Giá bạc hôm nay (27/4), mở cửa giao dịch sáng thứ Hai, giá bạc tại thị trường trong nước tiếp đà giảm của tuần qua.
Ở phân khúc bạc thỏi:
Giá bạc thỏi loại 1kg tại Phú Quý sáng đầu tuần được giao dịch ở mức 76,24-78,59 triệu đồng/kg (mua – bán). So với chốt phiên tuần trước, giá bạc của Phú Quý đã giảm 240.000 đồng/kg ở chiều mua và giảm 260.000 đồng/kg ở chiều bán.
Chung xu hướng, giá bạc thỏi loại 1kg tại Ancarat cũng rơi về ngưỡng 75,65-78 triệu đồng/kg (mua – bán). So với chốt phiên trước đó, giá bạc thỏi của thương hiệu này giảm nhẹ 60.000 đồng/kg ở chiều mua và giảm 50.000 đồng/kg ở chiều bán.
Thương hiệu DOJI cũng chứng kiến đà tăng ấn tượng ở bạc thỏi 99.9 với mức điều chỉnh tăng từ 987.000 đồng đến 1,280 triệu đồng/kg, hiện xác lập mức giá 75,973 triệu đồng/kg (mua vào) và 78,853 triệu đồng/kg (bán ra), duy trì vị thế dẫn đầu về giá bán lẻ.
Tương tự, bạc thỏi Kim-Phúc-Lộc SBJ 999 tại Sacombank cũng điều chỉnh giảm đồng loạt 720.000 đồng/kg ở cả hai chiều mua và bán, hiện đứng ở mức 75,280 – 77,680 triệu đồng/kg. Mặc dù có sự điều chỉnh tăng giảm khác nhau, nhìn chung mặt bằng giá bán ra ở phân khúc bạc thỏi của các thương hiệu phổ biến vẫn đang nỗ lực trụ vững quanh ngưỡng 78 triệu đồng/kg.
Ở phân khúc bạc miếng:
Tại phân khúc bạc miếng, thị trường chứng kiến sự đối lập rõ rệt giữa các nhà đài. Cụ thể, giá bạc Phú Quý 999 ghi nhận mức tăng khá tốt với 57.000 đồng/lượng chiều mua và 58.000 đồng/lượng chiều bán, hiện niêm yết tại 2,859 triệu đồng/lượng (mua vào) và 2,947 triệu đồng/lượng (bán ra).
Thương hiệu DOJI cũng ghi nhận sắc xanh khi bạc miếng DOJI 99.9 tăng từ 37.000 – 48.000 đồng/lượng, giao dịch ở mức 2,849 triệu đồng/lượng (mua vào) và 2,957 triệu đồng/lượng (bán ra).
Ngược lại, giá bạc Ancarat miếng 2024 loại 1 lượng lại điều chỉnh giảm 42.000 đồng chiều mua và 43.000 đồng chiều bán, lùi về mức 2,840 – 2,910 triệu đồng/lượng.
Cùng xu hướng giảm, bạc miếng Kim – Phúc – Lộc SBJ 999 của Sacombank cũng giảm đồng loạt 27.000 đồng/lượng ở cả hai chiều.
Giá bạc thế giới giao dịch quanh mức 75,48 USD/ounce
Theo Kitco lúc 9h13 (giờ Việt Nam), giá bạc thế giới hiện giao dịch quanh mức 75,23 – 75,48 USD/ounce, giảm khoảng 0,32 USD (-0,43%) so với phiên trước đó. Diễn biến này cho thấy thị trường bạc vẫn đang chịu áp lực điều chỉnh sau các nhịp phục hồi ngắn hạn, với lực bán quay trở lại khi giá tiến gần vùng kháng cự.
Dữ liệu từ Investing lúc 9h13 (giờ Việt Nam) cho thấy, hợp đồng tương lai giá bạc đang ở mức 75,27 USD/ounce, giảm mạnh hơn khoảng 1,50%, phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trong bối cảnh biến động vĩ mô vẫn hiện hữu. Trong phiên, giá bạc dao động trong vùng 74,62 – 76,16 USD/ounce, cho thấy biên độ biến động vẫn khá rộng nhưng xu hướng chính vẫn nghiêng về điều chỉnh.
