Trung Quốc từ lâu chỉ tiến hành các vụ thử nghiệm vũ khí trong phạm vi biên giới của mình. Tuy nhiên, hôm 6/7, họ đã gây bất ngờ khi thông báo thử thành công tên lửa chiến lược phóng từ tàu ngầm hạt nhân, nhắm vào mục tiêu trên vùng biển quốc tế ở Thái Bình Dương.
Hải quân Trung Quốc cho biết đây là nội dung huấn luyện thường niên, các nước liên quan đã được thông báo trước và vụ phóng không nhằm vào bất kỳ quốc gia hay mục tiêu cụ thể nào.
Dù vậy, Thủ tướng Quần đảo Solomon Matthew Wale ngày 7/7 lên tiếng phản đối việc đầu đạn mô phỏng trong cuộc thử nghiệm rơi xuống vùng biển gần quốc đảo này. “Chúng tôi không muốn bất kỳ ai thử nghiệm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa ở khu vực Thái Bình Dương. Hãy là bạn của chúng tôi, đừng đe dọa chúng tôi”, ông Wale tuyên bố.
Truyền thông nhà nước Trung Quốc khẳng định cuộc thử nghiệm là bằng chứng cho thấy Bắc Kinh đang đi đúng hướng trong việc hoàn thiện bộ ba răn đe hạt nhân, giúp họ nắm lợi thế lớn hơn nếu xảy ra khủng hoảng khu vực hay kịch bản đối đầu với Washington.
“Bộ ba hạt nhân” là thuật ngữ chỉ năng lực răn đe chiến lược của các quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, gồm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa phóng từ đất liền (ICBM), tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) và tên lửa, bom được phóng từ oanh tạc cơ chiến lược.
Duy trì “bộ ba” này giúp các cường quốc hạt nhân hạn chế nguy cơ lực lượng chiến lược bị xóa sổ trong đòn phủ đầu, bảo đảm khả năng tấn công trả đũa và năng lực răn đe hạt nhân đáng tin cậy. Hiện có 4 nước sở hữu bộ ba răn đe hạt nhân gồm Nga, Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ.
“Bộ ba hạt nhân quốc gia của chúng ta vừa có một bước nâng cấp mới”, Global Times, tờ báo thuộc People’s Daily, cơ quan ngôn luận đảng Cộng sản Trung Quốc, hôm 7/7 bình luận về vụ thử.
“Lực lượng hạt nhân trên biển có khả năng thực hiện các đòn phản công chiến lược ổn định, đáng tin cậy từ bất kỳ nơi nào trên vùng biển rộng lớn của Thái Bình Dương”, tờ báo dẫn lời một chuyên gia Trung Quốc cho biết.
Theo Evan S. Medeiros, giáo sư tại Đại học Georgetown, cựu giám đốc cấp cao phụ trách châu Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia dưới thời tổng thống Barack Obama, cuộc thử nghiệm cho thấy Bắc Kinh đang ngày càng tự tin với năng lực hạt nhân dưới đáy đại dương và đã mạnh dạn hơn trong việc tiến hành thử tên lửa trên vùng trời và vùng biển quốc tế.
“Về cơ bản, Trung Quốc tiến hành vụ thử vì họ cần kiểm tra tính năng kỹ chiến thuật cho năng lực tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm mới nhất. Nhưng còn một thông điệp lớn hơn gửi tới thế giới là Trung Quốc đã sở hữu một bộ ba hạt nhân vận hành toàn diện”, Medeiros nhận định. “Trung Quốc đang thăm dò các giới hạn trong chiến lược phòng thủ của Mỹ”.
Suốt nhiều thập kỷ, Trung Quốc duy trì kho vũ khí hạt nhân khá khiêm tốn, nhỏ hơn nhiều so với Mỹ và Nga, và thường chỉ thử nghiệm các tên lửa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân bên trong đất nước. Đây mới là lần thứ ba Trung Quốc tiến hành thử nghiệm tên lửa tầm xa ở Thái Bình Dương. Lần đầu tiên diễn ra năm 1980 và lần gần nhất vào năm 2024.
