Đây không chỉ là một vấn đề quản lý giáo dục đơn thuần, mà phản ánh một thách thức mang tính cấu trúc của đô thị lớn: sự lệch pha giữa tốc độ gia tăng dân số học đường và năng lực đáp ứng của hệ thống trường lớp.
Nếu chỉ nhìn nhận vấn đề dưới góc độ “thiếu phòng học”, chúng ta có thể đưa ra giải pháp ngắn hạn nhưng nếu đặt nó trong mối quan hệ với dự báo số trẻ, số học sinh đến trường, thì đây thực chất là một bài toán chiến lược, đòi hỏi tư duy hệ thống và tầm nhìn dài hạn.
Trước hết, cần khẳng định xây dựng thêm trường học để giảm ca học, giảm sĩ số lớp, đáp ứng nhu cầu học của nhóm học sinh di cư tự nhiên trong phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo điều kiện giáo dục cho tất cả trẻ em… là một mục tiêu đúng đắn và cần thiết.
Tuy nhiên, điều đáng suy nghĩ là vì sao tình trạng thiếu phòng học kéo dài nhiều năm và chưa được giải quyết triệt để? Câu trả lời nằm ở chỗ chúng ta vẫn đang giải bài toán phòng học theo cách “chạy theo nhu cầu”, thay vì “đi trước nhu cầu” bằng các công cụ dự báo khoa học.
“Không dự báo thì mọi quy hoạch đều mang tính hồi ứng, không phải dẫn dắt”. Kết quả nếu chỉ xây đủ, xây vừa đủ thì việc chạy theo nhu cầu thực tế sẽ mãi là bài toán dài lâu chưa thể giải.
Trong một đô thị năng động như TP.HCM, dân số không chỉ tăng tự nhiên mà còn tăng cơ học do làn sóng nhập cư. Những khu vực có khu công nghiệp, khu chế xuất hay các khu đô thị mới thường chứng kiến sự gia tăng đột biến của trẻ em trong độ tuổi đến trường.
Nếu không có hệ thống dự báo chính xác và cập nhật, việc xây dựng trường học sẽ luôn rơi vào trạng thái bị động: nơi cần thì chưa có, nơi có thì chưa đủ, và khi xây xong thì nhu cầu đã tiếp tục thay đổi. Do đó, phòng học phải bắt đầu từ câu chuyện dự báo.
Dự báo ở đây không chỉ là ước lượng số lượng trẻ em hay học sinh trong tương lai, mà phải là một hệ thống phân tích đa chiều: theo độ tuổi, theo cấp học, theo không gian địa lý và theo biến động dân cư.
Một vấn đề đáng lưu ý là khoảng cách giữa “có dự báo” và “sử dụng dự báo”. Trên thực tế nhiều địa phương đã có số liệu về dân số, về trẻ em trong độ tuổi đến trường nhưng việc chuyển hóa các con số đó thành kế hoạch cụ thể vẫn còn chậm.
Dữ liệu tồn tại nhưng chưa trở thành cơ sở cho quyết định. Điều này dẫn đến một nghịch lý: chúng ta biết trước áp lực sẽ đến nhưng vẫn không chuẩn bị đủ để đón nhận.
Bên cạnh yếu tố dự báo cần nhìn nhận phòng học trong mối quan hệ với chất lượng giáo dục. Việc xây thêm trường lớp để giảm tải số học sinh, giảm số ca học nếu có là cần thiết nhưng nếu chỉ dừng lại ở số lượng, chúng ta có thể vô tình tạo ra một hệ thống “đủ chỗ nhưng chưa đủ chất”.
Một khía cạnh khác không thể bỏ qua là sự đồng bộ giữa phòng học và đội ngũ giáo viên. Có những nơi xây được trường mới nhưng lại thiếu giáo viên; ngược lại, có nơi đội ngũ dồi dào nhưng cơ sở vật chất không đáp ứng. Điều này cho thấy phòng học chỉ là một phần của bài toán lớn hơn – bài toán về hệ sinh thái giáo dục.