Sự điều chỉnh này chủ yếu do áp lực từ các yếu tố địa chính trị, đặc biệt là căng thẳng tại khu vực Trung Đông. Các nhà đầu tư đang lo ngại về khả năng leo thang xung đột sau khi hải quân Mỹ bắt giữ một tàu hàng mang cờ Iran, khiến giá dầu tăng mạnh và làm gia tăng lo ngại về lạm phát.
Dự báo giá bạc
Trên Kitco News, ông Sean Lusk, đồng Giám đốc phụ trách phòng ngừa rủi ro thương mại tại Walsh Trading, cho biết giá kim loại quý đang có xu hướng biến động ngược chiều với giá năng lượng. Theo ông, mối quan hệ này sẽ không kéo dài mãi, tuy nhiên trong ngắn hạn, giá năng lượng nhiều khả năng vẫn duy trì ở mức cao do những tác động từ xung đột địa chính trị chưa sớm được giải quyết.
Đánh giá về triển vọng kim loại quý, ông Lusk cho rằng điều quan trọng lúc này là xác định vùng đáy. Ông nhận định bạc có thể giảm xuống dưới mốc 70 USD/ounce hoặc quanh mốc này, trước khi trở nên hấp dẫn hơn để mua vào.
Trong ngắn hạn, ông Lusk nhận định xu hướng chủ đạo của vàng và bạc vẫn là giảm. Ngay cả khi căng thẳng hạ nhiệt, những thiệt hại đối với hạ tầng dầu mỏ vẫn đủ lớn để neo giá năng lượng ở mức cao trong một thời gian.
Nếu eo biển Hormuz tiếp tục bị phong tỏa thêm khoảng một tháng, giá hàng hóa sẽ chịu tác động mạnh hơn. Khi đó, dầu Brent có thể tăng lên vùng 135-140 USD/thùng, trong khi dầu WTI có thể đạt khoảng 120 USD/thùng. Ông cho rằng diễn biến này không có lợi cho kim loại quý.
Dù vậy, nhà đầu tư cuối cùng vẫn sẽ quay lại với kim loại quý, nhưng thời điểm cụ thể còn khó xác định. Theo ông, vùng giá hấp dẫn hơn có thể là khi bạc giảm xuống dưới 70 USD/ounce.
Về chính sách tiền tệ, ông nhận định ngay cả khi ông Kevin Warsh trở thành Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), khả năng cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn là không cao. Theo ông, dữ liệu kinh tế hiện chưa ủng hộ việc nới lỏng chính sách, trong khi giá năng lượng tăng mạnh do xung đột có thể khiến lạm phát thêm áp lực.
Trong bối cảnh đó, đồng USD nhiều khả năng tiếp tục được hỗ trợ. Thị trường chứng khoán tăng mạnh cũng góp phần củng cố sức mạnh của đồng bạc xanh, qua đó tạo áp lực lên kim loại quý. Từ đó, ông dự báo bạc có thể còn một nhịp giảm trước khi phục hồi.
Các chuyên gia dự báo rằng nếu tình hình địa chính trị không có diễn biến xấu thêm, giá bạc có thể phục hồi trong tương lai gần. Tuy nhiên, nhà đầu tư cần thận trọng với những biến động bất ngờ từ thị trường.
Một trong những nội dung đáng chú ý trong hồ sơ lấy ý kiến khung giá phát điện năm 2026 của Bộ Công thương là lần đầu tiên khung giá phát điện đối với các nhà máy điện mặt trời tích hợp hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (Battery Energy Storage System - BESS) được đưa ra lấy ý kiến xây dựng.
Theo đề xuất của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), có 4 phương án gồm sử dụng suất đầu tư BESS theo kết quả đấu thầu của Tổng công ty Điện lực Hà Nội (EVNHANOI); áp dụng suất đầu tư tham khảo từ thị trường Trung Quốc; sử dụng suất đầu tư BESS theo mức bình quân toàn cầu do đơn vị tư vấn tổng hợp; căn cứ kết quả đấu thầu hệ thống BESS của Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC).