Hồi tháng 2, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách kiểm soát vũ khí Thomas DiNanno nói rằng Trung Quốc đã bí mật thử hạt nhân vào năm 2020 và đang chuẩn bị cho những đợt thử nghiệm quy mô lớn. Ông Thẩm Kiện, đặc phái viên Trung Quốc về giải trừ quân bị, tuyên bố nước này “luôn thận trọng và thể hiện trách nhiệm cao nhất trong các vấn đề liên quan đến vũ khí hạt nhân”, song không trực tiếp phản hồi phát biểu từ Thứ trưởng DiNanno.
Medeiros cho rằng qua vụ thử lần này, Trung Quốc muốn gửi thông điệp mạnh mẽ tới Mỹ cùng các đối thủ rằng họ hoàn toàn có thể phô diễn sức mạnh theo những cách mới mang tính răn đe hơn.
Hiện vẫn chưa rõ vị trí chính xác của tàu ngầm Trung Quốc phóng tên lửa. Trước đó, hôm 6/7, cơ quan hàng hải Trung Quốc đã phát thông báo cảnh báo về những nguy hiểm tiềm ẩn tại vùng biển phía bắc và đông nam đất nước.
Giới chuyên gia quân sự phương Tây nhận định tên lửa có thể được phóng từ khu vực vịnh Bột Hải ở bờ biển phía đông bắc Trung Quốc, sau đó bay theo đường vòng cung về phía đông nam hơn 6.900 km rồi rơi xuống vùng biển ngoài khơi Quần đảo Solomon.
“Trung Quốc muốn nói với thế giới rằng họ đang sở hữu một vũ khí đủ sức làm chủ cả vùng Thái Bình Dương”, Justin Bassi, cựu cố vấn an ninh quốc gia của chính phủ Australia, hiện là giám đốc điều hành Viện Chính sách Chiến lược Australia tại Canberra, cho hay.
Nỗ lực thu hẹp khoảng cách với Mỹ
Những cuộc thử nghiệm như vậy phải mất nhiều tháng chuẩn bị và mục tiêu lớn nhất của Trung Quốc lần này là nhằm thu hẹp khoảng cách với Mỹ về lực lượng hạt nhân trên biển, theo Bassi. Dù Trung Quốc đang tăng tốc mở rộng kho tên lửa tầm xa trên đất liền, năng lực hạt nhân dưới biển của họ vẫn tỏ ra lép vế.
Sức mạnh răn đe của tàu ngầm hạt nhân nằm ở khả năng hoạt động âm thầm để ẩn mình. Mục tiêu của chúng là tránh bị phát hiện, khiến đối thủ luôn phải dè chừng một đòn tấn công bất ngờ từ lòng biển sâu.
Trung Quốc đang sở hữu khoảng 14 tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, trong đó 6 chiếc Type-094 được trang bị tên lửa JL-2 với tầm bắn khoảng 8.000-9.000 km hoặc tên lửa JL-3 có tầm bắn hơn 10.000 km, chuẩn đô đốc Mike Brookes, Giám đốc Cơ quan Tình báo Hải quân Mỹ, cho biết trước quốc hội hồi tháng 3.
Chưa rõ trong vụ thử ngày 6/7, Trung Quốc đã phóng tên lửa từ loại tàu ngầm nào và loại tên lửa được sử dụng là gì, bởi Bắc Kinh rất hiếm khi công bố những chi tiết như vậy. Theo Andrew Erickson, giáo sư tại Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ, loại tàu ngầm thực hiện vụ phóng có thể là Type-094 và loại tên lửa nhiều khả năng là JL-3.
Tàu ngầm Type-094 có khuyết điểm lớn là phát ra nhiều tiếng ồn khi hoạt động, dễ bị đối phương phát hiện qua hệ thống thủy âm. Văn phòng Tình báo Hải quân Mỹ ước tính mẫu tàu này tạo ra tiếng ồn lên tới 140 decibel khi hoạt động ở tần số thấp, cao hơn tàu ngầm Delta III do Liên Xô phát triển từ những năm 1970.
Mỹ hiện sở hữu khoảng 70 tàu ngầm hạt nhân và chúng thường chạy rất êm, khiến hải quân Trung Quốc gặp nhiều khó khăn trong việc theo dõi, phát hiện. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã và đang đầu tư rất mạnh tay để thu hẹp khoảng cách này, Bruce Jones, học giả tại Viện Brookings, trụ sở tại Washington, cho biết.
