Đánh giá về đề thi Ngữ văn khối 10 năm nay, cô Nguyễn Ngọc Vân – Tổ trưởng tổ Ngữ văn của trường THPT Galileo – cho biết, đây là một đề thi bám sát chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và có tính phân hóa khá cao.
Cấu trúc đề vừa sức để đại đa số học sinh dễ dàng đạt được mức điểm 6 – 7, nhưng đồng thời vẫn có những điểm nhấn xuất sắc để phân loại nhóm học sinh có năng lực khá giỏi.
Điểm mới đáng chú ý đầu tiên nằm ở phần Đọc hiểu khi đưa vào ngữ liệu là một bài thơ rất hay và trong sáng của nhà thơ Thanh Thảo. Tuy nhiên, cô Vân cũng nhìn nhận đây sẽ là một thử thách nhỏ đối với các học sinh ở khu vực thành thị như Hà Nội, bởi các thí sinh phải thực sự thấu hiểu và sẻ chia được với những thiệt thòi, hạn chế của trẻ em vùng cao thì mới có thể hoàn thành trọn vẹn bài làm.
Bên cạnh đó, phần Nghị luận xã hội cũng được đánh giá cao nhờ tính thực tiễn phong phú khi yêu cầu thí sinh đề xuất giải pháp cho thực trạng “mất kết nối của người trẻ hiện nay”. Theo cô Vân, những bạn sở hữu tư duy phản biện tốt và có lối suy nghĩ độc lập chắc chắn sẽ hoàn thành rất tốt phần thi này.
Với tính chất phân loại rõ rệt như vậy, phổ điểm năm nay dự kiến sẽ phổ biến ở mức 6-7 điểm. Còn những mức điểm giỏi từ 8-9 sẽ là phần thưởng xứng đáng dành riêng cho những bài viết có lập luận mạch lạc, rõ ràng và biết lồng ghép các dẫn chứng xã hội mới mẻ.
Sau đây là gợi ý đáp án môn Ngữ Văn.
Theo cô Hương Giang, giáo viên Ngữ văn Trường THCS Archimedes, đề thi chính thức môn Ngữ văn kỳ tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027 về cơ bản giữ ổn định cấu trúc như năm trước. Đề thi gồm hai phần: phần đọc hiểu (4,0 điểm) với 5 câu hỏi và phần viết (6,0 điểm) với 2 câu hỏi.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Xã Hội
Nhà sàn cổ “lên đời” homestay, người vùng cao kiếm hàng chục triệu mỗi tháng

Những ngày nghỉ lễ 30/4, dòng khách đổ về khu du lịch Pù Luông, xã Pù Luông, Thanh Hóa tăng cao, biến các bản làng giữa vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên thành điểm đến nhộn nhịp. Giữa những dãy núi bao quanh, ruộng bậc thang vào mùa trổ bông và những nếp nhà sàn nép mình dưới tán xanh, du lịch cộng đồng không chỉ mang đến trải nghiệm "sống chậm" cho du khách, mà đã định hình hướng phát triển kinh tế bền vững cho người dân bản địa.
Từ Hà Nội, sau khoảng bốn giờ di chuyển, chị Hoàng Ngọc Anh (34 tuổi, Cầu Giấy) đặt chân tới Pù Luông vào một buổi sáng đầy nắng. Trước mắt chị là bức tranh thiên nhiên mở ra với núi non trùng điệp, ruộng bậc thang xanh mướt và những bản làng nép mình yên bình giữa thung lũng.
"Cảnh đẹp đến mức khiến mình ngỡ ngàng, nhóm mình đã chọn một homstay dạng nhà sàn người Thái, gần gũi với thiên nhiên và đậm bản sắc văn hóa và quan trọng là giá cả hợp lý", chị kể.
Những bước chân thong thả giữa cánh đồng, những câu chuyện về văn hóa người Thái, hay chỉ đơn giản là ngồi nhìn mây vờn qua sườn núi… tất cả khiến chị cảm giác như vừa rời khỏi nhịp sống gấp gáp của đô thị. "Ở đây, mọi thứ chậm lại, trong lành và rất thật. Một cảm giác mà ở thành phố khó tìm được", chị nói.
