Sở hữu hệ thống di sản văn hóa đồ sộ bậc nhất cả nước, từ các di tích quốc gia đặc biệt, làng nghề truyền thống đến kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú, Hà Nội được ví như đang nắm giữ một “viên ngọc quý” của du lịch Việt Nam.
Thế nhưng, để biến những giá trị ấy thành sản phẩm hấp dẫn, thu hút du khách và tạo động lực phát triển kinh tế, theo các chuyên gia và nhà quản lý, điều cần nhất không phải là thêm di sản, mà là thêm những “cú hích” về con người, cách làm và tư duy phát triển.
Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Trần Trung Hiếu – Phó Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội, cho rằng khó khăn lớn nhất trong quá trình phát huy tiềm năng di sản hiện nay không phải là thiếu cơ chế hay thị trường, mà là năng lực của đội ngũ làm du lịch và sự sẵn sàng của cộng đồng địa phương.
Theo ông Hiếu, Hà Nội đang sở hữu một “viên ngọc quý” là hệ thống di sản đồ sộ, nhưng giá trị của viên ngọc ấy chỉ được phát huy khi có những người biết kể câu chuyện về di sản, biết xây dựng sản phẩm và đưa di sản đến gần hơn với du khách.
“Quanh đi cuộn lại thì vấn đề vẫn là con người. Hà Nội có di sản giống như có một viên ngọc quý, nhưng phải có người biết kể câu chuyện về viên ngọc ấy, biết đưa nó đến với du khách thì giá trị mới được phát huy”, ông Hiếu chia sẻ.
Theo lãnh đạo Sở Du lịch Hà Nội, hiện nay cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển du lịch đã tương đối đầy đủ, lượng khách đến Hà Nội cũng rất lớn. Tuy nhiên, không phải địa phương nào trên địa bàn thành phố cũng có thể biến di sản thành sản phẩm du lịch thành công. Điều tạo nên khác biệt chính là tư duy của chính quyền địa phương và sự tham gia của cộng đồng.
“Nơi nào cộng đồng sẵn sàng làm du lịch, chính quyền coi đây là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển kinh tế – xã hội thì nơi đó sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn”, ông nói.
Theo ông Trần Trung Hiếu, điểm đặc biệt của du lịch di sản là lợi ích cuối cùng sẽ quay trở lại với chính cộng đồng sở hữu di sản. Khi các giá trị văn hóa được khai thác đúng hướng, người dân sẽ trực tiếp hưởng lợi thông qua các dịch vụ lưu trú, ẩm thực, bán sản phẩm làng nghề hay tổ chức các hoạt động trải nghiệm.
Tuy nhiên, để làm được điều đó, địa phương không chỉ cần nguồn nhân lực tại chỗ mà còn cần đội ngũ có năng lực quản trị, biết xây dựng sản phẩm, tổ chức hoạt động và kết nối với doanh nghiệp lữ hành.
“Không phải địa phương nào cũng mạnh về làm du lịch. Có tài nguyên là một chuyện, còn chuyển hóa tài nguyên thành giá trị kinh tế lại là câu chuyện khác”, ông Hiếu nhận định.
Ở góc nhìn nghiên cứu, TS. Trần Hữu Sơn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch, cho rằng để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên di sản, Hà Nội cần xây dựng một mô hình hợp tác chặt chẽ giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng. Theo ông, không một đơn vị nào có thể tự mình tạo nên một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.
Trong mô hình này, nhà khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu, giải mã và tư vấn các giá trị văn hóa; doanh nghiệp chịu trách nhiệm thiết kế sản phẩm và đưa ra thị trường; còn cộng đồng chính là chủ thể gìn giữ, kể chuyện và tạo nên sức sống cho di sản
“Chỉ khi ba chủ thể cùng đồng hành, những giá trị lịch sử, văn hóa mới được chuyển hóa thành các sản phẩm trải nghiệm đủ sức hấp dẫn du khách”, TS. Trần Hữu Sơn nhận định.
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay, theo TS. Trần Hữu Sơn, là cơ chế để cộng đồng thực sự được hưởng lợi từ di sản vẫn còn nhiều hạn chế.
