Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030, kéo theo nhu cầu vốn khổng lồ để tạo động lực cho nền kinh tế bứt phá.
Riêng trong lĩnh vực hạ tầng, hàng loạt dự án trọng điểm đang được triển khai đồng loạt như sân bay Long Thành, cao tốc Bắc – Nam, các tuyến vành đai, cảng biển, năng lượng…đều đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn và liên tục trong nhiều năm.
Tuy nhiên, trong khi thị trường vốn vẫn chưa phát triển đủ chiều sâu, tín dụng ngân hàng tiếp tục là “mạch máu” dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Điều này đặt ra áp lực không nhỏ lên hệ thống ngân hàng, đồng thời làm nổi lên yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc các kênh huy động vốn cho tăng trưởng.
Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, dư nợ tín dụng của toàn nền kinh tế trong giai đoạn 2021 – 2025 tăng rất mạnh, luôn duy trì mức tăng 2 con số. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng của dư nợ tín dụng đạt “đỉnh” với 17,87%, đạt mức 18,4 triệu tỷ đồng. Bước sang quý I/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Trao đổi với Người Đưa Tin, TS. Nguyễn Đức Độ – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính, Học viện Tài chính cho rằng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo việc tăng trưởng tín dụng ở mức quá cao có thể tạo ra những rủi ro đối với an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng.
Theo ông Độ, trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn duy trì ở mức cao, trong khi tăng trưởng huy động vốn lại không theo kịp. Đặc biệt, năm 2025, tăng trưởng tín dụng tăng rất mạnh tới 17,87% có một phần đáng kể “chảy” vào lĩnh vực bất động sản, khiến tín dụng bất động sản tăng mạnh.
“Nếu tiếp tục đẩy tăng trưởng tín dụng lên quá cao sẽ gây áp lực lên mặt bằng lãi suất. Khi lãi suất tăng, nhiều doanh nghiệp và dự án đầu tư có thể không còn đủ khả năng hấp thụ vốn, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như chất lượng tăng trưởng”, ông Độ nói.
TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng nếu tiếp tục đẩy tăng trưởng tín dụng lên quá cao sẽ gây áp lực tăng lãi suất. Khi lãi suất tăng các dự án và một số doanh nghiệp có thể không đủ khả năng chịu được lãi suất đó, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và hiệu quả đầu tư.
Theo vị chuyên gia, định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026 của Ngân hàng Nhà nước là mức tương đối phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Về dài hạn, vai trò của chính sách tiền tệ cần ưu tiên nhiều hơn cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô thay vì liên tục gánh trọng trách thúc đẩy tăng trưởng thông qua mở rộng tín dụng.
Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 1,1 triệu doanh nghiệp. Trong đó, có đến gần 98% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đóng vai trò nòng cốt của nền kinh tế.
Trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 – 2030, bên cạnh vai trò “đầu tàu” của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, sự đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng để mở rộng dư địa tăng trưởng.
Tuy nhiên, bài toán lớn nhất của nhóm doanh nghiệp này vẫn là khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là vốn tín dụng ngân hàng. Với quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, thiếu tài sản bảo đảm và mức độ minh bạch chưa cao, nhiều doanh nghiệp gặp khó trong việc đáp ứng điều kiện vay vốn, dù nhu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng lớn.
Đề cập đến khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp hiện nay, TS. Nguyễn Đức Độ cho biết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thiếu vốn, song đây lại là nhóm có mức độ rủi ro cao hơn, chi phí giám sát khoản vay lớn hơn và tính minh bạch tài chính cũng hạn chế hơn.
“Vì vậy, các ngân hàng thường ưu tiên cho vay đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, tình hình tài chính rõ ràng và khả năng kiểm soát rủi ro tốt hơn”, ông Độ nói.