“Trung Quốc đang ráo riết chạy đua để bắt kịp về chất lượng và sẵn sàng bứt phá vượt trội về số lượng”, ông nói. “Nhiều khả năng chúng ta sẽ còn chứng kiến thêm các cuộc thử nghiệm khác tương tự”.
Ảnh vệ tinh chụp hồi đầu năm 2023 cho thấy tàu ngầm Type-096 Trung Quốc, thế hệ kế tiếp của Type-094 và đang trong quá trình phát triển, được trang bị hệ thống đẩy phản lực dòng nước (pump-jet), thay vì dùng hệ thống động lực truyền thống với chân vịt 6 hoặc 7 cánh lộ thiên.
Thiết kế pump-jet có nhiều ưu điểm như tốc độ cao, độ ồn thấp và không tạo ra bong bóng khí như chân vịt, giúp tăng bán kính hoạt động và giảm khả năng bị phát hiện của tàu ngầm. Đây là lần đầu tiên công nghệ giảm tiếng ồn đang được Mỹ sử dụng này xuất hiện trên tàu ngầm Trung Quốc.
Tàu Type-096 có phần thân lớn hơn bất kỳ tàu ngầm nào đang trong biên chế hải quân Trung Quốc. Kích thước lớn cho phép nó có thể lắp đệm hấp thụ âm thanh để giảm tiếng ồn từ động cơ, tương tự thiết kế của tàu ngầm Nga. Lầu Năm Góc đánh giá Type-096 có thể mang được 24 tên lửa JL-3.
“Công nghệ giảm tiếng ồn của Trung Quốc chưa hoàn thiện, song đang được đầu tư bài bản, toàn diện và ngày càng tiến bộ”, chuyên gia Erickson nhận xét.
William Alberque, cựu giám đốc một trung tâm kiểm soát vũ khí và giải trừ quân bị thuộc NATO, hiện là nhà phân tích cấp cao tại Diễn đàn Thái Bình Dương, Mỹ, nhận định vị trí phóng được dự đoán trong cuộc thử nghiệm mới nhất của Trung Quốc phù hợp với chiến lược “pháo đài” đang hình thành đối với lực lượng tên lửa hạt nhân phóng từ tàu ngầm.
Theo chiến lược này, các tàu ngầm Trung Quốc sẽ ẩn mình ở những vùng biển gần bờ và được bảo vệ bởi hệ thống phòng thủ dày đặc trên đất liền, nhằm tránh bị phát hiện hoặc tấn công. Từ các khu vực này, tên lửa hạt nhân JL-3 phóng từ tàu ngầm của họ có thể bắn tới nhiều mục tiêu chiến lược ở khoảng cách xa, thậm chí tới bên kia bờ Thái Bình Dương.
“Tại pháo đài đó, không ai có thể ngăn chặn một chiếc tàu ngầm khổng lồ phóng những quả tên lửa tầm xa như vậy”, Alberque nói.
Reuters và Guardian ngày 20/5 dẫn nội dung bức điện từ Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết các nhà ngoại giao tại đại sứ quán Mỹ ở Jerusalem đã được chỉ thị chuyển thông điệp rằng việc Đại sứ Palestine tại Liên Hợp Quốc (LHQ) Riyad Mansour ứng cử vào ghế Phó chủ tịch Đại hội đồng sẽ "làm gia tăng căng thẳng".
Động thái này cũng có nguy cơ làm suy yếu kế hoạch hòa bình Gaza của Tổng thống Donald Trump, nên sẽ phải đối mặt với hậu quả từ Washington nếu tiếp tục, Bộ Ngoại giao Mỹ cảnh báo trong bức điện.
"Nói rõ hơn, chúng tôi sẽ quy trách nhiệm cho chính quyền Palestine nếu phái đoàn Palestine không rút lại ứng cử vào vị trí Phó chủ tịch Đại hội đồng LHQ", bức điện nêu.
Bức điện đề cập quyết định của Bộ Ngoại giao Mỹ hồi tháng 9/2025 về việc miễn trừ lệnh cấm cấp visa cho các quan chức Palestine được cử đến phái đoàn Palestine tại LHQ.