Ở bản Đôn, chị Hà Thị Thóa (29 tuổi), đang khoác lên mình bộ váy áo truyền thống của dân tộc Thái, chị đang tất bật chuẩn bị phòng đón đoàn khách Tây. Ngôi nhà sàn của gia đình – nơi đã gắn bó qua nhiều thế hệ – nay trở thành homestay nổi bật giữa vùng lõi khu bảo tồn.
Khoảng sáu năm trước, khi Pù Luông dần được du khách biết đến, gia đình chị mạnh dạn cải tạo không gian sống để đón khách lưu trú. Từ chỗ chỉ là mái nhà bình dị, nơi đây giờ có thể phục vụ khoảng 30 khách mỗi lượt.
"Gần như ngày nào cũng có khách. Có những hôm kín phòng liên tục", chị Thóa nói, tay vẫn thoăn thoắt dọn dẹp. Ngay cả những ngày mưa bão hồi tháng 10/2025, homestay của chị vẫn đón khách nước ngoài đến trải nghiệm.
Công việc không chỉ dừng ở việc cho thuê chỗ ở. Gia đình chị còn nấu ăn, tổ chức các buổi văn nghệ, dẫn khách cả trong và ngoài nước đi khám phá bản làng. Sau khi trừ chi phí, thu nhập mỗi tháng đạt khoảng 50–60 triệu đồng – một con số trước đây chị chưa từng nghĩ tới khi còn thuần nông. "Cuộc sống ổn định hơn nhiều", chị nói, ánh mắt ánh lên sự tự tin.
Phía sau sự khởi sắc ấy vẫn còn những trăn trở. Rào cản lớn nhất với đa số người dân đang làm homstay chính là hạn chế về tiếng Anh, khó giao tiếp với khách nước ngoài.
"Nhiều khi khách nói mà mình không hiểu hết, cũng thấy ngại. Tôi muốn học thêm tiếng Anh để có thể trò chuyện với họ nhiều hơn", chị Thóa chia sẻ.
Cách đó không xa, homestay của chị Lò Thị Hương (32 tuổi) lại mang một sắc thái khác – nhỏ hơn, yên tĩnh hơn, nhưng cũng vì thế mà được nhiều du khách nước ngoài ưa thích. Ngôi nhà sàn nằm giữa bản, bao quanh là cây xanh và những khoảng không gian tĩnh lặng.
Gắn bó với du lịch cộng đồng cũng đã sáu năm, chị Hương cho biết lượng khách khá ổn định. Với quy mô khoảng 20 khách mỗi đêm, thu nhập sau chi phí đạt 20–30 triệu đồng mỗi tháng – đủ để gia đình có cuộc sống vững vàng hơn so với trước kia.
"Chỉ làm nông thì khó có được mức thu nhập như vậy", chị nói. Dù từng nghĩ đến việc mở rộng, nhưng quỹ đất hạn chế và thiếu vốn khiến kế hoạch vẫn còn dang dở.
Giống như nhiều hộ khác trong bản, chị Hương cũng trăn trở về câu chuyện ngoại ngữ. "Nhiều lúc khách nói mà mình không hiểu, cũng ngượng lắm", chị cười. Nhưng rồi chị khẳng định, như một lời tự nhủ: "Thời gian tới nhất định phải học thêm, để làm du lịch tốt hơn".
Theo đại diện UBND xã Pù Luông, địa phương hiện có 68 cơ sở lưu trú, đón khoảng 210.000 lượt khách mỗi năm, doanh thu ước đạt 400 tỷ đồng. Du lịch đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Lợi thế của Pù Luông không chỉ ở cảnh quan mà còn nằm ở hệ sinh thái văn hóa đặc sắc của cộng đồng Thái, Mường từ nhà sàn, nghề dệt thổ cẩm đến dân ca và ẩm thực bản địa.
Trong chiến lược phát triển, địa phương đặt mục tiêu chuẩn hóa dịch vụ homestay; đào tạo kỹ năng, tiếng Anh cho người dân; phát triển du lịch trải nghiệm "cùng ăn- cùng ở- cùng làm"; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số với bản đồ du lịch, mã QR thuyết minh.