Việc giảm sĩ số học sinh, tăng trường lớp buộc phải dự báo số giáo viên và cả nhu cầu đào tạo bởi đào tạo một giáo viên cần ít nhất 4 năm.
Ngay cả việc sử dụng cơ chế tuyển dụng đột phá cũng cần phải tính toán về đảm bảo chất lượng, tuyển và giữ chân dài lâu, bồi dưỡng phát triển năng lực liên tục, nhất là thích nghi với các yêu cầu chất lượng cao về “làm nghề” để đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố. Nếu không giải quyết đồng thời các yếu tố liên quan, việc tăng số phòng học cũng khó mang lại hiệu quả như mong đợi.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích xu hướng dân số và nhu cầu học tập là hoàn toàn khả thi.
Khi đó, dự báo không còn là những con số tĩnh, mà là một quá trình động, được cập nhật liên tục và phản ánh sát thực tế nhất là cần thỏa mãn các “thông số” định hướng phát triển giáo dục cũng như “gia tốc” phát triển về sức khỏe, tâm lý của học sinh thành phố.
Một điểm quan trọng khác là cần thay đổi cách tiếp cận trong đầu tư. Thay vì tập trung dồn lực để giải quyết các “điểm nóng” khi đã quá tải, cần có cơ chế đầu tư sớm, đi trước một bước. Điều này có thể gặp khó khăn về nguồn lực trong ngắn hạn, nhưng sẽ giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả trong dài hạn.
Không thể không nhắc đến vai trò của giáo dục ngoài công lập trong việc giảm áp lực phòng học.
Cần nhìn nhận linh hoạt rằng chúng ta vẫn rất cần giáo dục ngoài công lập nhưng nếu chúng ta đầu tư nhiều phòng lớp cho giáo dục công lập thì giáo dục ngoài công lập phải vận hành mới, phát triển mới với các điều kiện tốt, mô hình hiện đại và các thành tựu giáo dục không ngừng vượt trội.
Sự phát triển của khu vực này cũng cần được đặt trong quy hoạch tổng thể, tránh tình trạng phân bố không đồng đều hoặc chênh lệch quá lớn về chất lượng. Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo quyền học tập phổ cập, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở ngoài công lập phát triển theo định hướng chung.
Có thể thấy rằng phòng học chỉ là “phần nổi” của một bài toán sâu hơn. Đó là bài toán về cách chúng ta nhìn nhận và quản lý sự phát triển của hệ thống giáo dục và cả văn hóa xã hội trong một đô thị lớn.
Nếu chỉ tập trung vào việc xây dựng thêm phòng học, chúng ta có thể giải quyết được vấn đề trước mắt; nhưng nếu muốn xây dựng một hệ thống giáo dục bền vững thì cần bắt đầu từ nền tảng: dự báo chính xác số trẻ, số học sinh đến trường.
Mỗi phòng học được xây dựng hôm nay không chỉ phục vụ cho hiện tại mà còn là một cam kết cho tương lai.
Lễ phát động cuộc thi "50 năm Thành phố trong tôi" diễn ra đúng dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026).
Cuộc thi được tổ chức hướng tới kỷ niệm 50 năm Quốc hội khóa VI ban hành Nghị quyết đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh (2/7/1976-2/7/2026).
Nửa thế kỷ sau dấu mốc lịch sử ấy, TPHCM đã trở thành đô thị đặc biệt, trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước, đồng thời là nơi lưu giữ ký ức, tuổi trẻ và khát vọng của hàng triệu con người qua nhiều thế hệ.
Tham dự lễ phát động có Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu - nguyên Cụm trưởng Cụm tình báo H63, Chính ủy Lữ đoàn Đặc công 316. Ông Phạm Minh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Địa phương 3, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; ông Phạm Anh Thắng - Phó Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ, Trưởng đại diện Văn phòng Bộ tại phía Nam; ông Lê Thắng Lợi - Giám đốc Trung tâm Phát triển Giáo dục và Đào tạo phía Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Về phía lãnh đạo TPHCM và các sở, ban, ngành có ông Tăng Hữu Phong - Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TPHCM; bà Lượng Thị Tới - Phó Giám đốc Sở Nội vụ TPHCM; ông Nguyễn Ngọc Hồi - Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM.
