp công nghệ số nhằm quảng bá hình ảnh doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Chính phủ cũng sẽ lựa chọn 5 doanh nghiệp công nghệ số chủ lực để đóng vai trò dẫn dắt, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Các cơ chế ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn và chính sách phiếu hỗ trợ tài chính (voucher) sẽ được nghiên cứu, xây dựng nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường và tăng khả năng tiếp cận sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trong nước.
Được chế tạo từ các sợi thủy tinh hoặc nhựa mỏng, cáp quang hoạt động bằng cách chiếu ánh sáng vào một đầu, sau đó ánh sáng này phản xạ dọc theo cáp nhờ vào hiện tượng "phản xạ toàn phần bên trong", cho phép dữ liệu được truyền đi xa mà không bị hấp thụ bởi lớp vỏ bọc bên ngoài. Khi tín hiệu đến đích, bộ thu quang sẽ giải mã dữ liệu, chuyển đổi ánh sáng thành tín hiệu điện để thiết bị như máy tính, điện thoại hoặc TV có thể nhận và xử lý thông tin.
Mặc dù là giải pháp nâng cấp mới nhất từ các nhà cung cấp dịch vụ internet, nhưng thực tế cáp quang đã xuất hiện từ những năm 1950. Tuy nhiên, sự phổ biến của cáp quang chỉ gia tăng vào những năm 1980, khi các công ty như AT&T bắt đầu lắp đặt chúng cho cơ sở hạ tầng.
Ngay cả khi đã phát triển từ lâu, cáp quang đã không có thay đổi đáng kể. Tuy có những cải tiến về mật độ và lớp vỏ bọc nhằm giảm thiểu mất mát dữ liệu, nhưng khái niệm cốt lõi của cáp quang vẫn được giữ nguyên. Một trong những cải tiến mới là cáp "rỗng" nhằm truyền tải nhiều dữ liệu hơn trên mỗi sợi thủy tinh, với các ước tính cho thấy ánh sáng truyền qua sợi rỗng nhanh hơn 50%, từ đó giảm độ trễ và tăng tốc độ truyền tải.
Hiện tại, kỷ lục thế giới về tốc độ truyền dữ liệu qua cáp quang đã đạt mức 1,02 petabit mỗi giây, được thiết lập bởi các nhà khoa học Nhật Bản. Họ đang nghiên cứu các tiến bộ có thể áp dụng cho truyền thông đường dài trong tương lai.
Bất chấp sự chậm chạp trong việc phát triển cáp quang, đây vẫn được xem là giải pháp lý tưởng cho việc cung cấp internet đến các vùng nông thôn của nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Bất chấp các dịch vụ internet vệ tinh như Starlink đang được nhiều người ưa chuộng, tốc độ của nó vẫn không thể so sánh với mạng cáp quang hoàn chỉnh. Tuy nhiên, không phải mọi nơi trên Trái đất đều có thể tiếp cận với internet cáp quang, có nghĩa vẫn còn nhiều người chưa thể tiếp cận với kết nối internet tốt nhất thế giới.
Ngày 12/5, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã ký Thông tư số 48/2026/TT-BCA, kèm theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 11:2026/BCA, là quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu an ninh mạng cơ bản đối với thiết bị camera giám sát sử dụng giao thức Internet (camera IP).
Đây là lần đầu tiên Việt Nam ban hành quy chuẩn an ninh mạng dành riêng cho camera IP, được xem là bước đi quan trọng nhằm nâng cao mức độ an toàn cho các loại camera giám sát có kết nối Internet và tăng cường bảo vệ dữ liệu người dùng.
Thông tư sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7. Bắt đầu từ thời điểm này, tất cả các loại camera giám sát có kết nối Internet lưu hành tại Việt Nam phải tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về an ninh mạng.
Một trong những yêu cầu đáng chú ý nhất là quy định về mật khẩu mặc định sử dụng trên camera. Trước đây, các loại camera đều sử dụng chung một mật khẩu mặc định từ nhà sản xuất và đây là nguyên nhân chính khiến hàng ngàn camera giám sát tại Việt Nam dễ dàng bị xâm nhập.