"Sẽ thật đáng tiếc nếu phải xem xét lại bất kỳ lựa chọn nào khả thi", phía Mỹ cảnh báo, nhắc tới khả năng thu hồi visa của phái đoàn Palestine tại LHQ.
Phái đoàn Palestine tại LHQ chưa phản hồi về thông tin. Bộ Ngoại giao Mỹ cũng từ chối bình luận.
Đại sứ Mansour đã rút lui khỏi cuộc tranh cử chức Chủ tịch Đại hội đồng LHQ hồi tháng 2, nhưng khi đó cho biết thêm rằng nếu được bầu vào chức Phó chủ tịch, ông vẫn có thể chủ trì các phiên họp của Đại hội đồng.
Cuộc bầu cử Chủ tịch và 16 Phó chủ tịch Đại hội đồng LHQ dự kiến diễn ra vào ngày 2/6. Chính quyền Trump từ lâu đã phản đối nỗ lực thành lập nhà nước Palestine và cho rằng việc Đại sứ Palestine được bầu làm Phó chủ tịch Đại hội đồng có thể ảnh hưởng đến các phiên họp liên quan đến tình hình Trung Đông.
Ngày 14/6 có thể trở thành một dấu mốc đáng nhớ không chỉ trong quan hệ Mỹ - Iran mà còn đối với toàn bộ cấu trúc an ninh Trung Đông. Việc Washington và Tehran tuyên bố đạt được thỏa thuận hòa bình sơ bộ sau hơn 3 tháng xung đột quân sự trực tiếp ngay lập tức thu hút sự chú ý của giới quan sát quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động đối với Iran, thị trường năng lượng hay các nước Ả rập vùng Vịnh, một câu hỏi khác đang nổi lên: thỏa thuận này sẽ ảnh hưởng thế nào đến quan hệ Mỹ - Israel - mối quan hệ vốn được xem là một trong những liên minh bền chặt nhất trong lịch sử hiện đại?
Trong nhiều thập niên, Israel luôn là đồng minh chiến lược quan trọng nhất của Mỹ tại Trung Đông. Hai nước chia sẻ lợi ích an ninh, hợp tác tình báo sâu rộng và duy trì mức độ phối hợp quân sự gần như chưa từng có giữa Mỹ với bất kỳ quốc gia nào ngoài NATO. Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy hai nước không phải lúc nào cũng đồng thuận trong cách thức xử lý các thách thức khu vực, nhất là vấn đề Iran.
Những diễn biến dẫn tới thỏa thuận ngày 14/6 làm lộ rõ một thực tế đáng chú ý: trong khi chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump ưu tiên giảm căng thẳng, ổn định thị trường năng lượng và mở ra cơ hội đàm phán hạt nhân mới với Tehran, giới lãnh đạo Israel vẫn coi việc kiềm chế lâu dài năng lực chiến lược của Iran là mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Sự khác biệt này chưa đủ để tạo ra một cuộc khủng hoảng trong quan hệ đồng minh, nhưng đã đặt ra những câu hỏi quan trọng về tương lai phối hợp chiến lược giữa hai bên trong giai đoạn hậu xung đột.
Mỹ và Israel không nhìn Iran bằng cùng một lăng kính?
Trong suốt nhiều năm, Iran là nhân tố gắn kết lợi ích chiến lược giữa Mỹ và Israel. Cả hai đều coi chương trình hạt nhân của Tehran là mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh khu vực. Tuy nhiên, cùng một mục tiêu không đồng nghĩa với cùng một phương pháp.
Từ đầu năm 2026 đến nay, khi xung đột Mỹ - Iran leo thang nghiêm trọng, Israel nhiều lần thúc đẩy lập trường cứng rắn hơn đối với Tehran. Các nguồn tin thân tín từ Mỹ, châu Âu và Trung Đông cho thấy Israel tin rằng đây là thời cơ thuận lợi để làm suy yếu đáng kể năng lực hạt nhân và mạng lưới lực lượng đồng minh của Iran trong khu vực. Một số nhà phân tích Israel thậm chí cho rằng áp lực quân sự cần được duy trì cho đến khi Tehran chấp nhận những nhượng bộ chiến lược căn bản.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của Mỹ dần thay đổi khi cuộc xung đột kéo dài hơn dự kiến. Việc Iran duy trì khả năng đáp trả cứng rắn và hiệu quả với chiến lược “chiến tranh bất đối xứng”, các tuyến hàng hải tại eo biển Hormuz bị gián đoạn và giá năng lượng tăng mạnh đã khiến Nhà Trắng đối mặt với những sức ép ngày càng lớn. Từ góc nhìn của Mỹ, một cuộc chiến tiêu hao kéo dài không còn mang lại lợi ích tương xứng với chi phí phải bỏ ra.