Đại diện Ban tổ chức có bà Huỳnh Lê Như Trang - Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM, nhà báo Phạm Tuấn Anh - Tổng Biên tập Báo Dân trí.
Chương trình còn có sự tham dự của đại diện Ban Giám hiệu các trường đại học, cao đẳng, lãnh đạo các trường THPT trên địa bàn TPHCM, Á hậu 1 Hoa hậu Việt Nam 2020 Phạm Ngọc Phương Anh, Á hậu 1 Hoa hậu Thế giới Việt Nam 2025 Lê Phương Khánh Như, Top 5 Hoa hậu Việt Nam 2016 Đào Hà, cùng bà Bùi Minh Tâm - Hiệu trưởng, Ban Giám hiệu và học sinh Trường THPT Lê Quý Đôn.
Phát biểu tại lễ phát động cuộc thi, Nhà báo Phạm Tuấn Anh - Tổng Biên tập Báo Dân trí - cho biết, với vai trò cơ quan báo chí đồng tổ chức, báo Dân trí mong muốn cuộc thi này không chỉ là một hoạt động trong ngành giáo dục, mà sẽ trở thành không gian lưu giữ ký ức, cảm xúc và góc nhìn đa thế hệ về TPHCM trong dấu mốc 50 năm mang tên Bác.
“Ở đó có ký ức của những người đã đi cùng thành phố qua nhiều giai đoạn đổi thay; có suy nghĩ, trải nghiệm của học sinh, sinh viên hôm nay; có tâm huyết của thầy cô giáo, nhà quản lý giáo dục và tình cảm của những người yêu mến TPHCM.
Chúng tôi tin rằng, từ những câu chuyện rất riêng ấy sẽ hiện lên hình ảnh một thành phố giàu lịch sử, giàu sức sống và luôn hướng về tương lai bằng khát vọng phát triển, sáng tạo và nghĩa tình”, nhà báo Phạm Tuấn Anh chia sẻ.
Ban tổ chức kỳ vọng cuộc thi sẽ góp phần giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng tự hào và trách nhiệm công dân, đồng thời lan tỏa hình ảnh một TPHCM văn minh, hiện đại, sáng tạo và nghĩa tình.
Bà Huỳnh Lê Như Trang - Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM - cho biết đối với ngành giáo dục và đào tạo thành phố, cuộc thi hôm nay là dịp để khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập, khả năng quan sát, năng lực kể chuyện và sáng tạo theo những năng lực rất cần thiết của công dân trong thời đại mới.
"Đây đồng thời là cơ hội để cho giáo dục truyền thống theo cách gần gũi nhất, giàu cảm xúc nhất, giúp cho các em trẻ hiểu rằng lịch sử không chỉ nằm trong sách vở mà còn hiện diện trong đời sống hàng ngày của thành phố mà các em đang sống.
Tôi mong muốn rằng các thầy cô không chỉ là người định hướng, người hướng dẫn, người đồng hành của các học sinh trong các cuộc thi ngày hôm nay, mà các thầy cô cũng chính là người sẽ kể chuyện về ký ức qua cái nghề nghiệp của mình, bằng những tình yêu thương của mình, bằng những năm tháng đi qua cùng với thế hệ học trò của mình cùng trong năm mươi năm qua", bà Trang chia sẻ.
Cuộc thi cũng là dịp để nhiều thế hệ cùng nhìn lại hành trình phát triển của TPHCM bằng ký ức, trải nghiệm, góc nhìn và khát vọng của chính mình.
Điểm nhấn đặc biệt của chương trình là phần giao lưu “50 năm Thành phố trong tôi - Ký ức, tự hào và khát vọng” với sự tham gia của Đại tá Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Cụm trưởng Cụm tình báo H63, Chính ủy Lữ đoàn Đặc công 316 - và Á hậu Phạm Ngọc Phương Anh, đại diện cho thế hệ trẻ trưởng thành trong một TPHCM hiện đại, năng động hôm nay.