Về dài hạn, du lịch cộng đồng sẽ gắn với tiêu chuẩn ASEAN, phát triển kinh tế đêm và tăng cường liên kết tour, tuyến trong vùng.
Ông Nguyễn Nam Phong, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết định hướng xuyên suốt là phát triển du lịch "bền vững- bản sắc -chuyên nghiệp", vừa khai thác hiệu quả tiềm năng, vừa bảo tồn giá trị truyền thống.
Không chỉ riêng Thanh Hóa, tại Nghệ An, du lịch cộng đồng trong những năm gần đây đang được xác định là một hướng đi chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi. Việc định hướng bài bản mô hình này không chỉ nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng sẵn có về cảnh quan thiên nhiên, mà còn tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số phát huy giá trị văn hóa bản địa, chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sinh kế bền vững.
Du lịch cộng đồng bản Hoa Tiến (xã Châu Tiến) đang trở thành điểm sáng được nhiều du khách tìm đến. Những ngôi nhà sàn gỗ cổ kính của người Thái được giữ gần như nguyên vẹn qua nhiều thế hệ, trở thành "tài sản du lịch" độc đáo.
Góc nhìn từ du khách cũng góp thêm một lát cắt sinh động về sức hấp dẫn của bản Hoa Tiến. Chị Nguyễn Thị Tiên (40 tuổi, Hà Nội) cho biết, điều khiến chị ấn tượng không chỉ là cảnh quan hay những nếp nhà sàn cổ, mà chính là không gian văn hóa đậm đặc bản địa vẫn được gìn giữ nguyên vẹn.
Nắm bắt xu hướng, nhiều hộ gia đình mở homestay, như cơ sở của chị Lang Thị Tâm đang trở thành điểm đến quen thuộc ở Hoa Tiến.
"Trước đây khách đến chỉ dừng chân ngắm cảnh rồi đi. Vài năm nay, chúng tôi bắt đầu đón khách ở lại. Nhà cửa phải chỉnh trang, phòng nghỉ phải sạch sẽ, ấm cúng, rồi còn lo cả các chương trình văn nghệ để bà con cùng tham gia. Vất vả đấy, nhưng vui lắm, vì không chỉ khách trong nước, mà nhiều du khách quốc tế cũng đã tìm đến ngày càng nhiều", chị Lang Thị Tâm, chủ homestay Từ Tâm chia sẻ.
Du lịch kéo theo chuỗi sinh kế: người trồng rau, chăn nuôi, dệt thổ cẩm, biểu diễn văn nghệ, quảng bá sản phẩm OCOP… đều có thêm thu nhập. Một số hộ còn chủ động quảng bá qua mạng xã hội, liên kết doanh nghiệp lữ hành để xây dựng tour.
Ông Trần Việt Đức, Phó Chủ tịch UBND xã Châu Tiến, cho biết du lịch cộng đồng đã tạo chuyển biến rõ nét. "Thu nhập bình quân được cải thiện, nhiều hộ thoát nghèo bền vững từ năm 2023", ông nói.
Theo ông, định hướng phát triển lâu dài là đặt người dân làm trung tâm – vừa bảo tồn văn hóa, vừa trực tiếp cung cấp dịch vụ. "Làm du lịch không chỉ tăng thu nhập mà còn nâng cao đời sống tinh thần, củng cố ý thức gìn giữ bản sắc", ông nhấn mạnh.
Từ những nếp nhà sàn đơn sơ, người dân vùng cao đang từng bước biến tài nguyên văn hóa thành "tài sản du lịch", tạo sinh kế bền vững giữa đại ngàn.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Mỗi độ xuân về, dọc những bãi bồi ven sông Trà Khúc lại hiện lên một khung cảnh rất riêng. Những dải đất màu mỡ kéo dài từ khu vực đập Thạch Nham xuống hạ lưu được cày xới thành luống, phủ kín màu xanh của những ruộng dưa mới xuống giống.
Xen giữa đồng ruộng là những căn lều bạt dựng tạm – nơi ở của những người nông dân sống đời "du mục" theo mùa vụ.
Phần lớn họ là người ở vùng Bình Sơn, Sơn Tịnh, nhiều năm nay chọn cách thuê đất để trồng dưa. Hết mùa ở đồng bằng lại ngược lên Tây Nguyên, hết vụ nơi đất đỏ lại trở về quê chờ mùa mới.