Ông dẫn ví dụ tại làng cổ Đường Lâm, nơi sở hữu nhiều giá trị văn hóa đặc sắc nhưng người dân vẫn chưa được hưởng lợi tương xứng từ hoạt động du lịch. Nguồn thu từ bán vé tham quan chủ yếu tập trung vào công tác quản lý, trong khi lợi ích quay trở lại với từng hộ dân còn khá khiêm tốn.
“Nếu cộng đồng không được hưởng lợi thì rất khó để họ gắn bó lâu dài với việc bảo tồn di sản. Cần xây dựng cơ chế hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, giống như cách Hội An đã làm nhiều năm qua”, ông nhấn mạnh.
Theo ông, khi người dân thực sự trở thành chủ thể của hoạt động du lịch, họ sẽ chủ động gìn giữ không gian văn hóa, phát triển các dịch vụ trải nghiệm, lưu trú, ẩm thực hay sản phẩm thủ công truyền thống. Khi đó, bảo tồn và phát triển sẽ không còn là hai mục tiêu tách rời mà bổ trợ cho nhau.
Theo lãnh đạo Sở Du lịch Hà Nội, bên cạnh việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thành phố cũng đang chuyển hướng từ phát triển đại trà sang xây dựng các sản phẩm phù hợp với từng phân khúc khách.
Mỗi thị trường quốc tế đều có nhu cầu khác nhau. Khách châu Âu thường yêu thích trải nghiệm làng nghề và văn hóa bản địa, trong khi khách Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đông Nam Á lại có những sở thích riêng. Vì vậy, mỗi nhóm khách cần những sản phẩm được thiết kế phù hợp.
“Các doanh nghiệp lữ hành cần có nhiều sản phẩm để lựa chọn cho từng thị trường. Muốn bán được tour thì trước hết phải xây dựng đúng sản phẩm cho đúng đối tượng”, ông Hiếu cho biết.
Song song với việc làm mới sản phẩm, Hà Nội cũng đang đầu tư từng bước vào hạ tầng phục vụ du lịch như bãi đỗ xe, nhà vệ sinh, điểm đón tiếp, dịch vụ ăn uống, lưu trú… Đây là những yếu tố nền tảng giúp các điểm đến đủ điều kiện phục vụ khách và phát triển lâu dài.
Tuy nhiên, theo ông Hiếu, yếu tố quyết định sức hấp dẫn của một sản phẩm du lịch vẫn là câu chuyện.
“Mỗi di tích có rất nhiều câu chuyện văn hóa, nhưng không phải câu chuyện nào cũng phù hợp với khách du lịch. Điều quan trọng là phải chọn được những câu chuyện hấp dẫn nhất, diễn giải di sản theo đúng nhu cầu của từng nhóm khách. Câu chuyện du lịch sẽ khác với câu chuyện lịch sử”, ông Hiếu nhấn mạnh.
Theo ông Trần Trung Hiếu nhận định, Hà Nội cần chuyển từ tư duy chạy theo số lượng sang chú trọng chất lượng trải nghiệm. Một sản phẩm tốt không nhất thiết phải phục vụ thật đông khách mà phải đảm bảo du khách có trải nghiệm trọn vẹn, từ đó tạo sức lan tỏa và giá trị bền vững.
“Dù một tour chỉ phục vụ số lượng khách vừa phải nhưng nếu chất lượng tốt, du khách hài lòng thì giá trị mang lại sẽ lớn hơn nhiều so với việc đón khách ồ ạt nhưng trải nghiệm không được đảm bảo”, ông Hiếu bày tỏ.
Đồng quan điểm, TS. Trịnh Lê Anh cho rằng, Hà Nội cần mạnh dạn từ bỏ tư duy “càng đông khách càng tốt”. Theo ông, những hình ảnh chen chúc tại các điểm di tích tâm linh ngày đầu xuân không phải là biểu hiện của thành công mà là dấu hiệu của sự quá tải, đây không bao giờ là du lịch bền vững.