Khung giá phát điện có sự khác biệt giữa các vùng do điều kiện bức xạ mặt trời và sản lượng điện. Theo đó, khu vực miền Bắc có mức giá cao nhất, dao động 1.512,28 - 1.549,7 đồng/kWh; miền Trung từ 1.208,29 - 1.237,88 đồng/kWh; còn miền Nam có mức thấp nhất, từ 1.104,43 - 1.131,63 đồng/kWh.
Như vậy, khung giá điện mặt trời mặt đất kết hợp BESS do EVN đề xuất dao động từ 1.104,43 - 1.549,7 đồng/kWh.
Đối với điện mặt trời nổi kết hợp BESS, EVN cũng xây dựng 4 phương án tương tự. Trong đó, miền Bắc có mức giá từ 1.685,80 - 1.726,13 đồng/kWh; miền Trung từ 1.336,12 - 1.368,06 đồng/kWh; và miền Nam từ 1.228,22 - 1.257,56 đồng/kWh. Như vậy, khung giá điện mặt trời nổi kết hợp BESS được đề xuất trong khoảng 1.228,22 - 1.726,13 đồng/kWh, cao hơn loại hình điện mặt trời mặt đất do suất đầu tư của dự án điện mặt trời nổi lớn hơn.
Điện gió được xây dựng nhiều kịch bản theo suất đầu tư và hệ số công suất
Bên cạnh điện mặt trời, EVN cũng xây dựng khung giá phát điện năm 2026 đối với điện gió trên đất liền và điện gió gần bờ.
Cụ thể, đối với điện gió trên đất liền, EVN xây dựng 5 phương án trên cơ sở điều chỉnh suất đầu tư giảm 2% hoặc 5% kết hợp với các kịch bản về hệ số công suất (kCF). Kết quả, khung giá phát điện dao động từ 1.437,53 - 1.998 đồng/kWh. Theo phương án cơ sở, miền Bắc có mức giá 1.998 đồng/kWh, miền Trung 1.842,96 đồng/kWh và miền Nam 1.876,50 đồng/kWh. Ở kịch bản suất đầu tư giảm 5% và áp dụng hệ số công suất tối đa, khung giá giảm xuống còn 1.437,53 đồng/kWh tại miền Bắc, 1.443,91 đồng/kWh tại miền Trung và 1.442,92 đồng/kWh tại miền Nam.
Đối với điện gió gần bờ, EVN cũng đề xuất 5 phương án với cách tính tương tự điện gió trên đất liền. Theo đó, khung giá phát điện được tính toán trong khoảng từ 1.831,69 - 2.379,42 đồng/kWh. Theo phương án cơ sở, mức giá là 2.027,07 đồng/kWh; trong trường hợp suất đầu tư giảm 2% và áp dụng hệ số công suất tối thiểu, khung giá tăng lên 2.379,42 đồng/kWh. Còn khi suất đầu tư giảm 5% và áp dụng hệ số công suất tối đa, mức giá giảm xuống 1.831,69 đồng/kWh.
Các phương án này được EVN xây dựng để lấy ý kiến các địa phương và đơn vị liên quan trước khi hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Công thương xem xét ban hành khung giá phát điện năm 2026.
Để hoàn thiện khung giá phát điện năm 2026, Cục Điện lực đã gửi văn bản lấy ý kiến đến 14 Sở Công thương Lạng Sơn, Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Quảng Ninh, Hà Nội, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, TP.HCM và Cà Mau. Đây đều là những địa phương có tiềm năng hoặc đang phát triển các dự án điện mặt trời, điện gió trên cả nước.
Ngoài ra, Bộ Công thương cũng lấy ý kiến của Viện Năng lượng và các đơn vị tư vấn chuyên ngành gồm PECC1, PECC2, PECC3 và PECC4 để rà soát các thông số đầu vào, phương pháp tính toán và kết quả xây dựng khung giá phát điện trước khi hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền xem xét ban hành.
Chia sẻ với Người Đưa Tin, TS. Nguyễn Quốc Thập - Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nhận định, dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) không chỉ là việc sửa lại một đạo luật chuyên ngành, mà phải là cuộc tái định vị toàn diện vai trò của ngành dầu khí trong mô hình phát triển và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong vài thập kỷ tới.