Trong phần giao lưu Đại tá Tư Cang xúc động nhớ lại những năm tháng hoạt động cách mạng giữa lòng Sài Gòn thời chiến và bày tỏ niềm tự hào khi chứng kiến TPHCM ngày càng phát triển. Trong khi đó, Á hậu Phương Anh cho biết cô sinh ra, lớn lên tại TPHCM nên có nhiều ký ức đẹp với thành phố. Khi lắng nghe những câu chuyện của Đại tá Tư Cang về Sài Gòn thời chiến, cô càng thêm xúc động và được truyền nhiều cảm hứng.
Phát biểu tại lễ phát động, em Đặng Thái Bảo Khanh - Ủy viên Ban Chấp hành Đoàn phường Xuân Hòa, Bí thư Đoàn Trường THPT Lê Quý Đôn - cho rằng, cuộc thi là “chiếc cầu nối thời gian” để thế hệ trẻ hiểu và trân trọng hơn những đóng góp, hy sinh của các thế hệ đi trước đối với diện mạo thành phố hôm nay.
Theo Bảo Khanh, cuộc thi không chỉ là sân chơi kiến thức mà còn là nơi để người trẻ thể hiện góc nhìn, tình cảm và trách nhiệm của bản thân với thành phố nơi mình sinh sống, trưởng thành.
"Đối với thế hệ trẻ chúng em, cuộc thi này không chỉ là một cuộc thi về tìm hiểu về kiến thức, mà là nơi để chúng ta nói lên tiếng lòng và thể hiện góc nhìn của riêng mình. Đó có thể là một bài viết về ký ức gia đình, một thước phim ngắn ghi lại góc phố thân quen hay những giải pháp công nghệ xanh đóng góp cho tương lai.
Qua đó, mỗi chúng ta sẽ tự nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của bản thân đối với nơi mình đang sinh sống và trưởng thành", Bảo Khanh nói.
Dự kiến, cuộc thi sẽ tiếp cận hơn 3.500 cơ sở giáo dục, hơn 100.000 giáo viên, giảng viên cùng hơn 2 triệu học sinh, sinh viên và đông đảo phụ huynh, bạn đọc.
Nghị định 91 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học, nêu rõ nguyên tắc đặt tên trường đại học.
Theo đó, nguyên tắc chung khi đặt tên trường là đảm bảo tính ổn định, lâu dài, không sử dụng từ ngữ thể hiện danh hiệu, thứ hạng hoặc gây nhầm lẫn với tên của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị - xã hội.
Tên trường đại học không được dùng từ ngữ mang tính "quốc gia" hoặc thể hiện vị thế đặc biệt như: "quốc tế", "quốc gia", "Việt Nam", tên các quốc gia khác và các từ có ý nghĩa tương tự.
Tuy nhiên, một số trường có thể dùng các từ trên. Đây là điểm mới so với dự thảo hồi tháng 12 năm ngoái.
Cụ thể, cụm từ "quốc tế" được dùng trong ba trường hợp: trường đào tạo tất cả ngành ở bậc đại học, thạc sĩ, tiến sĩ bằng tiếng nước ngoài; cơ sở có 100% vốn đầu tư nước ngoài; hoặc trường được thành lập theo hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và nước ngoài.
Tương tự, cụm từ "Việt Nam" được dùng nếu cơ sở giáo dục có 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc thành lập theo hiệp định.
Ngoài ra, trường được công nhận là đại học quốc gia thì có thể thêm cụm từ "quốc gia" trong tên.
Về cấu trúc, tên tiếng Việt phải gồm: Cụm từ xác định loại hình (đại học, trường đại học, học viện); cụm từ xác định lĩnh vực (nếu cần) và tên riêng (địa danh, danh nhân...).