Ông đề xuất, Hà Nội cần ứng dụng công nghệ số để đo lường, dự báo và chủ động điều tiết luồng khách; áp dụng việc bán vé giới hạn theo khung giờ hoặc điều chỉnh giá vé vào giờ cao điểm. Việc này không phải là hạn chế quyền tiếp cận của người dân, mà là giải pháp văn minh để bảo vệ cấu trúc di tích, đồng thời bảo vệ chính chất lượng trải nghiệm của du khách.
“Phát triển du lịch di sản phải là một cuộc chạy marathon đường dài vì sinh kế cộng đồng và sự trường tồn của văn hóa, chứ không phải là một cú chạy nước rút để lấy thành tích số lượng cơ học”, TS. Trịnh Lê Anh nhấn mạnh.
Theo lãnh đạo Sở Du lịch Hà Nội, mục tiêu của thành phố không chỉ là tăng lượng khách mà còn kéo dài thời gian lưu trú và nâng cao mức chi tiêu thông qua việc phát triển hệ sinh thái sản phẩm chất lượng cao.
Các chương trình trải nghiệm được định hướng đa dạng về thời lượng, từ 4 giờ, 8 giờ cho đến 24 hoặc 48 giờ, đồng thời mở rộng các sản phẩm du lịch ban ngày và ban đêm để tạo thêm lựa chọn cho du khách.
Một dư địa lớn khác là phát triển các sản phẩm lưu niệm mang dấu ấn riêng của từng điểm đến. “Muốn giữ được ký ức về điểm đến thì ngoài cảnh đẹp còn phải có những món quà mang dấu ấn riêng. Đó là cách nhiều quốc gia đang làm rất tốt và Hà Nội cũng cần hướng tới”, ông Hiếu chia sẻ.
Bên cạnh đó, công nghệ tiếp tục được xác định là xu hướng tất yếu nhưng chỉ đóng vai trò hỗ trợ. “Công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ. Điều tạo nên sức sống của di sản vẫn là con người, là câu chuyện và những giá trị gốc của di tích”, ông Hiếu khẳng định.
Đánh giá về vai trò của du lịch di sản, ông Hiếu cho rằng đây vẫn là trụ cột quan trọng nhất trong cơ cấu sản phẩm du lịch của Thủ đô. Di sản không chỉ hiện diện trong các khu di tích mà còn hiện hữu trong ẩm thực, làng nghề, tín ngưỡng, nghệ thuật và đời sống cộng đồng, tạo nên bản sắc riêng mà không địa phương nào có thể sao chép.
Từ nay đến năm 2030, Hà Nội đặt mục tiêu phát triển và công nhận ba khu du lịch quốc gia gồm khu vực Hồ Gươm và phụ cận, Hương Sơn – Chùa Hương và Ba Vì. Song song với đó là tiếp tục xây dựng các tuyến kết nối bằng đường bộ, đường sông, đường sắt, xe điện, xe buýt hai tầng… để biến mỗi hành trình di chuyển trở thành một hành trình khám phá di sản.
“Phương tiện không còn đơn thuần là phương tiện nữa, mà chính là một phần của trải nghiệm văn hóa. Khi kết nối được các di sản và kể được câu chuyện của từng vùng đất, Hà Nội sẽ có thêm sức hút để giữ chân du khách lâu hơn và khẳng định vị thế là trung tâm du lịch văn hóa hàng đầu của cả nước”, ông Hiếu nhấn mạnh.
Khép lại cuộc trao đổi, ông Trần Trung Hiếu khẳng định Hà Nội đang hội tụ đầy đủ điều kiện về hạ tầng, tài nguyên văn hóa, môi trường du lịch an toàn và hệ thống dịch vụ để bứt phá. Điều cần nhất lúc này là tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng lực quản trị ở cơ sở, phát huy vai trò của cộng đồng và xây dựng những câu chuyện đủ sức chạm tới cảm xúc của du khách.
Trong cuộc trao đổi với Người Đưa Tin, ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Tp.Huế đã chia sẻ về những điểm mới, ý nghĩa văn hóa sâu sắc cũng như kỳ vọng đưa áo dài trở thành cầu nối giữa di sản, cộng đồng và thế hệ trẻ.
