Caffeine là chất kích thích tác động lên hệ thần kinh trung ương. Chất này giúp tăng tỉnh táo bằng cách ngăn adenosine – hợp chất liên quan cảm giác buồn ngủ – hoạt động trong não. Khi sử dụng caffeine thường xuyên, não bộ dần thích nghi với trạng thái kích thích này. Vì vậy, khi ngừng đột ngột, cơ thể cần thời gian điều chỉnh lại, dẫn đến các triệu chứng cai caffeine.
Caffeine còn làm tăng adrenaline và dopamine, đồng thời làm giảm lưu lượng máu lên não. Khi ngừng sử dụng, não phải thích nghi trở lại với sự thay đổi này.
Các triệu chứng xuất hiện khi ngừng uống cà phê thường xuất hiện sau 12-24 giờ kể từ lần tiêu thụ cuối cùng và có thể kéo dài 2-9 ngày. Sau khoảng một tuần, phần lớn triệu chứng sẽ giảm dần và nhiều người bắt đầu cảm thấy giấc ngủ ổn định hơn. Những người quen uống cà phê hàng ngày thường dễ gặp triệu chứng rõ hơn nếu giảm hoặc ngừng đột ngột.
24 giờ đầu: Đau đầu và thiếu năng lượng
Trong ngày đầu tiên không uống cà phê, nhiều người bắt đầu cảm thấy đau đầu, mệt mỏi hoặc buồn ngủ hơn bình thường. Trong đó, đau đầu là triệu chứng phổ biến nhất khi bỏ caffeine vì đây là chất làm co mạch máu trong não. Khi ngừng sử dụng, mạch máu giãn ra trở lại khiến lưu lượng máu tăng lên, từ đó gây đau đầu.
Ngoài ra, cơ thể cũng có thể xuất hiện cảm giác uể oải do adenosine không còn bị caffeine “chặn lại” như trước. Một số người có thể cảm thấy giảm động lực làm việc hoặc khó duy trì sự tỉnh táo trong giai đoạn này.
Ngày thứ hai và thứ ba: Triệu chứng thường nặng nhất
Các triệu chứng ngừng uống cà phê thường đạt đỉnh trong khoảng 24-51 giờ sau khi ngừng sử dụng. Ở giai đoạn này, ngoài đau đầu và mệt mỏi, nhiều người còn cảm thấy cáu gắt, giảm tập trung hoặc tâm trạng đi xuống. Một số trường hợp xuất hiện cảm giác giống cúm nhẹ như buồn nôn, đau cơ hoặc cứng người.
Khó tập trung và tâm trạng giảm sút là những dấu hiệu thường gặp do não bộ đang điều chỉnh lại hoạt động sau thời gian phụ thuộc caffeine.
Sau vài ngày: Cơ thể dần thích nghi
Sau khoảng 4-5 ngày, não bộ bắt đầu điều chỉnh lại hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh và triệu chứng thường giảm dần. Cảm giác đau đầu thường cải thiện trước, trong khi mệt mỏi hoặc buồn ngủ có thể kéo dài thêm vài ngày ở một số người. Dần dần, mức năng lượng ổn định hơn sau khi vượt qua giai đoạn đầu ngưng uống cà phê.
Sau 7 ngày: Giấc ngủ có thể cải thiện
Khoảng sau một tuần, phần lớn triệu chứng thể chất đã giảm rõ rệt. Bạn có thể dễ ngủ, ngủ ngon hoặc ngủ sâu hơn.
Khi uống cà phê, caffeine có xu hướng tồn tại trong cơ thể nhiều giờ và ảnh hưởng chất lượng giấc ngủ ngay cả khi cảm giác tỉnh táo đã giảm. Não bộ không còn phụ thuộc vào caffeine để duy trì tỉnh táo, mức năng lượng trong ngày có thể trở nên ổn định hơn thay vì dao động theo từng cốc cà phê.