Về vai trò của hệ thống ngân hàng trong thời gian tới, ông Độ nhận định ngành ngân hàng hiện đã ở trạng thái “quá tải” khi phải đảm nhận phần lớn vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế. Mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% đã là nỗ lực lớn, trong khi việc giảm thêm lãi suất cũng không dễ thực hiện.
Do đó, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các kênh dẫn vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Nếu tiếp tục đặt quá nhiều gánh nặng lên ngân hàng, nguy cơ mất an toàn hệ thống và tác động ngược đến nền kinh tế là điều cần được lưu ý.
TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa hiện nay về cơ bản vẫn được thực hiện thường xuyên giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đã có dấu hiệu quá tải, ông nhận định vai trò của chính sách tiền tệ sẽ cần tập trung nhiều hơn vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy tăng trưởng hai con số.
Còn theo TS. Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng cho rằng, nguồn lực cho nền kinh tế hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng.
Trong ngắn hạn, chưa thể thay đổi ngay lập tức vai trò của tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, về trung và dài hạn, yêu cầu bắt buộc là phải phát triển thị trường vốn.
Theo ông Võ Trí Thành, cần đẩy mạnh kênh huy động qua thị trường chứng khoán, phát hành cổ phiếu (IPO), trái phiếu và phát triển các loại hình quỹ đầu tư. Đây sẽ là những kênh dẫn vốn trung, dài hạn bền vững hơn cho doanh nghiệp.
Giá bạc hôm nay (1/6), các doanh nghiệp điều chỉnh giá theo nhiều hướng khác nhau, có nơi tăng tới 400.000 đồng/kg nhưng cũng có đơn vị giảm tới 750.000 đồng/kg, phản ánh tâm lý thận trọng của thị trường trong những ngày đầu tháng 6.
Ở phân khúc bạc miếng:
Mở cửa giao dịch sáng 1/6, giá bạc miếng tại Sacombank được niêm yết ở mức 2,865-2,955 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 9.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với chốt phiên trước đó.
Ở chiều ngược lại, mở cửa giao dịch hôm nay, giá bạc miếng tại Ancarat được niêm yết ở mức 2,848-2,936 triệu đồng/lượng. So với chốt phiên trước đó, giá bạc miếng của Ancarat tăng nhẹ 4.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán.
Tại Phú Quý, giá bạc miếng mở cửa giao dịch sáng 1/6 được niêm yết ở ngưỡng 2,865-2,954 triệu đồng/lượng (mua - bán), tăng 51.000 đồng/lượng ở chiều mua và tăng 18.000 đồng/lượng ở chiều bán so với chốt phiên trước đó.
Trong khi đó, DOJI niêm yết bạc DOJI 99.9 ở mức 2,860 triệu đồng/lượng mua vào và 2,964 triệu đồng/lượng bán ra. Cả hai chiều cùng giảm 12.000 đồng/lượng, là mức giảm thấp hơn so với một số thương hiệu còn lại trong nhóm bạc miếng.
Ở phân khúc bạc thỏi:
Giá bạc thỏi của Sacombank cũng lùi về ngưỡng 76,4-78,8 triệu đồng/kg (mua - bán), giảm 240.000 đồng/kg ở cả chiều mua và bán. Ở lần điều chỉnh thứ hai, giá bạc thỏi của Sacombank tiếp tục giảm về mức 75,89-78,29 triệu đồng/kg, tương đương giảm 750.000 đồng/kg ở cả hai chiều so với chốt phiên trước đó.
Giá bạc thỏi tại Ancarat được niêm yết ở mức 75,95-78,29 triệu đồng/kg (mua - bán), tăng 110.000 đồng/kg ở chiều mua và tăng 100.000 đồng/kg ở chiều bán, so với ngày hôm qua.
Giá bạc thỏi của Phú Quý cũng được điều chỉnh lên mức 76,40-78,77 triệu đồng/kg (mua - bán). So với chốt phiên trước đó, giá bạc của thương hiệu này tăng 370.000 đồng/kg ở chiều mua và tăng 400.000 đồng/kg ở chiều bán.