PV: Thưa ông, Tuần lễ Áo dài Huế năm 2026 lựa chọn chủ đề Kết nối di sản. Ông có thể chia sẻ thông điệp cốt lõi mà ban tổ chức muốn gửi gắm thông qua chủ đề này?
Ông Phan Thanh Hải: Chủ đề Kết nối di sản được lựa chọn với mong muốn khẳng định áo dài không chỉ là một trang phục truyền thống mà còn là một "sợi chỉ văn hóa" kết nối quá khứ với hiện tại, kết nối con người với di sản và kết nối Huế với cộng đồng trong nước, quốc tế.
Huế là nơi lưu giữ nhiều giá trị cốt lõi của áo dài Việt Nam, từ lịch sử hình thành, phát triển đến các giá trị thẩm mỹ, văn hóa và lối sống gắn với trang phục này. Vì vậy, thông qua Tuần lễ Áo dài Huế 2026, chúng tôi mong muốn kể câu chuyện về hành trình của áo dài từ cung đình đến đời sống đương đại, từ một di sản của Huế trở thành biểu tượng văn hóa của cả dân tộc.
Kết nối di sản cũng là kết nối giữa bảo tồn và phát triển. Di sản chỉ thực sự sống khi được tiếp nối trong đời sống hôm nay, được giới trẻ yêu thích, được sáng tạo trên nền tảng các giá trị truyền thống và trở thành nguồn lực cho phát triển văn hóa, du lịch và công nghiệp văn hóa trong tương lai.
PV: Xin ông cho biết, so với những mùa tổ chức trước, Tuần lễ Áo dài Huế 2026 có những điểm mới và khác biệt nào đáng chú ý nhất?
Ông Phan Thanh Hải: Điểm nổi bật nhất của Tuần lễ Áo dài Huế 2026 là sự mở rộng không gian và chiều sâu văn hóa của các hoạt động.
Nếu trước đây các chương trình chủ yếu tập trung vào trình diễn áo dài thì năm nay chúng tôi chú trọng nhiều hơn đến việc kể câu chuyện về áo dài trong không gian di sản và đời sống cộng đồng. Áo dài không chỉ xuất hiện trên sân khấu mà hiện diện trong trường học, trên đường phố, bên dòng sông Hương, trong các di tích, làng cổ và không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống.
Một điểm nhấn đặc biệt khác là chuỗi hoạt động hướng tới giới trẻ với các chương trình như: "Áo dài học đường", "Áo dài - Nhịp bước thanh xuân", các cuộc thi sáng tạo, trải nghiệm và tương tác cộng đồng. Điều này thể hiện quan điểm của chúng tôi rằng muốn bảo tồn áo dài một cách bền vững thì phải đưa áo dài đến với thế hệ trẻ bằng những hình thức gần gũi và hấp dẫn.
Bên cạnh đó, Tuần lễ năm nay cũng gắn chặt hơn với chiến lược xây dựng Huế trở thành Kinh đô Áo dài Việt Nam, đồng thời tạo thêm những sản phẩm văn hóa - du lịch đặc sắc trong bối cảnh Huế đang triển khai Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 28 của Quốc hội về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.
PV: Thưa ông, vì sao ban tổ chức chọn đúng dịp giỗ Võ vương Nguyễn Phúc Khoát để tổ chức chuỗi hoạt động trọng điểm của tuần lễ?
Ông Phan Thanh Hải: Việc lựa chọn thời điểm giỗ Võ vương Nguyễn Phúc Khoát mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa rất đặc biệt.
Năm 1744, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành những cải cách quan trọng về y phục, trong đó có việc định hình chiếc áo ngũ thân - tiền thân trực tiếp của áo dài Việt Nam ngày nay. Chính vì vậy, ông được nhiều nhà nghiên cứu xem là người đặt nền móng quan trọng cho sự hình thành của áo dài dân tộc.
Tổ chức các hoạt động trọng điểm vào dịp này không chỉ thể hiện sự tri ân đối với công lao của Võ vương mà còn góp phần nhắc nhớ công chúng về cội nguồn lịch sử của áo dài. Điều đó giúp mỗi người hiểu rằng áo dài không chỉ là một sản phẩm thời trang mà là kết tinh của lịch sử, văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam qua nhiều thế kỷ.