Theo ông, thay vì chỉ giải quyết khó khăn trước mắt, Luật sửa đổi phải kiến tạo một khuôn khổ pháp lý dài hạn để đưa ngành dầu khí – năng lượng Việt Nam trở thành một trụ cột của an ninh năng lượng, kinh tế biển và năng lực tự chủ chiến lược quốc gia.
Để làm được điều đó, Việt Nam buộc phải dũng cảm bước qua tư duy lối mòn về "quản lý tài nguyên dầu khí" để tiệm cận tư duy hiện đại: "quản trị và phát triển không gian dầu khí – năng lượng quốc gia" với 3 chuyển đổi căn bản: từ quản lý tài nguyên sang kiến tạo phát triển; từ dầu khí truyền thống sang công nghiệp – năng lượng tích hợp; và từ bảo đảm nguồn cung trước mắt sang xây dựng năng lực tự chủ năng lượng dài hạn.
Sự chuyển dịch triết lý sâu sắc nhất nằm ở việc thiết lập lại một luật chơi công bằng giữa Nhà nước và nhà đầu tư, dịch chuyển từ môi trường "xin phép và kiểm soát" sang "hợp tác và chia sẻ rủi ro".
"Tôi kỳ vọng Luật sửa đổi sẽ tạo ra một thông điệp rõ ràng: Nhà nước và nhà đầu tư không chỉ chia sẻ lợi ích khi có dầu khí, mà phải có cơ chế hợp lý để chia sẻ rủi ro trong toàn bộ vòng đời dự án", Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam bày tỏ.
TS. Nguyễn Quốc Thập phân tích, hoạt động dầu khí có bản chất khắc nghiệt rất khác các ngành công nghiệp thông thường khi nhà đầu tư phải chấp nhận bỏ ra hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ USD trước khi biết chắc dự án có thành công hay không. Nếu Nhà nước chỉ tập trung vào tối đa hóa phần thu ngân sách lúc thắng lợi mà thiếu đi cơ chế chia sẻ hợp lý khi thất bại, các dòng vốn ngoại sẽ lập tức quay lưng. Sự thay đổi tư duy này chính là chiếc chìa khóa quyết định để biến các mỏ "không có hiệu quả kinh tế" thành các dự án "có khả năng đầu tư".
Khắc phục bất cập của Luật Dầu khí 2022 khi xác định đối tượng ưu đãi dựa trên chỉ tiêu tỉ suất hoàn vốn nội tại (IRR) tiệm cận dưới 10% đầy cứng nhắc và dễ bị ảnh hưởng bởi giá dầu, dự thảo mới định nghĩa mỏ cận biên là những mỏ có hiệu quả đầu tư tiệm cận dưới ngưỡng tối thiểu trong điều kiện kinh tế, kỹ thuật thông thường.
Đi kèm với đó là gói ưu đãi tài chính đột phá: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi chỉ 25%, thuế xuất khẩu dầu thô giảm còn 5%, và mức thu hồi chi phí tối đa lên tới 80% sản lượng khai thác hàng năm cho diện ưu đãi đặc biệt. Nhà thầu cũng được sử dụng toàn bộ phần dầu khí lãi để thu hồi chi phí sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế tài nguyên.
Đồng thời, đối với dự án nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR), dự thảo cho phép tăng thêm mức thu hồi chi phí tối đa 10% so với hợp đồng hiện hữu, kéo dài thời hạn hợp đồng thêm tối đa 5 năm, và cho phép ký kết hợp đồng mới trước khi hợp đồng cũ kết thúc, kế thừa từ bài học thành công thực tế của dự án JVPC tại Lô 15-2 mỏ Rạng Đông.
"Ưu đãi đầu tư không làm Nhà nước mất đi nguồn thu; ngược lại, trong nhiều trường hợp, nếu không có ưu đãi thì dự án không được triển khai và Nhà nước không có nguồn thu nào cả", TS. Nguyễn Quốc Thập phân tích.
Chính vì vậy, tư duy chính sách cần chuyển đổi triệt để từ việc "Nhà nước thu được bao nhiêu phần trăm?" sang "Làm thế nào để tối đa hóa tổng giá trị tài nguyên thu được cho quốc gia?".