Một số người có triệu chứng nặng hơn
Các triệu chứng xuất hiện khi ngừng uống cà phê phụ thuộc vào thói quen tiêu thụ trước đó và yếu tố di truyền. Các nghiên cứu cho thấy gene CYP1A2 – loại enzyme ở gan tham gia chuyển hóa caffeine – có thể ảnh hưởng tốc độ phân giải caffeine trong cơ thể. Người chuyển hóa chậm có xu hướng nhạy cảm hơn với caffeine và có thể gặp triệu chứng cai caffeine rõ hơn khi ngừng sử dụng. Những người uống nhiều cà phê hoặc nước tăng lực trong thời gian dài cũng có thể mất nhiều thời gian hơn để thích nghi.
Các chuyên gia khuyến cáo nên giảm dần caffeine thay vì ngừng hoàn toàn ngay lập tức, đặc biệt với người uống nhiều cà phê mỗi ngày. Có thể giảm từ từ bằng cách pha cà phê half-decaf (loại đã giảm caffeine), giảm số cốc mỗi ngày. Uống đủ nước, ngủ đầy đủ và vận động nhẹ cũng giúp cơ thể thích nghi dễ hơn.
Điều trị càng sớm càng giúp giảm tổn thương não và hạn chế di chứng, đặc biệt trong đột quỵ thiếu máu não do tắc mạch. Nguyên nhân là do một số phương pháp điều trị chỉ hiệu quả trong một khoảng thời gian nhất định, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Tuy nhiên, khi thấy người thân có biểu hiện như méo miệng, nói khó, yếu tay chân hoặc mất thăng bằng đột ngột, nhiều người lại xử lý theo thói quen hoặc truyền miệng dân gian. Một số hành động tưởng như vô hại như để người bệnh nằm nghỉ, cho uống thuốc có thể khiến điều trị bị chậm trễ.
Dưới đây là những điều không nên làm nếu nghi ngờ ai đó đang bị đột quỵ:
Một số người nghĩ rằng aspirin có thể làm loãng máu nên sẽ giúp ích khi nghi ngờ đột quỵ. Đây là quan niệm nguy hiểm vì không phải tất cả các trường hợp đột quỵ đều do cục máu đông gây ra.
Hiệp hội Đột quỵ Mỹ cho biết đột quỵ có thể xảy ra do tắc mạch máu não hoặc do xuất huyết não. Nếu người bệnh đang bị xuất huyết não, dùng aspirin có thể khiến tình trạng chảy máu nghiêm trọng hơn. Ngoài aspirin, cũng không nên cho người bệnh uống thuốc huyết áp, thuốc cảm hoặc bất kỳ bài thuốc dân gian nào khi chưa có chỉ định của bác sĩ.
Người bị đột quỵ có thể bị ảnh hưởng khả năng nuốt do tổn thương vùng não kiểm soát cơ họng và đường thở. Vì vậy, cho uống nước, sữa hoặc ăn cháo trong lúc chờ cấp cứu có thể làm tăng nguy cơ sặc. Nếu người bệnh nôn ói thì nên để họ nằm nghiêng sang một bên để hạn chế nguy cơ hít dịch nôn vào phổi.
Một số người thấy bệnh nhân mệt hoặc than nhức đầu nên nghĩ rằng để họ ngủ một lát sẽ giúp cơ thể hồi phục. Trên thực tế, đây có thể là thời điểm tình trạng tổn thương não đang tiến triển nặng hơn.
Nếu người bệnh ngủ hoặc ở một mình, người thân có thể không nhận ra khi triệu chứng trở nặng như mất ý thức, khó thở hoặc liệt nặng hơn. Điều này cũng làm tăng nguy cơ bỏ lỡ thời gian điều trị quan trọng.
Trong một số trường hợp, khi người bệnh đột ngột méo miệng hoặc yếu tay chân, người thân có thể nghĩ đến cạo gió, bấm huyệt, chích máu đầu ngón tay hoặc các mẹo dân gian khác.
Không có bằng chứng khoa học nào cho thấy những biện pháp trên có thể đảo ngược đột quỵ và quan trọng hơn là chúng làm mất thời gian cấp cứu. Với đột quỵ, từng phút đều quan trọng vì hàng triệu tế bào não có thể bị tổn thương mỗi phút nếu dòng máu không được phục hồi, theo Medical News Today.
Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.
Ngày 13/5, nguồn tin của phóng viên Dân trí cho biết, các bác sĩ tại Bệnh viện Chợ Rẫy đang tiếp nhận cấp cứu, điều trị một trường hợp bị biến chứng nặng sau phẫu thuật thẩm mỹ.