Chính trong bối cảnh đó, tiến trình đàm phán do Pakistan và một số nước Trung Đông làm trung gian được thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Khi triển vọng thỏa thuận xuất hiện, ưu tiên của Washington chuyển dần từ “gây sức ép tối đa” sang “quản lý xung đột và ổn định khu vực”.
Đây cũng là thời điểm xuất hiện những tín hiệu cho thấy Mỹ và Israel không hoàn toàn đồng thuận. Một số nguồn tin quốc tế cho biết Tổng thống Trump đã bày tỏ sự không hài lòng đối với các hoạt động quân sự của Israel gần Beirut trong giai đoạn đàm phán nhạy cảm. Dù chưa thể coi đây là một bất đồng chiến lược nghiêm trọng, nhưng sự việc phản ánh khác biệt trong tính toán giữa hai đồng minh: Washington muốn bảo vệ tiến trình ngoại giao, trong khi Tel Aviv lo ngại bất kỳ sự nhượng bộ nào cũng có thể giúp Iran có thêm thời gian tái tổ chức và phục hồi.
Theo nhận định của nhiều học giả, điểm khác biệt cốt lõi nằm ở nhận thức về rủi ro. Đối với Mỹ, Iran là một thách thức quan trọng nhưng không phải là mối đe dọa hiện hữu trực tiếp. Trong khi đó, đối với Israel, Iran vẫn là đối thủ chiến lược có khả năng ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh quốc gia. Chính sự khác biệt về vị thế địa lý và môi trường an ninh đã dẫn tới những khác biệt trong cách tiếp cận.
Thỏa thuận với Iran có làm suy yếu liên minh Mỹ - Israel?
Câu hỏi được các chuyên gia đặt ra sau ngày 14/6 là liệu thỏa thuận sơ bộ với Iran có làm suy yếu liên minh Mỹ - Israel hay không. Đến thời điểm hiện tại, câu trả lời có lẽ là “chưa”. Lịch sử quan hệ hai nước cho thấy Washington và Tel Aviv từng nhiều lần bất đồng về các vấn đề lớn mà không làm thay đổi bản chất liên minh. Từ cuộc khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956, tiến trình hòa bình Oslo những năm 1990 cho tới thỏa thuận hạt nhân JCPOA năm 2015, hai bên đã không ít lần tranh cãi gay gắt nhưng cuối cùng vẫn duy trì quan hệ đồng minh chiến lược.
Sự gắn kết giữa Mỹ và Israel không chỉ dựa trên một vấn đề đơn lẻ như Iran. Nó được xây dựng trên nền tảng lợi ích địa chính trị, hợp tác quốc phòng, chia sẻ công nghệ quân sự, tình báo và sự ủng hộ rộng rãi của nhiều lực lượng chính trị tại Mỹ đối với Israel.
Ngay cả trong bối cảnh hiện nay, Mỹ vẫn tiếp tục khẳng định cam kết bảo đảm an ninh cho Israel. Các chương trình hỗ trợ quân sự, hợp tác phòng thủ tên lửa và chia sẻ thông tin tình báo không có dấu hiệu bị cắt giảm.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là thỏa thuận với Iran có thể làm thay đổi trọng tâm trong quan hệ song phương. Nếu tiến trình hòa giải Mỹ - Iran tiếp tục được duy trì, Washington có thể ưu tiên hơn cho việc quản lý cạnh tranh với Tehran thay vì đối đầu toàn diện.
Trong khi đó, Israel có thể tiếp tục thúc đẩy chính sách phòng ngừa chủ động nhằm ngăn chặn bất kỳ khả năng phục hồi nào của Iran. Nói cách khác, liên minh Mỹ - Israel có khả năng vẫn bền vững, nhưng mức độ đồng thuận chiến lược về Iran có thể giảm xuống so với giai đoạn trước.