Đây cũng là dịp để Huế khẳng định vai trò là một trong những cái nôi quan trọng nhất của quá trình hình thành và phát triển áo dài Việt Nam.
PV: Việc gắn kết các hoạt động áo dài với các không gian di sản như Đại Nội, Quốc Tử Giám, sông Hương hay làng cổ Phước Tích mang ý nghĩa như thế nào trong việc kể câu chuyện văn hóa Huế?
Ông Phan Thanh Hải: Mỗi di sản đều chứa đựng những câu chuyện riêng và áo dài chính là một phần trong câu chuyện ấy.
Khi áo dài xuất hiện trong không gian Đại Nội, người xem có thể cảm nhận rõ hơn mối liên hệ giữa trang phục và văn hóa cung đình. Khi hiện diện tại Quốc Tử Giám, áo dài gợi nhắc truyền thống hiếu học và tinh thần trọng đạo của người Việt. Trên dòng sông Hương, áo dài hòa quyện với cảnh quan thơ mộng đặc trưng của Huế. Còn tại làng cổ Phước Tích, áo dài trở thành cầu nối giữa di sản vật thể và đời sống văn hóa cộng đồng.
Chúng tôi không muốn chỉ trình diễn áo dài như một sản phẩm thẩm mỹ đơn lẻ mà muốn đặt áo dài vào đúng môi trường văn hóa đã nuôi dưỡng và làm nên giá trị của nó. Chính sự kết hợp đó sẽ giúp du khách hiểu sâu hơn về văn hóa Huế, đồng thời tạo nên những trải nghiệm chân thực và giàu cảm xúc.
Đó cũng là cách Huế đang tiếp cận di sản theo tinh thần mới: Bảo tồn trong không gian sống, để di sản trở thành một phần tự nhiên của đời sống đương đại.
PV: Tuần lễ năm nay có rất nhiều hoạt động dành cho học sinh, thanh niên như "Áo dài học đường" hay "Áo dài - Nhịp bước thanh xuân". Ban tổ chức kỳ vọng gì ở thế hệ trẻ trong hành trình gìn giữ và lan tỏa giá trị áo dài?
Ông Phan Thanh Hải: Thế hệ trẻ chính là tương lai của áo dài Việt Nam.
Chúng tôi không kỳ vọng các em chỉ mặc áo dài trong những dịp lễ hội hay sự kiện đặc biệt, mà mong các em hiểu được giá trị văn hóa, lịch sử và bản sắc mà chiếc áo dài đang mang trong mình. Khi hiểu và tự hào về di sản, các em sẽ trở thành những người gìn giữ và lan tỏa hiệu quả nhất.
Điều đáng mừng là hiện nay nhiều bạn trẻ đang tiếp cận áo dài bằng tư duy rất mới mẻ. Các em có thể sử dụng mạng xã hội, công nghệ số, nghệ thuật sáng tạo hay các hoạt động cộng đồng để quảng bá áo dài theo cách của thế hệ mình. Đó chính là điều chúng tôi mong muốn khuyến khích.
Tuần lễ Áo dài Huế 2026 vì thế không chỉ hướng đến việc tôn vinh quá khứ mà còn hướng đến tương lai. Chúng tôi kỳ vọng từ những hoạt động này sẽ hình thành một thế hệ công dân trẻ yêu áo dài, tự hào về văn hóa Việt Nam và sẵn sàng đưa hình ảnh áo dài Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Đó mới là sự tiếp nối di sản bền vững nhất.
Liên quan vụ phát hiện hơn 5ha rừng keo đã bị chặt hạ khi chưa có hồ sơ pháp lý ở Huế mà Người Đưa Tin đã đăng tải trước đó, chiều ngày 29/4, Chi cục Kiểm lâm Tp.Huế thông tin, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Nam Sông Hương đã có báo cáo về việc khai thác này.
Về nguồn gốc của lô rừng, theo Ban Quản lý Rừng phòng hộ Nam Sông Hương, năm 2020, để chống lấn chiếm đất rừng, Giám đốc Ban Quản lý Rừng phòng hộ Hương Thủy (cũ) đã cho phép ông Cao Xuân Truyền trồng 39ha, tại vị trí lô 1, khoảnh 3 tiểu khu 166. Nguồn vốn trồng do ông Cao Xuân Truyền tự bỏ ra trồng.