Bệnh nhân là người phụ nữ 53 tuổi, ngụ tại TPHCM, được chuyển vào Bệnh viện Chợ Rẫy ngày 8/5. Theo thông tin ban đầu, trước đó bệnh nhân thực hiện thủ thuật hút mỡ vùng hông lưng và vùng cằm tại một phòng khám ở TPHCM. Sau thủ thuật, bệnh nhân xuất hiện tình trạng co giật và hôn mê.
Thời điểm vào viện, bệnh nhân đã hôn mê độ 3 (thang đo glasgow đạt 6 điểm), phải duy trì thuốc an thần để kiểm soát co giật, tụt huyết áp, phải hỗ trợ hô hấp bằng bóp bóng qua nội khí quản.
Bệnh nhân được các bác sĩ khoa Cấp cứu xử lý ổn định về huyết áp, hô hấp và tuần hoàn, sau đó chuyển lên khoa Bệnh Nhiệt đới để tiếp tục theo dõi, với chẩn đoán ngộ độc thuốc tê Lidocaine.
BSCKII Đỗ Thị Ngọc Khánh, Phó khoa Bệnh Nhiệt đới chia sẻ, ê-kíp điều trị đã xử trí cho bệnh nhân theo đúng phác đồ giải độc Lidocaine, đồng thời sử dụng đầy đủ các trang thiết bị y tế hiện đại, phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa liên quan để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị cho người phụ nữ.
Sau vài ngày điều trị, bệnh nhân có cải thiện tri giác nhẹ, không còn xuất hiện các cơn co giật, huyết áp tạm thời được kiểm soát nhưng vẫn duy trì thở máy qua nội khí quản.
Phía Bệnh viện Chợ Rẫy đã báo cáo trường hợp tai biến thẩm mỹ này đến Sở Y tế TPHCM.
Trước đó, tại hội thảo liên quan vấn đề an toàn thẩm mỹ diễn ra ngày 12/5 ở TPHCM, BSCKII Đào Văn Sinh, Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Y tế tại TPHCM cho biết, mỗi năm Việt Nam ghi nhận 25.000-35.000 ca biến chứng liên quan đến thẩm mỹ.
Đáng chú ý, nhiều trường hợp tai biến xảy ra tại các cơ sở không được cấp phép, hoặc do người thực hiện không có chuyên môn y khoa. Những hậu quả không chỉ dừng lại ở tổn thương sức khỏe, mà còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý, kinh tế của người dân, thậm chí có trường hợp để lại di chứng suốt đời.
Một vấn đề khác cần nhìn nhận thẳng thắn là sự tồn tại của các cơ sở thẩm mỹ hoạt động "chui", núp bóng dưới danh nghĩa chăm sóc sắc đẹp nhưng lại thực hiện các thủ thuật xâm lấn. Đây không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà còn là mối nguy trực tiếp đối với sức khỏe cộng đồng.
PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Vân, Chủ tịch Hội Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ TPHCM chia sẻ, một trong những bất cập lớn hiện nay là chế tài các cơ sở thẩm mỹ vi phạm chưa đủ sức răn đe. Nhiều cơ sở dù bị xử phạt vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, bởi mức phạt không tương xứng với lợi nhuận rất lớn từ hoạt động thẩm mỹ.
Có những người không có kiến thức y khoa nhưng vẫn tiêm filler, làm phẫu thuật, thậm chí livestream dạy người khác làm.
Luật sư Vi Thị Phường, Đoàn Luật sư TP Đồng Nai nhận định, cơ quan chức năng cần có giải pháp phải đảm bảo các spa không được đặt tên gây nhầm lẫn, tạo hiểu lầm cho khách hàng.
Để phân biệt spa "chui", người dân có thể kiểm tra giấy phép, chứng chỉ hành nghề của các bác sĩ trên cổng thông tin của Sở Y tế, UBND tỉnh. Ngoài ra, cần tăng mức xử phạt hành chính, tăng trách nhiệm hình sự với những sai phạm trong lĩnh vực thẩm mỹ gây ảnh hưởng sức khỏe, tính mạng người dân.