Một số chuyên gia tại các viện nghiên cứu chiến lược ở Mỹ đưa ra nhận định rằng đây là hiện tượng bình thường của các “liên minh trưởng thành”. Khi môi trường an ninh thay đổi, các đồng minh không nhất thiết phải thống nhất về mọi vấn đề, miễn là vẫn chia sẻ những lợi ích cốt lõi.
Hồ sơ hạt nhân Iran sẽ là phép thử lớn nhất
Tương lai quan hệ Mỹ - Israel trong những tháng tới phụ thuộc rất lớn vào kết quả vòng đàm phán hạt nhân kéo dài 60 ngày giữa Washington và Tehran. Đây chính là nơi lợi ích của Mỹ và Israel có thể giao thoa hoặc xung đột.
Nếu Mỹ đạt được một thỏa thuận đủ chặt chẽ, bao gồm cơ chế thanh sát hiệu quả, giới hạn nghiêm ngặt đối với hoạt động làm giàu uranium và khả năng kiểm chứng độc lập, Israel có thể chấp nhận dù vẫn duy trì sự hoài nghi nhất định.
Ngược lại, nếu Israel cho rằng thỏa thuận mới cho phép Iran duy trì quá nhiều năng lực hạt nhân hoặc tạo điều kiện để Tehran phục hồi kinh tế mà không có các ràng buộc tương xứng, bất đồng có thể gia tăng đáng kể.
Kinh nghiệm từ Thỏa thuận hạt nhân JCPOA là một bài học thực tiễn. Năm 2015, chính quyền Mỹ khi đó coi thỏa thuận hạt nhân là thành tựu ngoại giao quan trọng, trong khi Thủ tướng Benjamin Netanyahu lại xem đó là “sai lầm chiến lược”. Sự khác biệt ấy từng tạo ra giai đoạn căng thẳng đáng kể trong quan hệ hai nước.
Nguy cơ tương tự vẫn hiện hữu. Điều khiến Israel lo ngại không chỉ là chương trình hạt nhân. Nước này còn quan tâm tới mạng lưới các lực lượng đồng minh của Iran tại Li băng, Syria, Iraq, Yemen. Trong khi đó, các nội dung liên quan Hezbollah, Houthi hay các lực lượng thuộc “trục kháng chiến” dường như chưa được đưa vào trọng tâm của thỏa thuận sơ bộ ngày 14/6. Đây là khoảng trống mà giới hoạch định chính sách Israel có thể coi là điểm yếu của tiến trình hòa bình hiện nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia Trung Đông, nếu Mỹ và Iran chỉ giải quyết được vấn đề hạt nhân mà không xử lý các yếu tố an ninh khu vực rộng lớn hơn, nguy cơ bất ổn vẫn sẽ tồn tại trong trung hạn.
Từ bất đồng chiến thuật đến tái định hình quan hệ đồng minh?
Nhìn rộng hơn, thỏa thuận hòa bình sơ bộ ngày 14/6 không nhất thiết báo hiệu sự rạn nứt giữa Mỹ và Israel. Nhưng nó có thể mở đầu cho một giai đoạn điều chỉnh trong cách thức hai bên phối hợp chiến lược.
Trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gia tăng, Mỹ đang phải phân bổ nguồn lực cho nhiều khu vực cùng lúc, từ châu Âu tới Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Điều đó khiến Mỹ có xu hướng tìm kiếm những cơ chế quản lý xung đột hiệu quả hơn tại Trung Đông thay vì sa lầy trong các cuộc đối đầu kéo dài.
Israel hiểu điều này, nhưng đồng thời cũng lo ngại rằng việc giảm áp lực đối với Iran có thể tạo ra những thách thức an ninh mới trong tương lai.
Do đó, triển vọng quan hệ Mỹ - Israel sau thỏa thuận sơ bộ với Iran nhiều khả năng sẽ mang hai đặc điểm song song. Thứ nhất, liên minh chiến lược giữa hai nước khó có khả năng bị phá vỡ. Những nền tảng chính trị, quân sự và xã hội của quan hệ song phương vẫn rất vững chắc. Thứ hai, những bất đồng về cách xử lý Iran có thể xuất hiện thường xuyên hơn. Nếu trước đây hai bên chủ yếu phối hợp trong một chiến lược gây sức ép, thì trong giai đoạn tới họ có thể phải học cách quản lý sự khác biệt trong khi vẫn duy trì hợp tác.