Quy chuẩn mới yêu cầu mỗi camera IP phải sử dụng một mật khẩu riêng biệt và duy nhất, hoặc bắt buộc người dùng phải thiết lập mật khẩu mới ngay sau khi lắp đặt và sử dụng lần đầu. Nhà sản xuất camera cũng phải áp dụng các cơ chế xác thực có khả năng chống các công cụ dò quét mật khẩu tự động.
Quy chuẩn mới cũng yêu cầu nhà sản xuất camera phải cung cấp chức năng xóa dữ liệu cá nhân trực tiếp trên thiết bị.
Trước đây, người dùng thường lo lắng hình ảnh nhạy cảm vẫn còn lưu trên bộ nhớ hoặc máy chủ của hãng sau khi đã hủy tài khoản. Giờ đây, quy chuẩn bắt buộc camera phải có cơ chế cho phép người dùng xóa sạch dữ liệu cá nhân, các cấu hình riêng tư và các khóa mã hóa liên quan.
Điều này giúp người dùng hoàn toàn yên tâm khi muốn thanh lý thiết bị hoặc chuyển quyền sử dụng cho người khác.
Quy chuẩn mới buộc các hãng sản xuất camera phải minh bạch hoàn toàn về khả năng cảm biến của thiết bị. Người dùng sẽ được cung cấp tài liệu mô tả chi tiết camera có thể thu thập những loại dữ liệu nào: từ hình ảnh, âm thanh đến các dữ liệu nhạy cảm hơn như vân tay (sinh trắc học) hay vị trí địa lý.
Bên cạnh đó, nhà sản xuất phải có cơ chế để người dùng xác nhận sự đồng ý hoặc thu hồi sự đồng ý đối với việc thu thập và xử lý dữ liệu cá nhân bất cứ lúc nào.
Quy chuẩn mới cũng quy định camera IP phải có khả năng cho phép người dùng lưu trữ dữ liệu tại các máy chủ ở Việt Nam, giúp giảm thiểu rủi ro dữ liệu bị chuyển ra nước ngoài.
Từ ngày 1/7, các hãng camera cũng phải công bố rõ ràng thời hạn hỗ trợ bảo hành và cập nhật phần mềm cho từng sản phẩm. Khi có bản vá lỗi phần mềm, camera phải tự động thông báo để người dùng cài đặt một cách an toàn và thuận tiện nhất, tránh nguy cơ tin tặc có thể khai thác lỗ hổng bảo mật để tấn công và lấy cắp hình ảnh từ camera.
Quy chuẩn cũng yêu cầu thiết bị phải có khả năng tự khôi phục hoạt động bình thường và kết nối lại theo một trình tự ổn định sau khi gặp sự cố về nguồn điện hoặc đường truyền. Điều này giúp người dùng không còn phải vất vả cấu hình lại camera mỗi khi mất điện hoặc gặp sự cố về kết nối mạng.
QCVN 11:2026/BCA được áp dụng với mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nhập khẩu camera IP tại thị trường Việt Nam.
Với sự ra đời của quy chuẩn này, người dùng không còn phải tự mình trở thành chuyên gia an ninh mạng để bảo vệ gia đình trước nguy cơ bị rò rỉ hình ảnh, nội dung nhạy cảm từ camera giám sát.
Camera IP (Internet Protocol Camera) là loại camera giám sát có khả năng kết nối Internet, có địa chỉ IP riêng. Tùy thuộc vào chức năng được trang bị, camera IP có thể ghi và truyền hình ảnh, âm thanh trực tiếp hoặc lưu trữ cả thông tin về vị trí địa lý nơi camera được lắp đặt.
Ưu điểm của camera IP là có thể xem hình ảnh trực tiếp thông qua Internet ở bất kỳ đâu, hình ảnh độ phân giải cao, lưu trữ dữ liệu linh hoạt (có thể lưu trữ trực tiếp trên thiết bị hoặc lưu trên máy chủ của nhà sản xuất)…
Tuy nhiên, nhược điểm của loại camera giám sát này là nguy cơ bị tin tặc xâm nhập để xem trộm nội dung đang được giám sát, mất khả năng hoạt động khi mạng yếu…