DOJI niêm yết bạc thỏi DOJI 99.9 ở mức 76,266 triệu đồng/kg mua vào và 79,040 triệu đồng/kg bán ra. So với phiên trước, giá mua vào giảm 294.000 đồng/kg, còn giá bán ra giảm 290.000 đồng/kg.
Giá bạc thế giới tăng nhẹ
Tại thị trường thế giới, theo kitco.com, tính đến 13h40 chiều 1/6 (giờ Việt Nam), giá bạc điều chỉnh tăng nhẹ so phiên hôm qua, giao dịch quanh ngưỡng 75,38 USD/ounce, biên độ giao dịch từ 73,25 đến 76,17 USD/ounce.
Giá bạc giao ngay (XAG/USD) khép lại tuần giao dịch kết thúc ngày 30/5 ở mức 75,15 USD/ounce. Tuy nhiên, con số này không phản ánh đầy đủ diễn biến thực tế của thị trường. Biên độ dao động từ 74,49 đến 76,77 USD/ounce mới là yếu tố cho thấy mức độ biến động mạnh của bạc trong tuần qua.
Dự báo giá bạc
Theo các chuyên gia phân tích kim loại quý, về mặt kỹ thuật, xu hướng chính sẽ chuyển sang tăng nếu giá bạc vượt ngưỡng 89,38 USD/ounce. Ngược lại, việc xuyên thủng mức đáy 61,01 USD/ounce sẽ củng cố thêm tín hiệu cho thấy xu hướng giảm hiện tại vẫn tiếp diễn.
Xu hướng ngắn hạn của giá bạc hiện vẫn là tăng, qua đó tiếp tục chi phối động lượng thị trường. Tuy nhiên, nếu giá giảm xuống dưới ngưỡng 70,86 USD/ounce, xu hướng ngắn hạn sẽ chuyển sang giảm và động lượng thị trường cũng sẽ nghiêng về phía đi xuống.
Đối với các nhà đầu tư dài hạn, đường trung bình động 52 tuần tại 60,3 USD/ounce vẫn được xem là vùng hỗ trợ quan trọng nhất.
Các chuyên gia cũng cho rằng, thị trường cũng sẽ theo dõi liệu lực mua chủ động có đang chiếm ưu thế hay lực bán chốt lời đang gia tăng. Điều này sẽ giúp đánh giá sức mạnh thật sự của động lượng hiện tại, cũng như xác định liệu thị trường đang chuẩn bị cho một nhịp bứt phá hay chỉ tiếp tục tăng theo xu hướng chậm và thận trọng.
Ở chiều ngược lại, kịch bản giảm giá được đánh giá có dư địa rộng hơn. Nếu giá duy trì dưới ngưỡng 74,63 USD/ounce, điều đó sẽ cho thấy phe bán đang nắm quyền kiểm soát. Mục tiêu giảm đầu tiên là mức đáy dao động ngắn hạn tại 70,86 USD/ounce. Nếu ngưỡng này bị phá vỡ, giá bạc có thể giảm mạnh về vùng hỗ trợ quan trọng được hình thành bởi đáy thiết lập giữa tháng 3 tại 61,01 USD/ounce và đường trung bình động 52 tuần ở mức 60,30 USD/ounce.
Thị trường bạc tuần này sẽ tập trung theo dõi loạt dữ liệu kinh tế quan trọng của Mỹ, đặc biệt là báo cáo việc làm phi nông nghiệp (Non-Farm Payrolls) công bố vào thứ Sáu. Các số liệu về sản xuất, tuyển dụng, việc làm và thất nghiệp sẽ ảnh hưởng đáng kể đến kỳ vọng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó tác động tới diễn biến của các kim loại quý.