Trên bãi bồi cạnh đập dâng hạ lưu sông Trà Khúc ông Nguyễn Thuần (56 tuổi) đang tất bật xuống giống cho vụ mới. Gắn bó với nghề trồng dưa hơn 20 năm, mỗi năm ông Thuần gần như sống theo nhịp của hai vụ mùa, mỗi vụ kéo dài khoảng 60 ngày.
Ông Thuần cho biết gia đình hiện canh tác khoảng 20 sào dưa trên bãi bồi ven sông. Theo ông, nhiều người dân ở vùng Bình Sơn cũng tìm đến khu vực này thuê đất trồng dưa bởi bãi bồi rộng, được bồi đắp phù sa hằng năm nên đất tơi xốp, màu mỡ, rất phù hợp cho cây dưa sinh trưởng và phát triển.
Tuy nhiên, nghề trồng dưa chưa bao giờ là công việc nhàn hạ. "Cây dưa khó tính lắm, nắng quá cũng không được mà mưa nhiều lại càng khó. Chỉ cần thời tiết thất thường là người trồng đứng ngồi không yên", ông Thuần chia sẻ.
Cách đó không xa, ông Dương Đức vẫn cặm cụi bên luống dưa, tay nhổ cỏ, tay chăm chút những mầm cây vừa nhú. Ở tuổi 61, người đàn ông ấy đã có hơn 30 năm gắn đời mình với những chuyến đi theo ruộng dưa.
Ông kể rằng đất bãi bồi ven sông Trà Khúc vốn giàu phù sa nên rất thích hợp để trồng dưa. Ngay từ trước Tết, ông đã thuê đất vào làm vụ mới với giá khoảng 1,1 triệu đồng mỗi sào cho hai vụ xuân hè và hè thu.
Năm nay ông thuê 20 sào, còn con trai út Dương Vui thuê thêm 30 sào kế bên. Một người con khác của ông hiện ở tận Đắk Lắk để tiếp tục theo nghề trồng dưa.
"Từ lúc con cái còn nhỏ, vợ chồng tôi đã đi làm dưa thuê khắp nơi. Hết mùa ở đây thì khoảng tháng Sáu âm lịch lại dọn lều lên Tây Nguyên làm tiếp. Đến cuối năm thu hoạch xong mới trở về quê đón Tết rồi lại tiếp tục vòng quay mới", ông Đức kể.
Theo ông, trước đây giá thuê đất trên Tây Nguyên còn thấp nhưng vài năm gần đây tăng lên đáng kể do người đến thuê ngày càng đông. Làm dưa nơi đất đỏ cũng tốn kém hơn nhiều vì mọi chi phí sinh hoạt đều phải tự lo.
"Ở quê thiếu gạo, thiếu mắm còn chạy về nhà lấy được. Chứ lên Tây Nguyên cái gì cũng mua. Đất tốt nhưng cỏ nhiều, công làm cũng cực hơn", ông nói.
Do cây dưa khá kén đất, sau mỗi vụ thu hoạch người trồng phải tiếp tục tìm vùng đất mới. Có những nơi xa xôi, heo hút, họ thường rủ nhau đi thành nhóm để tiện giúp đỡ khi đau ốm hay gặp sự cố.
Mỗi năm theo hai mùa dưa khiến nhiều người chỉ ở nhà vài tháng ngắn ngủi. "Có đứa nhiều năm liền không kịp về ăn Tết. Thằng con tôi giờ cũng bám riết theo ruộng dưa", ông Đức thở dài.
Người trồng dưa vẫn thường nói vui rằng chăm dưa còn cực hơn chăm con nhỏ. Khi cây vừa xuống giống, họ gần như ăn ngủ ngoài đồng. Ban ngày nhổ cỏ, bắt sâu, bón phân, ghim gốc chống gió; tối đến lại cầm đèn pin ra ruộng kiểm tra từng luống.
"Có hôm làm tới 9-10 giờ đêm. Mệt thì nghỉ chút rồi lại làm tiếp. Dưa khoảng 20 ngày tuổi bắt đầu ra nhánh thì phải bấm ngọn, dẫn dây, chăm từng chút một", ông Đức nói.