Với tên tiếng nước ngoài hoặc tên giao dịch quốc tế, các trường dịch tương đương tiếng Việt, không được làm tăng mức độ, vị thế hoặc loại hình. Tên miền Internet, tên thương mại, viết tắt phải nhất quán với tên tiếng Việt và tên tiếng nước ngoài.
Các trường dùng ký tự viết tắt cần lưu ý không làm phát sinh khả năng hiểu sai với trường khác trong và ngoài nước.
Trước đây không có quy định nào nêu nguyên tắc chi tiết như trên mà chỉ yêu cầu đảm bảo sự trong sáng của ngôn ngữ, không vi phạm truyền thống lịch sử, thuần phong mỹ tục, không gây nhầm lẫn về đẳng cấp, thứ hạng, nội dung chương trình đào tạo. Trong cấu trúc, phần tên riêng có thể là địa phương, danh nhân, tên cá nhân, tổ chức...
Hiện, tên đại học ở Việt Nam khá đa dạng. Một số trường tư thục có chữ "quốc tế" như trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng (Hong Bang International University), trường Đại học Tư thục Quốc tế Sài Gòn (The Saigon International University).
Một số trường có chữ "Việt Nam" trong tên như Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Phụ nữ Việt Nam, Thanh thiếu niên Việt Nam.
Tối 23.4, tổ chức Times Higher Education (THE) ở Anh chính thức công bố bảng xếp hạng ĐH tốt nhất châu Á năm 2026. Đây là lần đầu tiên có tới 11 trường Việt Nam góp mặt, tăng 2 so với năm ngoái. Theo Thanh Niên thống kê, kể từ khi góp mặt trong bảng xếp hạng này từ năm 2020 tới nay, đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam vượt mốc hơn 10 trường hiện diện.
Tuy nhiên, hầu hết các trường đều có xu hướng chung là tụt hạng, chỉ 2 trường giữ nguyên thứ hạng là ĐH Duy Tân ở Đà Nẵng (nhóm 251-300), Trường ĐH Y Hà Nội (401-500) và ĐH Quốc gia TP.HCM (601-800). Trong khi đó, ĐH Kinh tế TP.HCM tuy vẫn giữ vị trí số 1 Việt Nam nhưng lại rơi 48 bậc, xuống vị trí thứ 184 - đồng hạng với ĐH Công nghệ Nam Kinh (Trung Quốc) - trong số 929 cơ sở giáo dục toàn châu Á được xếp hạng.
Trường ĐH Tôn Đức Thắng ở TP.HCM cũng trượt hạng từ nhóm 201-250 xuống 251-300, tiếp tục duy trì đà giảm kể từ khi xuất hiện, từ 73 (2022) xuống 86 (2023), 193 (2024). Đây cũng là lần đầu tiên Trường ĐH Tôn Đức Thắng và ĐH Duy Tân chung thứ hạng cũng như đều giữ vị trí số 2 Việt Nam. Trường ĐH Y Hà Nội chiếm hạng 4 trong khi gương mặt mới là Trường ĐH Nguyễn Tất Thành (TP.HCM) ra mắt ở nhóm 501-600.
Cả 3 cơ sở giáo dục ĐH là Bách khoa Hà Nội, Quốc gia Hà Nội và Mở TP.HCM đồng loạt tụt hạng từ nhóm 501-600 xuống 601-800. Tương tự, ĐH Huế xuống nhóm 801+, đồng hạng với một đại diện mới khác từ Việt Nam là ĐH Đà Nẵng. Riêng Trường ĐH Văn Lang (TP.HCM) năm ngoái ở trạng thái "reporter" (có nộp dữ liệu nhưng chưa được xếp hạng vì chưa đạt một số tiêu chí nhất định) nhưng đến năm nay đã không còn hiện diện.
Trước đó 2 năm, Trường ĐH Mở TP.HCM cũng từng mang trạng thái này và đã vào tốp trong năm 2025.