Theo giới phân tích, bạc cũng như vàng đang chịu ảnh hưởng lớn từ triển vọng lãi suất, diễn biến đồng USD và tâm lý đầu tư toàn cầu. Trong bối cảnh giá dầu suy yếu giúp hạ nhiệt lo ngại lạm phát, thị trường kỳ vọng Fed có thể bớt cứng rắn hơn trong chính sách tiền tệ, qua đó hỗ trợ giá kim loại quý.
Ngoài ra, dòng tiền đầu tư hiện có xu hướng dịch chuyển sang lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), khiến bạc và vàng phần nào chịu áp lực. Tuy nhiên, nếu dữ liệu kinh tế Mỹ thấp hơn dự báo và củng cố kỳ vọng Fed nới lỏng chính sách tiền tệ, giá bạc có thể được hỗ trợ tăng trong thời gian tới.
Phát biểu đề dẫn, ông Nguyễn Văn Minh - Tổng biên tập Báo Công thương - cho rằng áp lực cung ứng điện trong mùa khô năm nay rất lớn. Bài toán an ninh năng lượng được đặt ra không còn là câu chuyện tương lai, mà là thực tại của hôm nay. "Sáng nay, khi các đại biểu ngồi trong hội trường, thì ở khu công nghiệp Nhơn Trạch, hàng trăm máy điều hòa đang chạy hết công suất trong những nhà xưởng chật người. Và ở khu nhà trọ bên cạnh, những gia đình công nhân vừa bật máy lạnh vừa lo hóa đơn tiền điện cuối tháng. Còn tại trung tâm điều độ, các kỹ sư đang dõi theo từng megawatt trên bảng điều phối, cân nhắc từng quyết định vì mùa nắng nóng năm nay đến sớm và khốc liệt hơn bất kỳ dự báo nào. Đó không phải là viễn cảnh mà là thực tại của ngày hôm nay!", ông Nguyễn Văn Minh đặt vấn đề và nhắc lại bài học thiếu điện, cắt điện luân phiên đã từng xảy ra vào năm 2023, khiến hàng ngàn doanh nghiệp sản xuất trong các khu công nghiệp lao đao.
"Tiết kiệm 1 kWh điện nghe có vẻ nhỏ nhưng nếu một triệu hộ gia đình cùng tiết kiệm 1 kWh trong giờ cao điểm, đó là 1.000 MW không cần đến, bằng sản lượng của một tổ máy nhiệt điện lớn", ông Minh nói.
PGS-TS Mai Văn Khiêm - Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, thông tin 2026 là năm thứ 12 liên tiếp nằm trong nhóm năm nóng kỷ lục. Điều đó cho thấy nguy cơ xuất hiện các đợt nắng nóng cực đoan trong mùa hè sẽ tiếp tục gia tăng dưới tác động của biến đổi khí hậu. Hơn nữa, so với năm 2025, nhiệt độ trong các tháng mùa hè ở khu vực Đông Nam bộ được dự báo tăng hơn do tác động biến đổi khí hậu, đang ở trong chu kỳ El Niño - pha nóng, thường kéo theo tình trạng ít mưa, nắng nóng và khô hạn. Như vậy, điều đáng lo là nắng nóng gia tăng trong khi nguồn nước phục vụ sản xuất điện lại có nguy cơ thiếu hụt.
Trước tình hình đó, ông Nguyễn Quốc Trung - Phó tổng giám đốc Công ty TNHH MTV vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), cho biết là hệ thống điện đang đối diện 2 khó khăn cơ bản, gồm áp lực từ nhu cầu phụ tải và thách thức đến từ nguồn cung. Ngày 31.3 vừa qua, hệ thống điện quốc gia đã ghi nhận mốc 1 tỉ kWh điện/ngày. Đây là dấu hiệu cho thấy phụ tải đang tăng rất mạnh. Đáng nói, trong những ngày đầu tháng 4, sản lượng điện tiêu thụ của toàn hệ thống điện quốc gia liên tục duy trì ở mức bình quân trên 1 tỉ kWh/ngày. Trong đó, ngày 8.4 đã xác lập kỷ lục mới với 1 tỉ 92 triệu kWh, trong khi công suất cực đại lên tới 52.225 MW.