Theo ông, chi phí đầu tư cho mỗi sào dưa khoảng 8 triệu đồng, bao gồm tiền đất, giống, phân bón và nhân công. "Nếu bán khoảng 4.000 đồng/kg thì gần như không có lời. 5.000 đồng/kg mới huề vốn. Có năm giá rớt còn 2.000 đồng/kg, coi như mất trắng", ông chia sẻ.
Ba mươi năm làm nghề, ông Đức trải qua không ít lần nợ nần vì thất mùa hay giá xuống thấp. Nhưng đổi lại cũng có những vụ trúng lớn. "Có thất bại, có thắng lợi nên vẫn theo nghề. Người làm nông ai cũng mong vụ tới khá hơn", ông cười.
Theo thời gian, những nông dân như ông dần tích lũy kinh nghiệm chẳng khác gì kỹ sư nông nghiệp. Cách trồng dưa hiện nay cũng thay đổi đáng kể.
Nếu trước kia đất chỉ cày xới đơn giản thì nay nhiều hộ thuê máy đào đảo lớp đất sâu, vùi cỏ và mầm bệnh xuống dưới rồi phủ màng ni lông hạn chế cỏ dại, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Chị Nguyễn Thị Dung vừa ghim dây dưa vừa nói: "Những năm trước từng có cảnh dưa ùn ứ ở cửa khẩu, phải kêu gọi giải cứu. Sau chuyện đó, nhiều người thay đổi cách làm, hướng tới sản xuất sạch hơn để dễ vào siêu thị, cửa hàng".
Theo chị, người tiêu dùng ngày càng quan tâm sức khỏe nên nông dân cũng buộc phải thay đổi. "Sản lượng ít hơn chút cũng được, miễn chất lượng tốt, bán được giá. Mỗi vụ dư dả tiền nuôi con ăn học là mừng rồi".
Theo thống kê, Quảng Ngãi mỗi năm có khoảng 800 ha dưa hấu, sản lượng hơn 20.000 tấn. Ngoài diện tích trong tỉnh, còn hàng trăm héc ta đất ở Tây Nguyên được người dân thuê để tiếp tục những mùa dưa nối dài.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Trong hành trình tìm về những "địa chỉ đỏ" của lịch sử dân tộc, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào tại tỉnh Tuyên Quang luôn là điểm dừng chân mang đến nhiều cảm xúc sâu lắng đối với mỗi người dân Việt Nam. Vùng đất từng được mệnh danh là "Thủ đô Khu giải phóng", "Thủ đô Kháng chiến" không chỉ lưu giữ những dấu son chói lọi của cách mạng mà còn trở thành nơi kết nối quá khứ với hiện tại, để mỗi bước chân du khách thêm hiểu và tự hào về lịch sử dân tộc.
Giữa những cánh rừng xanh ngát của chiến khu xưa, các địa danh như lán Nà Nưa, đình Tân Trào, cây đa Tân Trào, đình Hồng Thái… vẫn lặng lẽ kể lại những câu chuyện hào hùng về một thời kỳ lịch sử đặc biệt của đất nước.
Đến thăm lán Nà Nưa, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống và làm việc trong những ngày tiền khởi nghĩa, nhiều du khách không khỏi bất ngờ trước diện mạo ngày càng khang trang nhưng vẫn giữ được nét nguyên sơ vốn có.
Vừa bước qua những bậc thang dẫn lên căn lán nhỏ giữa rừng, anh Nguyễn Như Ánh, thành viên trong đoàn du khách đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, không giấu được niềm xúc động. Đây là lần thứ ba anh trở lại Tân Trào, nhưng mỗi chuyến đi đều mang đến những cảm nhận hoàn toàn mới.
Theo anh Ánh, cơ sở hạ tầng, hệ thống đường giao thông, công tác hướng dẫn và tổ chức tham quan hiện nay đã được đầu tư đồng bộ, chuyên nghiệp hơn rất nhiều. "Từ cơ sở vật chất, đường xá đi lại tốt hơn, việc bố trí, hướng dẫn viên và các nội dung liên quan đến di tích hiện đại hơn, chuyên nghiệp hơn", anh chia sẻ.