Hơn thế, một đạo luật hoàn thiện phải giúp Việt Nam chiến thắng trong cuộc đua giành dòng vốn ngoại với những đối thủ như Guyana, Brazil hay các nước láng giềng Malaysia, Indonesia dựa trên việc so sánh tổng hòa giữa tiềm năng tài nguyên, điều khoản tài chính, rủi ro địa chất, ổn định pháp lý và thời gian phê duyệt.
Đó là lý do TS. Nguyễn Quốc Thập đúc kết rằng thước đo thành công cuối cùng của Luật sửa đổi không nằm ở số lượng điều khoản mới trên giấy, mà phải được chứng minh sau 5 đến 10 năm nữa bằng những hợp đồng dầu khí mới, nhiều giếng khoan thực tế được dựng lên, trữ lượng mới được phát hiện và sản lượng dầu khí thực tế được đưa lên mặt đất.
"Kỳ vọng lớn nhất của tôi là Luật Dầu khí sửa đổi sẽ làm thay đổi bài toán kinh tế của ngành: biến những khu vực hiện nay nhà đầu tư không muốn vào thành nơi đáng để thăm dò; biến những phát hiện chưa thương mại thành mỏ có thể phát triển; và biến phần tài nguyên còn nằm dưới lòng đất thành nguồn năng lượng, nguồn thu và sức mạnh kinh tế thực sự của đất nước", ông nói.
Một trong những nội dung được nhiều ý kiến góp ý tại dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) là việc làm rõ vai trò của cơ quan đại diện nước chủ nhà trong hoạt động dầu khí.
Theo dự thảo, Điều 56 và Điều 57 chưa quy định cụ thể vai trò thay mặt nước chủ nhà của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), đồng thời Điều 60 cũng chưa có quy định chuyển tiếp để xử lý các nghĩa vụ mà Tập đoàn đã thực hiện thay nước chủ nhà trước đây.
Trao đổi tại hội thảo góp ý dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) do Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp.HCM phối hợp với Petrovietnam tổ chức ngày 24/6 tại Tp.HCM, ông Lê Ngọc Sơn - Chủ tịch HĐTV Petrovietnam cho biết, nhiều năm qua, tập đoàn đã thực hiện vai trò đại diện nước chủ nhà với tư cách là một bên ký kết hợp đồng dầu khí, thực hiện quyền và nghĩa vụ với các nhà đầu tư trong và ngoài nước theo ủy quyền của Nhà nước. Tuy nhiên, nội hàm công việc này vẫn chưa được quy định đầy đủ trong luật.
Theo ông Sơn, việc xác lập rõ tư cách pháp lý của cơ quan đại diện nước chủ nhà có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc kiện tụng quốc tế. Khi được luật quy định rõ, cơ quan đại diện nước chủ nhà sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện quyền, nghĩa vụ và tham gia giải quyết các vấn đề phát sinh, qua đó giảm thiểu rủi ro pháp lý cho Nhà nước.
Để bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, ông Lê Ngọc Sơn đề xuất sử dụng khái niệm "cơ quan đại diện nước chủ nhà" thay vì quy định trực tiếp tên Petrovietnam trong Luật. Cách tiếp cận này sẽ tạo dư địa để Chính phủ chủ động điều chỉnh cơ quan thực hiện khi cần thiết mà không phải sửa đổi luật.
Bên cạnh đó, Petrovietnam cũng kiến nghị bổ sung quy định chuyển tiếp tại Điều 60 nhằm xử lý các nghĩa vụ của nước chủ nhà trong các hợp đồng dầu khí đã ký kết, đồng thời cho phép áp dụng cơ chế sử dụng nguồn thu từ phần dầu, khí của nước chủ nhà để thực hiện một số nghĩa vụ tài chính liên quan, bảo đảm tính liên tục trong triển khai các dự án.
Theo Luật sư Trương Thanh Đức - Giám đốc Công ty Luật ANVI, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cũng cho rằng, thay vì tập trung quá nhiều thẩm quyền ở cấp Chính phủ, nhiều nội dung khi sửa Luật Dầu khí có thể được giao cho Bộ Công Thương và Petrovietnam chủ động quyết định.
