Giá vàng hôm nay (11/5), ghi nhận một diễn biến khác lạ của giá vàng trong nước. Mặc dù giá thế giới không giảm sâu, nhưng vàng trong nước tụt dốc không phanh.
Lúc 13h14′, giá vàng miếng SJC lại giảm tiếp 700 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, xuống mức 162,2-165,2 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).
Giá vàng nhẫn loại 1-5 của SJC cũng hạ tiếp 700 nghìn đồng/lượng ở cả 2 chiều, xuống mức 161,7-164,7 triệu đồng/lượng (mua – bán).
Mở cửa phiên giao dịch ngày 11/5, lúc 8h38′, SJC điều chỉnh giảm giá vàng miếng hạ 500 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với mức chốt tuần qua, giao dịch ở mức 164-167 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).
Đến 8h39′, SJC lại giảm giá vàng miếng hạ tiếp 600 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, xuống mức 163,4-166,4 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).
Tới 10h01′, SJC lại điều chỉnh giảm giá vàng miếng xuống mức 162,9-165,9 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng nhẫn loại 1-5 của SJC cũng hạ về mức 162,4-165,4 triệu đồng/lượng (mua – bán).
Cụ thể, tại Bảo Tín Mạnh Hải, giá vàng miếng SJC giao dịch ở mức 162,2-165,2 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm mạnh 2,3 triệu đồng mỗi lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua – bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC tại Tập đoàn Doji ở Hà Nội và TP.HCM giao dịch ở quanh mức 162,2 – 165,2 triệu đồng/lượng (mua – bán), giảm mạnh 2,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so với cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC giao dịch ở mức 162,9 – 165,9 triệu đồng/lượng (mua – bán), giảm mạnh 1,6 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch giữa 2 chiều mua – bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC tại Phú Quý giao dịch quanh mức 162,2 – 165,2 triệu đồng/lượng (mua – bán), giảm mạnh 2,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua – bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Ngoài ra, giá vàng SJC tại Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) giao dịch ở mức 162,2 – 165,2 triệu đồng/lượng (mua – bán), giảm mạnh 2,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua – bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Riêng giá vàng Mi Hồng hôm nay 11/5 ở mức 164,0 triệu đồng/lượng mua vào và 165,5 triệu đồng/lượng bán ra. Giá vàng Mi Hồng giảm 1,0 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 1,2 triệu đồng/lượng chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước.
Đối với vàng nhẫn, giá vàng nhẫn tròn ép vỉ của Bảo Tín Mạnh Hải giao dịch quanh mức 162,2-165,1 triệu đồng/lượng (mua – bán), giảm 2,4 triệu đồng mỗi lượng ở cả 2 chiều so với mức chốt tuần qua.
Giá nhẫn tròn trơn Vàng Rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu, giao dịch ở mức 162,9 – 165,9 triệu đồng/lượng (mua – bán), giảm mạnh 1,6 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so với cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch chiều mua – bán ở mức 3 triệu đồng.
Giá vàng nhẫn Doji Hưng Thịnh Vượng 9999 của Tập đoàn Doji tại thị trường Hà Nội giao dịch ở mức 162,2 – 165,2 triệu đồng/lượng, giảm mạnh 2,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so với cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch chiều mua – bán ở mức 3 triệu đồng.
Giá vàng hôm nay nhẫn tròn trơn 999,9 tại Công ty Phú Quý giao dịch quanh mức 162 – 165 triệu đồng/lượng, giảm mạnh 2,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra so với cùng thời điểm hôm qua. Chênh lệch mua – bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Từ sáng đến cuối ngày hôm nay, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC đã giảm 2,3 triệu đồng mỗi lượng.
Giá vàng thế giới giảm hơn 40 USD
Lúc 14h48′, giá vàng thế giới hạ nhanh, giao dịch chỉ còn 4.670 USD/ounce, giảm hơn 40 USD.