Trên cơ sở đó, NSMO dự báo mốc 1,1 tỉ kWh/ngày có thể sẽ được thiết lập ngay sau kỳ nghỉ lễ 30.4 và 1.5. Nếu nắng nóng duy trì liên tiếp 4 - 5 ngày, nhiệt độ tăng, trong điều kiện hệ thống thiết bị sử dụng điện không thay đổi, nhu cầu điện mỗi ngày có thể tăng khoảng 800 - 1.000 MW. Trường hợp nền nhiệt cao đó kéo dài thêm 3 - 4 ngày, mức tăng phụ tải cộng dồn thậm chí có thể lên tới 3.000 - 4.000 MW.
"Có thể hình dung rất rõ áp lực này, chỉ cần nhiệt độ tăng thêm 1 - 2 độ C, hệ thống đã phải gánh thêm một lượng công suất tương đương gần như toàn bộ công suất của một tổ hợp thủy điện Hòa Bình. Đó là áp lực rất lớn từ phía nhu cầu", ông Trung cho biết.
Riêng tại khu vực miền Nam, nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, đô thị lớn, dịch vụ thương mại... năm 2026, theo ông Bùi Quốc Hoan, Phó tổng giám đốc EVNSPC, nhu cầu phụ tải trong các tháng cao điểm là rất lớn, gây áp lực cao đến công tác vận hành, quản lý lưới điện. Sản lượng điện nhận tháng 4 tính đến ngày 19.4 ước đạt 4,08 tỉ kWh, tăng 10,94% so với cùng kỳ năm 2025. Đỉnh điểm tiêu thụ điện sinh hoạt dự kiến rơi vào tháng 6 và 7, khi nắng nóng gay gắt hơn và trùng vào kỳ nghỉ hè, học sinh ở nhà nhiều hơn, khiến nhu cầu sử dụng điện tăng cao.
Áp lực thiếu điện trong mùa khô, câu hỏi được đặt ra là giải pháp nào có thể triển khai ngay lập tức khi nhu cầu điện tăng nhanh mà không chờ nhà máy mới xây xong, không chờ đường dây mới kéo tới.
Hiện EVNSPC đã đề ra loạt giải pháp cấp bách để bảo đảm điện mùa khô năm nay. Làm việc với khách hàng ký cam kết tiết kiệm điện ít nhất 3%; ký cam kết dịch chuyển phụ tải đối với khách hàng dùng điện nhiều, khách hàng công nghiệp, doanh nghiệp FDI... Với nguồn điện mặt trời, EVNSPC đã và đang tăng tuyên truyền khách hàng lắp điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ để sử dụng kết hợp dùng bộ lưu trữ để sử dụng điện được tối ưu. Đến nay đã có 1.581 nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu, với tổng công suất 443MWp đã lắp đặt, đi vào vận hành với lượng điện năng tương đương 1% thương phẩm.
Đại diện Bộ Công thương, ông Trịnh Quốc Vũ - Phó cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công thương) cho biết, trong 4 tháng đầu năm, nhu cầu điện toàn hệ thống ước tăng khoảng 7 - 7,5%. Tuy vậy, Bộ đã có sự chuẩn bị từ trước cho mùa khô năm 2026 với phương án cao nhất lên tới 14,1%. Bộ Công thương cùng Cục Điện lực đã đưa ra các giải pháp nhằm xử lý áp lực dùng điện của khung giờ buổi tối, trong đó có việc thúc đẩy lắp đặt hệ thống lưu trữ năng lượng BESS quy mô lớn, đồng thời bổ sung yêu cầu bắt buộc về hệ thống lưu trữ đối với các dự án điện mặt trời triển khai trong thời gian tới. Đặc biệt, đẩy mạnh tuyên truyền phát triển điện mặt trời để hỗ trợ khung giờ ban ngày, nhất là buổi sáng và đầu giờ chiều. Mặt khác, phải đẩy mạnh tiết kiệm điện để giảm áp lực cho cả hai khoảng thời gian cao điểm, đặc biệt là khung giờ buổi tối...
Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất ngân hàng liên tục biến động và chưa ổn định, thị trường bất động sản bước vào giai đoạn trầm lắng rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp thừa nhận đây là thời điểm "khó bán hàng nhất trong nhiều năm" khi cả cung và cầu đều chịu áp lực từ chi phí vốn gia tăng.
Thực tế cho thấy, việc tiếp cận tín dụng để phát triển dự án hiện không hề dễ dàng. Trao đổi với phóng viên, ông Võ Quốc Đức – Giám đốc Ban Tài chính Kế toán Công ty CP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc Nova (Novaland) cho biết lãi suất cho vay từ đầu năm 2026 tăng mạnh, phổ biến ở mức 20–30% thậm chí cao hơn ở một số lĩnh vực. Diễn biến này tác động trực tiếp đến toàn thị trường bất động sản.
Theo ông Đức, lãi vay tăng khiến chi phí tài chính đội lên, bào mòn lợi nhuận doanh nghiệp. Đáng chú ý nhiều dự án đã ký hợp đồng tín dụng từ năm 2025 với thời gian triển khai kéo dài 5–6 năm và giai đoạn giải ngân dự kiến 2–3 năm nhưng sang năm 2026 lại bị ngân hàng giải ngân cầm chừng, chỉ đạt khoảng 10–20% hoặc chưa được bố trí hạn mức tín dụng".
Trong khi đó, tiến độ bán hàng và kế hoạch bàn giao nhà đã được xác định từ trước. Việc siết room tín dụng vào thời điểm này gây ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xây dựng, thanh toán cho nhà thầu và buộc doanh nghiệp phải đàm phán lại với các bên liên quan. Hệ quả là kế hoạch nhận nhà, bàn giao nhà của khách hàng cũng bị điều chỉnh.
Ở phía người mua, áp lực tài chính ngày càng rõ nét. Nhiều khách hàng đã ký hợp đồng và thanh toán theo tiến độ xây dựng dựa trên mặt bằng lãi suất trước năm 2025. Tuy nhiên, khi lãi vay tăng cao khả năng tiếp cận vốn bị thu hẹp, thậm chí mất kênh vay khiến năng lực chi trả suy giảm.
"Chỉ cần một biến động nhỏ về lãi suất cũng có thể khiến một dự án từng được đánh giá khả thi trở nên rủi ro.
Khi người mua không đủ khả năng tiếp tục thanh toán nếu chủ đầu tư không đủ tiềm lực tài chính sẽ dễ rơi vào nợ xấu. Việc siết room tín dụng không chỉ ảnh hưởng riêng lẻ mà còn tạo hiệu ứng dây chuyền lên toàn thị trường", ông Đức nhấn mạnh.
Khó khăn càng chồng chất đối với các dự án mới. Dù đã được đánh giá khả thi và làm việc sơ bộ với ngân hàng, nhiều dự án vẫn khó tiếp cận hạn mức tín dụng trong năm nay.
"Ngay cả các dự án đã được cấp room cũng chưa thể giải ngân theo kế hoạch, trong khi những dự án đang chuẩn bị triển khai chỉ được giải ngân một phần nhỏ so với cam kết ban đầu. Tình hình này ảnh hưởng nhiều đến các dự án đã và sắp triển khai của doanh nghiệp", ông Đức nói.
Đại diện Novaland cho rằng, đối với doanh nghiệp bất động sản, thị trường tài chính và hạn mức tín dụng đóng vai trò then chốt. Việc siết room đột ngột không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn tác động đến các dự án nhà ở, đặc biệt là phân khúc đáp ứng nhu cầu thực của người dân.