Các nội dung như kế hoạch lựa chọn nhà thầu, nội dung hợp đồng dầu khí, kế hoạch phát triển mỏ, báo cáo tài nguyên và trữ lượng... nếu được phân cấp hợp lý sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, nâng cao tính chủ động của cơ quan quản lý và doanh nghiệp, đồng thời giảm chi phí cơ hội cho nhà đầu tư.
Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng, trong một lĩnh vực có tính cạnh tranh quốc tế cao như dầu khí, tốc độ ra quyết định và khả năng phản ứng với thị trường là những yếu tố quan trọng. Một quy trình phê duyệt kéo dài có thể khiến cơ hội đầu tư dịch chuyển sang các quốc gia khác có môi trường pháp lý thuận lợi hơn.
Trong nhiều năm, tình trạng dự án chậm triển khai, dự án "treo" kéo dài do vướng mắc pháp lý là một trong những điểm nghẽn lớn nhất của kinh tế TP.HCM. Không ít doanh nghiệp (DN) rơi vào tình trạng vốn bị chôn, chi phí tài chính gia tăng, trong khi nguồn lực đất đai và cơ hội phát triển của TP bị lãng phí. Dự án bỏ hoang khiến nguồn cung nhà ở ngày càng "teo tóp" kéo theo giá bất động sản (BĐS) tăng phi mã, vượt quá thu nhập của đại đa số người dân.
Điều đáng nói là phần lớn những vướng mắc này không xuất phát từ năng lực của nhà đầu tư (NĐT) mà đến từ sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật, sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các cơ quan chức năng và tâm lý e ngại trách nhiệm trong xử lý hồ sơ của những người có trách nhiệm. Chính vì vậy, việc TP chủ động rà soát, phân loại và tháo gỡ hàng trăm dự án tồn đọng, với quỹ đất lên đến 17.000 ha, tổng vốn đầu tư hơn 206.000 tỉ đồng, được các chuyên gia nhận xét là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị.
Từ chỗ chờ DN kiến nghị từng trường hợp riêng lẻ, TP đã chủ động rà soát, lập danh sách và phân loại các vướng mắc theo nhóm, theo trách nhiệm từng sở, ngành để chỉ mặt, điểm tên trong quá trình xử lý. Đây là cách làm thể hiện rõ tinh thần "lấy kết quả làm thước đo" thay vì chỉ dừng ở các quy trình hành chính; đồng thời biến những dự án "ngủ quên" thành những nhà máy, khu đô thị, công trình hạ tầng hiện đại, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Theo ông Nguyễn Việt Hoài Văn, Tổng giám đốc Tập đoàn Gotec Land, DN của ông cũng có dự án được TP gỡ vướng trong đợt này bằng những hành động cụ thể và quyết liệt. Nhờ thế, những khó khăn vướng mắc của dự án đã từng bước được tháo gỡ và đang vào giai đoạn cuối cùng để có thể mở bán.
Với 838 dự án được tháo gỡ trong đợt này không chỉ là kết quả về mặt số lượng mà còn phản ánh sự quyết liệt của chính quyền trong việc đối diện trực tiếp với những điểm nghẽn kéo dài, ảnh hưởng lớn đến môi trường đầu tư, nguồn cung nhà ở, tiến độ phát triển đô thị và niềm tin của DN. Đáng chú ý, cam kết trong năm 2026 sẽ tiếp tục tháo gỡ cho tất cả các dự án tồn đọng kéo dài cho thấy TP không dừng ở xử lý tình huống mà đang hướng đến một cơ chế giải quyết có hệ thống, rõ trách nhiệm và có thời hạn cụ thể.
"Hiệu quả bước đầu là tích cực, bởi khi các dự án được khơi thông, nguồn lực xã hội sẽ được đưa trở lại nền kinh tế, tạo việc làm, tăng thu ngân sách và cải thiện diện mạo đô thị. Tất nhiên, kết quả cuối cùng còn phụ thuộc vào chất lượng thực thi và sự phối hợp giữa các sở, ngành. Tuy vậy, tinh thần chủ động, cầu thị và quyết liệt của lãnh đạo TP.HCM là rất đáng ghi nhận, cần được tiếp tục duy trì bằng cơ chế minh bạch, nhất quán và bền vững", ông Hoài Văn kỳ vọng.