Mở cửa phiên giao dịch sáng nay, giá vàng thế giới giảm mạnh tuột mốc 4.700 USD/ounce. Lúc 8h42, giá vàng thế giới giao dịch ở vùng giá 4.690 USD/ounce, giảm 23 USD so với mức giá đóng cửa tuần trước.
Quy đổi theo tỷ giá USD tại Vietcombank (26.373 VND/USD), giá vàng thế giới tương đương khoảng 148,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Giá vàng SJC trong nước hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 16,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng giảm sau khi Tổng thống Trump bác bỏ đề xuất hòa bình của Iran và Tehran có phản ứng cứng rắn, căng thẳng Trung Đông leo thang, nhưng giá vàng lại bất ngờ quay đầu giảm mạnh.
Nhà đầu tư không còn tập trung vào trú ẩn mà lo giá dầu tăng (WTI tăng 3%) đẩy lạm phát quay trở lại, buộc Fed duy trì lãi suất cao lâu hơn – bất lợi cho giá vàng vì đây là tài sản không sinh lãi. Lo ngại càng tăng sau báo cáo việc làm Mỹ khả quan (thất nghiệp 4,3%, việc làm tăng tháng thứ hai liên tiếp).
Các chuyên gia nhận định dữ liệu lao động tương đối vững chắc tạo dư địa để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tập trung vào rủi ro lạm phát dai dẳng trong khuôn khổ nhiệm vụ kép của mình, qua đó có thể giữ nguyên lãi suất trong thời gian tới.
Theo công cụ CME FedWatch Tool, thị trường hiện định giá khoảng 14% khả năng Fed tăng lãi suất vào cuối năm, cao hơn mức 9% của tuần trước.
Dự báo giá vàng
Thị trường vàng có thể biến động mạnh trước các dữ liệu lạm phát quan trọng công bố trong tuần này như Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và Chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 4.
Nhà đầu tư cũng sẽ theo dõi khả năng Thượng viện Mỹ bỏ phiếu đề cử ông Kevin Warsh làm Chủ tịch Fed tiếp theo. Ông Warsh từng bày tỏ quan điểm ủng hộ cắt giảm lãi suất trong năm nay nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Ông cũng đề xuất thu hẹp bảng cân đối kế toán của Fed, điều có thể làm giảm thanh khoản thị trường.
Dù giá vàng thế giới đang giảm nhưng kim loại quý tuần này nhận dự báo khá tích cực khi nhiều chuyên gia quốc tế tiếp tục duy trì quan điểm lạc quan.
Khảo sát vàng hằng tuần của Kitco News cũng cho thấy, tâm lý lạc quan đang quay trở lại. Trong số 11 chuyên gia Phố Wall tham gia khảo sát, có 7 người, tương đương 64%, dự báo giá vàng sẽ tăng trong tuần này. Ở nhóm nhà đầu tư cá nhân, 69% ý kiến cũng kỳ vọng kim loại quý tiếp tục đi lên trong ngắn hạn.
Ông Marc Chandler – Giám đốc điều hành Bannockburn Global Forex – nhận định, vàng đã cho thấy khả năng phục hồi đáng chú ý sau giai đoạn điều chỉnh mạnh hồi tháng 4. Theo chuyên gia này, giá vàng giữ vững vùng hỗ trợ quanh 4.500 USD/ounce trước khi bật tăng trở lại nhờ lợi suất trái phiếu hạ nhiệt, đồng USD suy yếu và giá dầu giảm.
Ông Chandler cho biết, dữ liệu từ Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) cho thấy, cơ quan này tiếp tục mua mạnh vàng trong nhịp điều chỉnh gần đây. Theo ông, lực mua từ ngân hàng trung ương vẫn là yếu tố quan trọng giúp giá vàng duy trì nền hỗ trợ vững chắc. Chuyên gia này cho rằng, mục tiêu gần tiếp theo của vàng có thể hướng tới vùng 4.850 USD/ounce.