Từ thực tế đó, doanh nghiệp kiến nghị các ngân hàng xem xét điều chỉnh mặt bằng lãi suất theo hướng giảm dần để hỗ trợ người mua nhà. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế điều hành room tín dụng linh hoạt hơn.
Nếu trước đây hạn mức tín dụng được phân bổ theo năm thì việc chuyển sang phân bổ theo quý với thời gian ngắn đang khiến cả ngân hàng, doanh nghiệp và người mua nhà rơi vào thế bị động.
Không chỉ phân khúc nhà ở thương mại, nhà ở xã hội vốn được kỳ vọng là điểm sáng cũng đang gặp vướng mắc về vốn. Ông Lê Hữu Nghĩa – Giám đốc Công ty Lê Thành cho biết doanh nghiệp hiện có dự án quy mô khoảng 2.000 tỷ đồng đã hoàn thành phần móng nhưng buộc phải tạm dừng do không tiếp cận được vốn vay.
Theo ông Nghĩa, dù thuộc diện được hưởng gói tín dụng ưu đãi 145.000 tỷ đồng của Chính phủ, doanh nghiệp vẫn bị ngân hàng từ chối cho vay với lãi suất 6,1%/năm. Nguyên nhân là chi phí huy động vốn của ngân hàng đang ở mức cao nếu cho vay với lãi suất ưu đãi sẽ không đảm bảo hiệu quả tài chính.
Ngay cả khi doanh nghiệp đề nghị vay theo lãi suất thương mại, ngân hàng cũng không chấp thuận do lo ngại rủi ro pháp lý khi cho vay không đúng đối tượng. Điều này khiến doanh nghiệp rơi vào thế "tiến thoái lưỡng nan" khi dự án đã triển khai nhưng không thể tiếp tục.
Từ thực tiễn này có thể thấy ngay cả những phân khúc được ưu tiên về chính sách cũng chưa thể tiếp cận nguồn vốn một cách thuận lợi cho thấy những điểm nghẽn trong cơ chế triển khai vẫn chưa được tháo gỡ.
Ở góc độ chuyên gia, TS. Nguyễn Duy Phương – Giám đốc đầu tư tài chính DG Capital nhận định, điểm yếu cốt lõi của doanh nghiệp bất động sản vẫn là sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.
Trong khi đó, chu kỳ thắt chặt và nới lỏng tín dụng có xu hướng lặp lại sau mỗi 4–5 năm khiến thị trường luôn đối mặt với rủi ro mang tính chu kỳ.
Theo ông, áp lực hiện tại chưa đến mức khủng hoảng nhưng đã bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần tái cấu trúc nguồn vốn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và hướng tới các kênh huy động dài hạn hơn.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển thị trường vốn, đặc biệt là kênh trái phiếu doanh nghiệp, không chỉ cho lĩnh vực bất động sản mà cho toàn bộ nền kinh tế. Đa dạng hóa nguồn vốn được xem là giải pháp then chốt nhằm giảm thiểu rủi ro và tạo nền tảng ổn định cho thị trường trong dài hạn.
Đồng quan điểm, TS. Đinh Thế Hiển cho rằng để phát triển bền vững doanh nghiệp bất động sản cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn sang các nguồn vốn trung và dài hạn.
Theo đó hoạt động đầu tư cần quay về đúng bản chất, dựa trên dòng vốn dài hạn, minh bạch và ổn định hơn. Chỉ khi tách bạch được vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng với nhu cầu đầu tư dài hạn, thị trường mới có thể thoát khỏi vòng xoáy "giải cứu" và vận hành theo giá trị thực.
Ở góc độ chính sách, các chuyên gia cho rằng cần có cách điều hành tín dụng linh hoạt hơn thay vì áp dụng cơ chế cứng nhắc. Việc định hướng dòng vốn vào các phân khúc đáp ứng nhu cầu thực như nhà ở, bất động sản công nghiệp hay logistics sẽ góp phần giúp thị trường phát triển cân bằng, hạn chế rủi ro lệch pha cung – cầu.