Còn ông Phan Viết Nuôi, Tổng giám đốc Công ty CP Tư vấn và đầu tư NHQ, nhận xét kết quả nổi bật lần này là 100% công trình, dự án, khu đất tồn đọng cơ bản đã được tháo gỡ hoặc có phương án xử lý dứt điểm. Nhờ đó GRDP năm 2025 của TP đạt 8,03%, mức cao nhất trong 10 năm gần đây. Quý 1/2026 GRDP đạt 8,27%, tiếp tục dẫn đầu cả nước và cao hơn mức bình quân các địa phương thí điểm. Kết quả này thể hiện quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị TP. "Hiện chính quyền TP cũng đang rà soát thêm và rất quyết tâm tháo gỡ vướng mắc về pháp lý cho các dự án. Nếu đáp ứng đủ điều kiện về đất đai, quy hoạch, hạ tầng thì thời gian ra quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư rất nhanh. Đây là tín hiệu đáng mừng, rất cần phải tiếp tục phát huy", ông Nuôi nhận xét và nói thêm với các chủ đầu tư có đủ năng lực tài chính thì đây giống như bước vào đường cao tốc sau một thời gian di chuyển trên tuyến đường nội đô bị kẹt xe liên tục.
Ngược lại, với những NĐT hạn chế về năng lực tài chính hoặc các dự án có vướng mắc về đất đai như nguồn gốc đất chưa rõ ràng, chưa hoàn thành bồi thường giải phóng mặt bằng, đất đã bị thế chấp ngân hàng hoặc đã "bán lúa non" khi chưa đủ điều kiện, chắc chắn sẽ không thể chạy được. Đối với những dự án thuộc lỗi của DN cần mạnh tay thu hồi hoặc hủy bỏ các dự án này, đồng thời nêu phương án xử lý quỹ đất của dự án đối với từng trường hợp đặc thù. Điều này giúp hủy bỏ các dự án treo, tranh chấp, giúp các NĐT có tiềm lực thực sự tiếp cận và phát triển dự án. Những tồn đọng các dự án kiểu này đang còn khá nhiều, cần phải sớm giải quyết để đảm bảo phát triển đồng bộ các khu vực.
"Điểm sáng trong công tác xử lý dự án tồn đọng kéo dài lần này là tinh thần trách nhiệm của những người đứng đầu TP rất cao, rất quyết tâm khi chỉ đạo thực hiện nghiêm nguyên tắc "6 rõ", nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, xử lý nghiêm tình trạng né tránh, đùn đẩy, chậm trễ trong thực thi nhiệm vụ. Ngoài ra còn có cơ chế bảo vệ và khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm. Đây là điểm mấu chốt giúp cho những cán bộ "làm thật", làm vì cái tâm trong sáng, không sợ bị truy trách nhiệm. Từ đó tiến trình gỡ vướng cho các dự án được chạy nhanh hơn. Những quyết sách này giúp tăng thu ngân sách để phục vụ vốn cho các công trình hạ tầng trọng điểm", ông Phan Viết Nuôi nhận định.
Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo các DN BĐS đều vui mừng trước những đổi thay trong quan điểm làm việc của lãnh đạo TP và hiệu quả có thể thấy được trên thực tế. Các dự án được khơi thông sẽ tạo ra nguồn cung mới cho thị trường, thúc đẩy đầu tư, tạo việc làm và tăng nguồn thu ngân sách. Trong bối cảnh nền kinh tế đang cần thêm động lực tăng trưởng, việc "kích hoạt" các dự án đã có sẵn quỹ đất, nguồn vốn và NĐT là giải pháp mang lại hiệu quả nhanh và thiết thực. Đặc biệt, việc TP.HCM cam kết xử lý toàn bộ dự án tồn đọng trong năm 2026 cho thấy quyết tâm rất lớn để khơi thông nguồn lực ngủ đông cũng như phục hồi quyền lợi của nhiều người dân, DN bị treo lưu cữu. Đây sẽ là một trong những dấu ấn của công tác điều hành kinh tế tại TP.HCM trong kỷ nguyên mới của đất nước.