Không chỉ ấn tượng với sự đổi thay trong công tác bảo tồn và phát triển du lịch, nam du khách còn đặc biệt yêu thích không gian thiên nhiên trong lành bao quanh khu di tích. Những cánh rừng nguyên sinh xanh mát, những tán cây cổ thụ vươn mình giữa đại ngàn tạo nên một khung cảnh bình yên hiếm có. "Cảnh quan ở đây thì quá đẹp rồi, không có gì để chê cả", anh Ánh cười nói.
Cùng thời điểm, Chi bộ Văn phòng Công nhận Chất lượng Quốc gia (trực thuộc Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ) cũng tổ chức hành trình về nguồn đầy ý nghĩa. Đứng trước lán Nà Nừa mộc mạc, nơi từng chứng kiến những quyết định mang tính bước ngoặt của dân tộc, nhiều cán bộ, đảng viên đã có những phút giây lắng đọng và xúc động sâu sắc.
Chị Trần Thị Thu Hà – Bí thư Chi bộ, Giám đốc Văn phòng Công nhận Chất lượng Quốc gia – đã không thể kìm nén cảm xúc: "Đứng trước lán Nà Nừa mộc mạc giữa đại ngàn Tân Trào lịch sử, trong lòng tôi trào dâng một cảm xúc thiêng liêng và xúc động nghẹn ngào. Nơi căn lán nhỏ đơn sơ này, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng sống, làm việc và đưa ra những quyết định mang tính bước ngoặt cho vận mệnh của cả dân tộc".
Chị Hà nhấn mạnh, chuyến đi này không chỉ đơn thuần là một hành trình về nguồn, mà còn là một khoảng lặng quý giá để mỗi đảng viên tự soi rọi lại mình. "Hành trình hôm nay chính là động lực tinh thần to lớn nhắc nhở chúng tôi luôn cống hiến hết mình, trung thực, khách quan để xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ ông cha", chị Hà khẳng định.
Từ lâu, Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào đã được xem là một trong những "địa chỉ đỏ" tiêu biểu của cả nước, nơi lưu giữ những dấu ấn đặc biệt của lịch sử dân tộc trong thế kỷ XX.
Ông Viên Ngọc Tân, Phó Giám đốc Bảo tàng ATK Tân Trào – đơn vị quản lý Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào – cho biết điểm nhấn để thu hút khách du lịch chính là giá trị lịch sử, nằm ở hệ thống di tích gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan đầu não của cách mạng Việt Nam qua ba giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng: thời kỳ tiền khởi nghĩa trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam.
Theo ông Tân, hiếm có nơi nào hội tụ đầy đủ những dấu tích lịch sử quan trọng như Tân Trào. Chính vì vậy, khu di tích không chỉ là điểm tham quan mà còn là không gian giáo dục truyền thống cách mạng sinh động cho các thế hệ hôm nay.
Bên cạnh giá trị lịch sử to lớn, vùng đất từng được mệnh danh là "Thủ đô Kháng chiến" còn sở hữu vẻ đẹp nguyên sơ của núi rừng Việt Bắc cùng những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc địa phương. Những cánh rừng xanh ngát, những ngôi nhà sàn truyền thống và không khí thanh bình đã tạo nên sức hút riêng cho Tân Trào, phù hợp với xu hướng du lịch trải nghiệm, khám phá và nghỉ dưỡng.
Sau hai ngày tham quan và tìm hiểu tại khu di tích, bạn Ngọc Mai (23 tuổi) cùng nhóm bạn đã có nhiều ấn tượng đẹp về vùng đất lịch sử này. Bên cạnh các điểm đến nổi tiếng như lán Nà Nưa, đình Tân Trào hay cây đa Tân Trào, điều khiến Mai yêu thích nhất chính là cảnh quan thiên nhiên và sự thân thiện của người dân địa phương.
"Những cây cổ thụ, những cánh rừng xanh và các ngôi nhà sàn ở đây rất đẹp. Đặc biệt, khi chúng mình có việc gì cần hỏi, người dân luôn niềm nở trả lời và tận tình chỉ dẫn", Ngọc Mai chia sẻ.