Trong khi đó, ông Sean Lusk – đồng Giám đốc Bộ phận Phòng hộ thương mại tại Walsh Trading – đánh giá, thị trường vàng vẫn được hỗ trợ bởi các nguy cơ lạm phát và bất ổn kinh tế. Ông cho rằng, báo cáo việc làm Mỹ tích cực hơn dự kiến sẽ khiến Fed chưa vội cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn. Tuy nhiên, các rủi ro liên quan giá năng lượng và căng thẳng Trung Đông vẫn là yếu tố cần theo dõi sát.
Theo ông Lusk, nếu lạm phát tăng mạnh trở lại, thị trường có thể phải tính tới khả năng Fed tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận trọng lâu hơn dự kiến. Dù vậy, ông vẫn cho rằng vàng và bạc tiếp tục là kênh đầu tư đáng chú ý trong bối cảnh hiện nay.
Tuần này, thị trường sẽ đặc biệt quan tâm tới loạt dữ liệu kinh tế Mỹ như CPI, PPI, doanh số bán lẻ và số đơn xin trợ cấp thất nghiệp. Đây được xem là những dữ liệu có thể ảnh hưởng trực tiếp tới kỳ vọng điều hành chính sách tiền tệ của Fed.
Rào cản lớn nhất đối với việc phổ cập xe điện không nằm ở công nghệ pin hay giá thành phương tiện, mà chính là nỗi lo hết pin của người tiêu dùng. Nhận thức rõ yếu tố cốt tử này, nhiều quốc gia từ châu Âu đến châu Á đang dốc toàn lực tăng tốc mở rộng mạng lưới hạ tầng sạc.
Tại châu Âu, Đức tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu trong quá trình chuyển đổi xanh. Theo dữ liệu mới nhất từ Cơ quan Mạng lưới Liên bang Đức (Bundesnetzagentur), quốc gia này đã chính thức vượt cột mốc 200.000 điểm sạc công cộng vào đầu năm 2026.
Chính phủ Đức không chỉ dừng lại ở số lượng mà đang tập trung tối ưu hóa chất lượng bằng cách triển khai "Đạo luật Hạ tầng Nhiên liệu Thay thế" (AFIR) của Liên minh châu Âu, bắt buộc xây dựng các trạm sạc nhanh công suất tối thiểu 400 kW dọc theo các tuyến đường cao tốc chính (mạng lưới TEN-T).
Riêng tại thủ đô Berlin, chính quyền đặt mục tiêu đảm bảo cứ mỗi 60 km trên các trục giao thông huyết mạch sẽ có một điểm sạc nhanh, giúp việc sạc xe điện trở nên thuận tiện như việc đổ xăng truyền thống.
Không để khu vực Đông Âu tụt lại phía sau, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) đã phê duyệt gói tài chính quy mô lớn nhằm hỗ trợ lắp đặt hơn 2.700 trạm sạc nhanh tại 3 quốc gia Ba Lan, Slovakia và Croatia. Báo cáo chiến lược của EBRD chỉ ra rằng, việc thu hẹp khoảng cách hạ tầng giữa Đông và Tây Âu là điều kiện tiên quyết để duy trì tính toàn vẹn của thị trường xe điện chung châu Âu. Khoản đầu tư này ưu tiên cho các dòng sạc DC công suất cao, tạo mạng lưới kết nối xuyên biên giới mượt mà cho các phương tiện vận tải hành khách và logistic liên quốc gia.
Bước sang khu vực châu Á, làn sóng đầu tư hạ tầng sạc cũng đang diễn ra vô cùng sôi động với những chiến lược mang tính đột phá, phù hợp với đặc thù kinh tế của từng vùng.
Gây bất ngờ lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á là Campuchia. Dù là nền kinh tế đang phát triển, chính phủ Hoàng gia Campuchia đã phê duyệt kế hoạch ngân sách trị giá 10 triệu USD do Bộ Mỏ và Năng lượng kết hợp cùng Tổng công ty Điện lực Campuchia (Electricité du Cambodge - EDC) và Ngân hàng Thế giới (WB) triển khai nhằm mở rộng mạng lưới trạm sạc toàn quốc.
