Sau Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, quyết liệt hơn và mang tính đột phá. Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế thuần túy, mà là biểu hiện tập trung của khát vọng phát triển nhanh và bền vững, đưa Việt Nam đến năm 2030 trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, tiến tới hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, xung đột cục bộ, chiến tranh công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh diễn ra sâu rộng; trong nước đang triển khai đồng bộ các chủ trương lớn về tinh gọn bộ máy, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thì nhiệm vụ đặt ra đối với toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị là hết sức nặng nề; trong đó, công tác tuyên giáo và dân vận giữ vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là “mặt trận tư tưởng” mà còn là động lực tinh thần, là chất keo gắn kết xã hội, là lực lượng đi trước mở đường, đi cùng thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn. Yêu cầu mới đòi hỏi công tác tuyên giáo và dân vận phải chuyển mạnh từ trạng thái “giải thích – tuyên truyền” sang “dẫn dắt – kiến tạo – đồng hành – truyền cảm hứng phát triển”, góp phần trực tiếp vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của đất nước.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của công tác tuyên giáo là dẫn dắt nhận thức xã hội về mục tiêu tăng trưởng hai con số, làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiểu đúng, hiểu sâu và tin tưởng vào con đường phát triển mà Đảng đã lựa chọn.
Tăng trưởng hai con số không chỉ là tăng về quy mô, mà quan trọng hơn là tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực. Đây là sự chuyển dịch căn bản về tư duy phát triển, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ nhận thức đến hành động.
Công tác tuyên giáo phải góp phần làm rõ tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững, hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường; phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Đồng thời, cần kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tư duy an phận, trì trệ, sợ đổi mới; tâm lý “an toàn”, né tránh trách nhiệm; nhận thức sai lệch về vai trò của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn cho thấy, mọi bước phát triển đột phá đều bắt đầu từ đột phá về tư duy. Vì vậy, công tác tuyên giáo phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong việc giải phóng tư tưởng, khơi dậy khát vọng vươn lên của toàn xã hội.
Để bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng không đánh đổi các giá trị cốt lõi, cần xây dựng và lan tỏa hệ giá trị phát triển quốc gia trong thời kỳ mới, bao gồm: yêu nước, kỷ cương, sáng tạo, liêm chính, trách nhiệm, hiệu quả. Công tác tuyên giáo phải đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chuẩn mực giá trị xã hội; gắn kết giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, nếu không có nền tảng giá trị vững chắc, xã hội dễ rơi vào tình trạng phát triển lệch chuẩn, chạy theo vật chất, suy giảm đạo đức. Do đó, việc xây dựng hệ giá trị không chỉ là nhiệm vụ văn hóa, mà còn là yêu cầu chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Điểm nghẽn lớn hiện nay không chỉ nằm ở thể chế hay nguồn lực vật chất, mà còn nằm ở tư duy phát triển. Do đó, công tác tuyên giáo cần góp phần làm rõ và lan tỏa nhận thức: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt; mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển vì lợi ích quốc gia.
Đồng thời, cần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; làm giàu chính đáng; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây chính là quá trình giải phóng nguồn lực xã hội từ gốc – đó là tư duy và động lực con người.
Những cải cách lớn về tổ chức bộ máy, phân cấp, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số… sẽ tác động sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân. Công tác dân vận cần chuyển mạnh từ “vận động hành chính” sang đối thoại, lắng nghe, thuyết phục và đồng hành với người dân, doanh nghiệp.
Phải làm cho nhân dân hiểu: Vì sao cần cải cách? Cải cách mang lại lợi ích gì? Vai trò của mỗi người trong quá trình phát triển? Đồng thuận xã hội chính là điều kiện tiên quyết để triển khai thành công các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Mục tiêu cuối cùng của phát triển là con người. Vì vậy, công tác tuyên giáo phải gắn chặt với các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế, khoa học công nghệ. Phải hình thành trong xã hội tinh thần học tập suốt đời; tôn trọng tri thức; khuyến khích sáng tạo. Một xã hội học tập, một nền kinh tế tri thức chính là nền tảng để duy trì tăng trưởng cao và bền vững.
Công tác dân vận cần tiếp tục khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất. Do vậy, cần tăng cường đối thoại với nhân dân; phát huy vai trò của trí thức, doanh nhân, người Việt Nam ở nước ngoài; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Khi lòng dân đồng thuận, niềm tin được củng cố, thì mọi khó khăn đều có thể vượt qua, mọi mục tiêu đều có thể đạt được.
Trong bối cảnh mới, phương thức tuyên truyền cần được đổi mới toàn diện từ một chiều sang tương tác đa chiều; từ truyền thống sang đa nền tảng số; từ thông tin chung sang cá nhân hóa. Đồng thời, cần xây dựng các chiến dịch truyền thông lớn về chuyển đổi số; phát triển kinh tế xanh; đổi mới sáng tạo; xây dựng xã hội hạnh phúc. Làm cho chính sách của Đảng và Nhà nước thực sự đi vào đời sống, trở thành hành động cụ thể của từng người dân.