Đối với Trung Đông, đây là diễn biến đáng chú ý. Trong nhiều năm, sự đồng thuận gần như tuyệt đối giữa Mỹ và Israel là một trong những yếu tố định hình cục diện khu vực. Nếu mức độ đồng thuận ấy thay đổi, ngay cả khi liên minh được duy trì, cán cân chiến lược Trung Đông cũng có thể chuyển động theo chiều hướng mới.
Đến nay, còn quá sớm để kết luận liệu thỏa thuận sơ bộ giữa Mỹ và Iran có trở thành bước ngoặt lịch sử hay chỉ là một giai đoạn đình chiến, tạm lắng. Nhưng có một điều đã rõ rằng tiến trình này không chỉ đang thử thách quan hệ Mỹ - Iran mà còn đang đặt quan hệ Mỹ - Israel trước một phép thử chiến lược mới.
Cách Mỹ và Israel vượt qua phép thử đó sẽ ảnh hưởng không chỉ tới tương lai của hai đồng minh, mà còn tới toàn bộ cấu trúc an ninh Trung Đông những năm tới.
Politico ngày 4/6 dẫn lời hai quan chức châu Âu và một quan chức Mỹ tiết lộ Washington đang lo ngại Moskva có động thái trả đũa nếu Tổng thống Donald Trump cho triển khai tên lửa hành trình Tomahawk tại châu Âu theo thỏa thuận từ thời chính quyền tiền nhiệm.
Bên cạnh đó, Washington cũng không mặn mà với kế hoạch vì kho dự trữ vũ khí đang thiếu hụt sau xung đột Trung Đông, theo các quan chức.
Giới chức Mỹ và Đức chưa bình luận về thông tin.
Kế hoạch ban đầu về triển khai tên lửa Tomahawk tại Đức được công bố giữa năm 2024, với thỏa thuận đạt được giữa lãnh đạo hai nước thời điểm đó là ông Olaf Scholz và ông Joe Biden. Động thái nhằm đối phó việc Nga bố trí tên lửa Iskander tại lãnh thổ hải ngoại Kaliningrad, cho phép tập kích thủ đô nhiều nước Tây Âu chỉ trong vài phút.
Tuy nhiên, kế hoạch đến nay chưa được chính quyền Tổng thống Trump phê duyệt.
Thủ tướng Friedrich Merz tháng trước bày tỏ "không có nhiều kỳ vọng" rằng Mỹ sẽ triển khai tên lửa Tomahawk tại Đức, do nguồn cung tên lửa hành trình eo hẹp sau chiến sự Trung Đông. "Mỹ hiện còn không có đủ vũ khí để sử dụng", ông nói trên truyền hình Đức.
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cuối tháng 5 ước tính Mỹ đã phóng hơn 1.000 quả Tomahawk vào Iran và chỉ có thể khôi phục mức dự trữ trước chiến sự vào cuối năm 2030. Dây chuyền chế tạo của Raytheon hiện xuất xưởng chưa tới 200 quả mỗi năm, do đơn đặt hàng trong quá khứ ở mức thấp.
Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth từng thừa nhận với quốc hội Mỹ rằng sẽ mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để bù đắp số đạn dược đã tiêu hao.
Bộ trưởng Quốc phòng Boris Pistorius cho biết Đức đã đề nghị Mỹ bán Tomahawk từ một năm rưỡi trước, cũng như bày tỏ quan tâm đến hệ thống Typhon có khả năng phóng loại tên lửa này, nhưng Berlin chưa nhận được phản hồi từ Washington.
Tên lửa Tomahawk được gọi là "sứ giả chiến tranh", do chúng thường được Mỹ khai hỏa để đánh phủ đầu đối phương trong nhiều cuộc xung đột. Mỗi quả có giá 2-4 triệu USD, được lắp đầu đạn nặng 450 kg, tầm bắn khoảng 1.600-2.500 km tùy phiên bản.