Không chỉ mang đến những trải nghiệm đáng nhớ cho du khách, du lịch cũng đang góp phần tạo sinh kế cho người dân địa phương. Tại các điểm di tích, nhiều người dân tham gia kinh doanh dịch vụ, bán sản vật địa phương hoặc làm nghề chụp ảnh lưu niệm cho khách tham quan.
Chị Liễu, người buôn bán gần cây đa Tân Trào, cho biết lượng khách đến khu di tích có sự khác biệt rõ rệt giữa các thời điểm trong tuần.
"Vào những ngày đầu tuần, không gian di tích có phần tĩnh lặng, vắng vẻ hơn. Tuy nhiên, cứ đến hai ngày cuối tuần, lượng khách tham quan, hành hương lại tăng lên đáng kể", chị Liễu cho hay.
Dù thu nhập phụ thuộc khá nhiều vào mùa du lịch, chị Liễu cũng như nhiều người dân khác vẫn luôn tự hào khi được sinh sống trên quê hương cách mạng. Với họ, việc giới thiệu cho du khách những câu chuyện gắn liền với từng địa danh lịch sử không chỉ là công việc mà còn là niềm tự hào và trách nhiệm gìn giữ truyền thống quê hương.
Theo ông Viên Ngọc Tân, người dân địa phương chính là lực lượng quan trọng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào. Truyền thống cách mạng đã tạo nên ý thức gìn giữ di tích rất cao trong cộng đồng dân cư nơi đây.
Ông Tân cho biết, ngay từ thời kỳ kháng chiến, Tân Trào được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn làm căn cứ cách mạng bởi tinh thần yêu nước, sự đoàn kết và niềm tin son sắt của nhân dân đối với cách mạng. Truyền thống ấy vẫn tiếp tục được phát huy trong thời kỳ hiện đại.
Một minh chứng rõ nét là trong quá trình triển khai các dự án giao thông phục vụ phát triển du lịch và bảo tồn di tích, nhiều hộ dân đã chủ động tạo điều kiện để các đơn vị thi công triển khai công trình trước, hoàn tất các thủ tục kiểm kê và đền bù sau nhằm đảm bảo tiến độ.
"Đây là quê hương cách mạng, người dân cũng là những người dân cách mạng", ông Tân nhấn mạnh.
Không chỉ đồng hành trong các hoạt động phát triển hạ tầng, người dân còn trực tiếp tham gia bảo vệ, chăm sóc và phát huy giá trị các điểm di tích. Thông qua công tác tuyên truyền của cơ quan quản lý, nhận thức của cộng đồng về việc gìn giữ các giá trị lịch sử ngày càng được nâng cao, góp phần bảo tồn nguyên vẹn những dấu tích quý báu của dân tộc.
Đáng chú ý, trong thời gian tới, Bảo tàng ATK Tân Trào dự kiến phối hợp với chính quyền địa phương triển khai các chương trình đào tạo nhằm nâng cao kiến thức lịch sử cho người dân tham gia hoạt động du lịch. Những hộ kinh doanh dịch vụ, bán sản vật địa phương hoặc thường xuyên tiếp xúc với du khách sẽ được trang bị kiến thức chuyên sâu về lịch sử Tân Trào để có thể giới thiệu chính xác, đầy đủ những câu chuyện gắn liền với vùng đất cách mạng.
"Mục tiêu là để mỗi người dân đều có thể trở thành một hướng dẫn viên du lịch khi du khách có nhu cầu tìm hiểu về lịch sử địa phương. Tuy nhiên, việc này sẽ được đào tạo và kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo thông tin truyền tải đúng với các giá trị lịch sử", ông Tân cho biết.
Ngoài ra, người dân còn là lực lượng nòng cốt trong công tác đảm bảo an ninh trật tự và phòng cháy chữa cháy tại khu di tích. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng bởi phần lớn các công trình lịch sử tại khi di tích được xây dựng bằng các vật liệu truyền thống như tre, nứa, lá, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ cao.
Theo ông Tân, sự ổn định về an ninh, an toàn của khu di tích hiện nay có đóng góp rất lớn từ cộng đồng dân cư địa phương. Chính sự chung tay của người dân đã giúp bảo vệ những giá trị lịch sử quý báu, đồng thời góp phần đưa Tân Trào trở thành điểm đến ngày càng hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