Công tác kiểm tra, giám sát cần chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện suy thoái; kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm; kết hợp giữa kiểm tra truyền thống với ứng dụng công nghệ số. Mục tiêu là giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số và xây dựng một xã hội phồn vinh, văn minh, hạnh phúc là một khát vọng lớn, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong hành trình đó, công tác tuyên giáo và dân vận không chỉ là “cầu nối” mà phải thực sự trở thành người dẫn đường về tư tưởng; người khơi nguồn cảm hứng phát triển; người kết nối và huy động sức mạnh toàn xã hội.
Phát huy truyền thống vẻ vang, đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức hoạt động, công tác tuyên giáo và dân vận chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, đưa Việt Nam vững bước trên con đường trở thành quốc gia phát triển, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trả lời báo chí, Chủ tịch Hội Người Việt Nam toàn Thái Lan Hồ Văn Lâm cho biết, chuyến thăm chính thức tới Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và bà con kiều bào tại Thái Lan nói riêng.
Ông Lâm khẳng định, đối với cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan, chuyến thăm không chỉ là niềm vinh dự, niềm tự hào mà còn là nguồn động viên to lớn để kiều bào tiếp tục giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, phát huy tinh thần đoàn kết, hướng về quê hương đất nước và đóng góp nhiều hơn nữa cho quan hệ hữu nghị Việt Nam - Thái Lan.
"Tôi tin rằng chuyến thăm sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội hợp tác giữa các địa phương, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và tổ chức nhân dân hai nước. Đồng thời, đây cũng là dịp để cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan tiếp tục phát huy vai trò cầu nối nhân dân, góp phần củng cố tình cảm gắn bó và sự tin cậy giữa hai dân tộc", ông Lâm chia sẻ.
Cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan là một cộng đồng có lịch sử hình thành lâu đời, luôn đoàn kết, chăm chỉ làm ăn, chấp hành tốt pháp luật sở tại và có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan.
Chủ tịch Hội Người Việt Nam toàn Thái Lan khẳng định, bà con hiện nay không chỉ thành công trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, giáo dục mà còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện, góp phần xây dựng hình ảnh đẹp của cộng đồng người Việt trong lòng nhân dân Thái Lan.
Đặc biệt, cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan luôn là cầu nối quan trọng vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Thông qua các hoạt động giao lưu văn hoá, gìn giữ tiếng Việt, quảng bá văn hoá Việt Nam, cũng như thúc đẩy hợp tác kinh tế, giáo dục và du lịch, bà con đã góp phần tăng cường sự hiểu biết, tin cậy và gắn bó giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan.
"Có thể nói, cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan hôm nay vừa là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, vừa là nhịp cầu hữu nghị góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường giữa hai nước", ông Lâm khẳng định.
Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Thái Lan đang phát triển rất tốt đẹp, ông Hồ Văn Lâm cho biết, cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan mong muốn hai nước tiếp tục thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn nữa trên nhiều lĩnh vực.
Trước hết là hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp hai nước kết nối, mở rộng thị trường và tăng cường liên kết chuỗi cung ứng trong khu vực.
Bên cạnh đó, cộng đồng cũng rất mong hai nước tăng cường hợp tác về giáo dục, đào tạo, giao lưu thanh niên và bảo tồn văn hoá. Việc thúc đẩy giảng dạy tiếng Việt, tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, nghệ thuật sẽ góp phần giúp thế hệ trẻ kiều bào hiểu hơn về cội nguồn dân tộc, đồng thời tăng cường sự gắn kết giữa nhân dân hai nước.
Ngoài ra, bà con cũng kỳ vọng hai nước tiếp tục quan tâm hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan về các vấn đề pháp lý, quốc tịch, bảo tồn các khu di tích gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan, cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giao lưu du lịch, hàng không và kết nối địa phương.
"Chúng tôi tin tưởng rằng, với nền tảng hữu nghị bền chặt và sự quan tâm của lãnh đạo hai nước, quan hệ Việt Nam - Thái Lan sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thực chất và hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới", Chủ tịch Hội Người Việt Nam toàn Thái Lan cho biết.
Sáng 25.4, tại Sở chỉ huy Quân khu 5 (thành phố Đà Nẵng), Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tổ chức lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến thăm và làm việc.
Lễ đón diễn ra trang nghiêm, đúng nghi thức, thể hiện sự kính trọng và tình cảm của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 5 đối với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và đoàn công tác.
Tại buổi làm việc, trung tướng Lê Ngọc Hải, Tư lệnh Quân khu 5, đã báo cáo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về những kết quả nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng thời gian qua. Trong đó, Quân khu 5 duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, chủ động nắm chắc tình hình, tham mưu xử lý kịp thời các tình huống; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; triển khai hiệu quả công tác dân vận, góp phần củng cố "thế trận lòng dân" trên địa bàn chiến lược.
Sau lễ đón, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ghi lưu bút vào sổ vàng truyền thống của Quân khu 5, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với lực lượng vũ trang Quân khu, đồng thời động viên cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phát huy truyền thống "Tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, mưu trí sáng tạo, chiến đấu kiên cường, chiến thắng vẻ vang", hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong tình hình mới.