Để xếp hạng các trường ĐH trên toàn châu Á, THE dùng tổng cộng 17 tiêu chí chia làm 5 nhóm: chất lượng nghiên cứu (chiếm 30% tổng điểm), môi trường nghiên cứu (28%), giảng dạy (24,5%), chuyển giao công nghệ (10%) và triển vọng quốc tế (7,5%). Phương pháp xếp hạng này tương tự cách THE đánh giá các trường ĐH trên toàn thế giới, nhưng một số tiêu chí đã được điều chỉnh trọng số để phản ánh yếu tố đặc thù của châu Á.
Điểm chung của các trường Việt Nam là đạt điểm cao về chất lượng nghiên cứu nhưng môi trường nghiên cứu lại có kết quả cách biệt đáng kể. Ví dụ, ĐH Kinh tế TP.HCM đạt 88,6/100 điểm chất lượng nghiên cứu, song môi trường nghiên cứu chỉ bằng 1/3, ở mức 26,6. Tương tự, mức chênh lệch này ở ĐH Duy Tân và Trường ĐH Tôn Đức Thắng lần lượt là 87,8-20,5 (gấp 4 lần) và 82,5-14,8 (gấp 5 lần).
Nếu xét riêng tiêu chí chất lượng nghiên cứu, giữa 3 trường nêu trên với nhóm ĐH còn lại cũng có sự chênh lệch đáng kể. Cụ thể, Trường ĐH Nguyễn Tất Thành có số điểm cao thứ 4 nhưng cách Trường ĐH Tôn Đức Thắng cao thứ 3 tới 20,5 điểm, còn ĐH Huế có số điểm thấp nhất (19,5) thì cách trường cao nhất là ĐH Kinh tế TP.HCM tới 69,1 điểm. Tuy nhiên, ở môi trường nghiên cứu, các trường không quá cách biệt, dao động từ 11,2-26,6 điểm.
Điều tương tự diễn ra ở tiêu chí giảng dạy, với số điểm dao động từ 12,1 (Trường ĐH Mở TP.HCM) tới 38,3 (Trường ĐH Y Hà Nội). Về chuyển giao công nghệ, ĐH Bách khoa Hà Nội tiếp tục dẫn đầu Việt Nam với 66,1 điểm, theo sau là ĐH Kinh tế TP.HCM (50,1) và Trường ĐH Y Hà Nội (44,8). Còn ở triển vọng quốc tế, Tôn Đức Thắng, Duy Tân, Kinh tế TP.HCM lần lượt là 3 cái tên đứng đầu, với mức điểm 63, 55,2 và 53,6.
Năm nay, THE xếp hạng các cơ sở giáo dục ĐH từ 36 quốc gia, vùng lãnh thổ châu Á, tăng 1 so với năm ngoái. Số lượng trường được xếp hạng cũng tăng thêm 76. Trong đó, ĐH Thanh Hoa và ĐH Bắc Kinh ở Trung Quốc tiếp tục duy trì vị trí nhất, nhì châu Á sau 6 năm. Những trường còn lại trong tốp 10 là các đại diện khác của Trung Quốc đại lục (3 trường), Hồng Kông, Singapore (mỗi nơi 2 trường) và Nhật Bản (1).
Tính riêng số trường được xếp hạng, Ấn Độ dẫn đầu với tổng cộng 128 cơ sở giáo dục ĐH, theo sau là Nhật Bản (115), Thổ Nhĩ Kỳ (109). Trong khi đó, số lượng các trường được xếp hạng của Việt Nam ít hơn một số nước trong khu vực là Indonesia (35), Malaysia (27) và Thái Lan (21), song cao hơn Philippines (6), Brunei và Singapore (cùng có 2 đại diện).
THE là một trong số những tổ chức xếp hạng ĐH có uy tín, nhiều năm kinh nghiệm và sức ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu bên cạnh bảng xếp hạng của Quacquarelli Symonds (Anh) và ShanghaiRanking Consultancy (Trung Quốc). Đơn vị này bắt đầu xếp hạng các ĐH từ 2004 cùng Quacquarelli Symonds, một năm sau khi thế giới lần đầu bảng xếp hạng ĐH toàn cầu do ĐH Giao thông Thượng Hải (sau này là ShanghaiRanking Consultancy) công bố.