Về hồ sơ diện tích này, Giám đốc Ban Quản lý Rừng phòng hộ Hương Thủy (cũ) có chủ trương cho trồng rừng để chống lấn chiếm rồi lập hồ sơ giao khoán, tuy nhiên do chưa có cơ sở pháp lý nên việc giao khoán theo Nghị định 168/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 không thực hiện được cho đến nay.
Đến ngày 8/4, trên cơ sở kiểm tra và đề nghị của Hạt Kiểm lâm khu vực Nam Sông Hương là đúng khai thác lý do không có hồ sơ, đơn vị đã yêu cầu ông Truyền dừng khai thác và đã chấp hành dừng.
Ban Quản lý Rừng phòng hộ Nam Sông Hương thông tin, quá trình trình khai thác của ông Truyền không làm ảnh hưởng đến các khu rừng xung quanh, không ảnh hưởng cây bản địa của các chương trình dự án, có sửa chữa trên tuyến đường cũ để vận chuyển gỗ rừng trồng ra.
Tại buổi họp báo về tình hình kinh tế - xã hội Tp.HCM vào chiều ngày 14/5, ông Trần Minh Hóa, Phó Trưởng phòng Quản lý năng lượng thuộc Sở Công Thương Tp.HCM cho biết, từ ngày 25/5/2026, Nghị định 133/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực, nâng mức xử phạt lên 20 - 30 triệu đồng đối với hành vi thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định.
Theo quy định hiện hành, trường hợp người thuê nhà không ký hợp đồng trực tiếp với ngành điện thì tổng số tiền điện chủ nhà thu không được vượt quá hóa đơn điện thực tế của đơn vị bán lẻ điện phát hành.
Đối với sinh viên, người lao động thuê trọ dưới 12 tháng mà chủ nhà không kê khai đầy đủ số người sử dụng điện, toàn bộ điện năng tiêu thụ sẽ được tính theo giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 3, hiện ở mức 2.380 đồng/kWh chưa bao gồm VAT.
Trong trường hợp thuê từ 12 tháng trở lên và có đăng ký tạm trú đầy đủ, người thuê hoặc đại diện có thể ký hợp đồng mua điện trực tiếp với ngành điện để được áp dụng đúng giá điện sinh hoạt.
Theo ông Trần Minh Hóa, việc kiểm tra, giám sát giá điện tại các khu nhà trọ hiện đã được phân cấp cho UBND cấp xã, phường thực hiện.
Ngày 8/5 vừa qua, Sở đã có văn bản đề nghị các địa phương phối hợp với ngành điện tăng cường kiểm tra, giám sát và xử phạt các trường hợp chủ nhà trọ thu tiền điện sai quy định.
Hiện nay, Tổng Công ty Điện lực Tp.HCM đã cấp định mức điện cho gần 1,94 triệu sinh viên và người lao động thuê trọ tại 110.322 khu nhà trọ trên địa bàn thành phố.
Đáng chú ý, đến nay đã có 109.717 chủ nhà trọ ký cam kết bán điện đúng giá cho người thuê. Tính đến tháng 4/2026, ngành điện đã thực hiện 145.974 lượt kiểm tra giá điện tại các khu nhà trọ.
Liên quan việc nhiều chủ nhà trọ cho rằng mức giá 3.500 – 5.000 đồng/kWh nhằm bù chi phí vận hành như camera, đèn hành lang, máy giặt chung hay thang máy, Sở Công Thương khẳng định cách thu này không phù hợp quy định.
Theo cơ quan này, các khoản chi phí vận hành phải được tách riêng thành phí dịch vụ hoặc phí quản lý theo thỏa thuận với người thuê, không được cộng dồn vào giá điện để thu chênh lệch.
"Việc thu tiền điện cao hơn giá quy định để hưởng chênh lệch là hành vi vi phạm và sẽ bị xử phạt từ 20 – 30 triệu đồng", ông Hóa nhấn mạnh.