Trong sáng nay, đoàn công tác đã đến dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp; đồng thời trồng cây lưu niệm tại Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Quân khu 5 và Bảo tàng Khu 5.
Trong không khí trang nghiêm, thành kính, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và đoàn công tác bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới; tưởng nhớ công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tại lễ dâng hương Đài Tưởng niệm thành phố Đà Nẵng, trong không khí linh thiêng và trang nghiêm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn công tác của Trung ương, thành phố Đà Nẵng, lãnh đạo, Chỉ huy Quân khu 5... đã dành phút mặc niệm, kính cẩn nghiêng mình bày tỏ lòng biết ơn vô hạn, thành kính tưởng nhớ công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí, với tinh thần yêu nước nồng nàn, đoàn kết một lòng, không quản gian khổ, chiến đấu kiên cường, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã hiến dâng tuổi thanh xuân, dũng cảm chiến đấu, hy sinh trên khắp các chiến trường của đất nước để bảo vệ độc lập tự do, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Sau lễ dâng hương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tặng quà, động viên giáo viên, học sinh Trường tiểu học Lý Công Uẩn và Trường THCS Lý Thường Kiệt (thành phố Đà Nẵng) đang tham quan, học tập tại Bảo tàng Khu 5.
Đoàn đại biểu đã tham quan khu trưng bày các mô hình, sáng kiến, sản phẩm tiêu biểu của lực lượng vũ trang Quân khu 5, thiết thực chào mừng sự kiện Quân khu 5 đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, qua đó khẳng định những nỗ lực, thành tích nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên địa bàn chiến lược.
Cũng trong sáng 25.4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn công tác của Trung ương đến thăm, tặng quà Mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Mễ (có chồng và một con trai là liệt sĩ) đang sống ở phường Hòa Cường, thành phố Đà Nẵng.
Chiều 26.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng đoàn kiểm tra, giám sát số 10 của Bộ Chính trị, đã chủ trì hội nghị thông qua dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra đợt 2 đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tiếp tục theo dõi sát thực tiễn vận hành ở cơ sở, nhất là cấp xã sau sắp xếp, để kịp thời tháo gỡ khó khăn về biên chế, năng lực cán bộ, điều kiện bảo đảm và phân định thẩm quyền.
Đồng thời, Quốc hội cần phối hợp với các cơ quan để khắc phục những khó khăn rất thực tế mà báo cáo giám sát đã chỉ ra, như khối lượng công việc ở cấp xã tăng, một bộ phận cán bộ còn lúng túng, còn có biểu hiện cào bằng trong tổ chức bộ máy, biên chế; một số nơi năng lực thực thi chưa theo kịp yêu cầu phân cấp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Quốc hội thực hiện có hiệu quả việc tổng rà soát các văn bản quy phạm pháp luật theo chỉ đạo của Trung ương, tập trung phát hiện, tháo gỡ hết những điểm nghẽn về thể chế, nhất là những vấn đề liên quan đến mục tiêu tăng trưởng hai con số, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số...
Cùng đó, Quốc hội cần chủ động phối hợp với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan rà soát, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền, bảo đảm hoàn thiện trước tháng 3.2027.
Quốc hội cần tích cực tham gia tổng kết, đánh giá kết quả 1 năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng dẫn của Trung ương; kịp thời chỉnh sửa, bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp.
Về triển khai thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải nhìn nhận rất rõ rằng yêu cầu tăng trưởng 2 con số là yêu cầu rất cao, rất khó, chưa có nhiều tiền lệ.
"Thể chế là một nguồn lực rất quan trọng cho phát triển. Vì vậy, trong công tác lập pháp phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa; phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, tạo hành lang pháp lý để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giải phóng sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trong thực tiễn, các cơ quan, bộ, ngành, địa phương thường kiến nghị có những cơ chế đặc biệt, thủ tục đặc biệt để tháo gỡ khó khăn cụ thể.
Nếu quy định đặt ra để kìm hãm phát triển thì cần sửa đổi; nhưng nếu mọi trường hợp đều xin cơ chế cá biệt, khác với thông thường, thì cũng phải tính đến tính thống nhất, ổn định của hệ thống pháp luật chung của quốc gia.
Về công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, không thể đánh giá cán bộ chỉ theo hướng "hoàn thành nhiệm vụ" một cách an toàn, tròn vai, né tránh trách nhiệm.
"Đánh giá cán bộ phải thật sự thực chất, xuyên suốt, liên tục, đa chiều và gắn chặt với kết quả công việc, sản phẩm cụ thể, mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Đặc biệt, phải gắn đánh giá cán bộ với bố trí, sử dụng cán bộ: ai làm tốt thì trọng dụng, giao việc lớn; ai không đáp ứng yêu cầu thì kịp thời thay thế, điều chuyển phù hợp.
Không thể để tình trạng đánh giá cán bộ rất tốt nhưng công việc trì trệ, kết quả công việc của cơ quan, đơn vị lại thấp. Cũng không thể để cơ chế đánh giá cào bằng, làm giảm động lực phấn đấu, giảm tính sáng tạo và trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.