Kế hoạch này tập trung nâng cấp hệ thống lưới điện phân phối tại các đô thị lớn như Phnom Penh, Kandal và dọc các trục quốc lộ chính để sẵn sàng tích hợp các trạm sạc nhanh công cộng, đặt nền móng cho việc hiện thực hóa mục tiêu đạt 40% xe ô tô điện vào năm 2050 theo Cam kết Chiến lược Long-term Strategy for Carbon Neutrality (LTS4CN).
Trong khi đó, quốc gia láng giềng Malaysia đang đẩy mạnh thực hiện mục tiêu đạt 10.000 trạm sạc công cộng. Theo Quy hoạch tổng thể công nghiệp mới (NIMP 2030) và định hướng của Cơ quan Phát triển Đô thị PLANMalaysia, tính đến nay mạng lưới trạm sạc tại quốc gia này đã tăng trưởng vượt bậc từ con số khiêm tốn vài trăm trạm vài năm trước lên hàng ngàn trạm, hướng tới cột mốc phủ khắp các bang trục Tây và Đông Malaysia.
Các tập đoàn năng lượng lớn như Petronas và Tenaga Nasional Berhad (TNB) đang được giao chỉ tiêu lắp đặt tối thiểu 50 bộ sạc nhanh DC tại các vị trí chiến lược để kích cầu tiêu dùng nội địa.
Tại Nam Á, Ấn Độ lại chọn một lối đi thông minh và mang tính tích hợp cao bằng cách đưa hạ tầng sạc vào hệ thống giao thông công cộng sẵn có. Tổng công ty Đường sắt Ấn Độ (Indian Railways) đã bắt đầu triển khai lắp đặt các tổ hợp trạm sạc xe điện quy mô lớn tại tất cả các nhà ga đường sắt hạng nhất và hạng hai trên toàn quốc.
Việc tận dụng quỹ đất rộng lớn và nguồn điện công suất cao tại các nhà ga không chỉ giải quyết bài toán thiếu không gian đô thị, mà còn thúc đẩy mô hình giao thông đa phương thức. Người dân có thể lái xe điện đến nhà ga, cắm sạc, di chuyển bằng tàu cao tốc đi làm và nhận lại chiếc xe đã đầy pin khi trở về vào cuối ngày.
Sự chuyển dịch đồng bộ từ các nền kinh tế phát triển đến các quốc gia mới nổi càng cho thấy nguyên tắc cốt lõi: Quốc gia nào làm chủ được hạ tầng sạc, quốc gia đó sẽ làm chủ được tốc độ của cuộc đua phổ cập phương tiện xanh.
Việt Nam cũng không nằm ngoài đường đua. Thực tế, nước ta sở hữu một lợi thế mà ít quốc gia Đông Nam Á nào có được: Một doanh nghiệp nội địa (VinFast) đã chủ động xây dựng mạng lưới trạm sạc khổng lồ với hơn 150.000 cổng sạc cho cả ô tô và xe máy trên khắp tỉnh thành, dọc theo các tuyến quốc lộ và cao tốc.
Hiện nay, VinFast đang triển khai thêm 99 siêu trạm sạc có khả năng phục vụ cùng lúc tới 100 ô tô điện, rút ngắn thời gian sạc xuống khoảng 15 phút, đồng thời đầu tư 150.000 tủ đổi pin trên cả nước, đặc biệt là chú trọng giai đoạn đầu ở Hà Nội và TP.HCM.
Thêm vào đó, sự gia nhập của các thương hiệu quốc tế và các đơn vị phát triển trạm sạc độc lập thứ ba (như EV ONE, EBOOST, Charge+) đang dần tạo ra một hệ sinh thái đa dạng.
Tuy nhiên, các chuyên gia chỉ rõ, sự phát triển hạ tầng sạc tại Việt Nam hiện nay vẫn mang tính "tự lực cánh sinh" của doanh nghiệp là chính, thiếu đi một quy hoạch tổng thể mang tính quốc gia và các cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp từ dòng ngân sách nhà nước.
Về mặt chính sách, dù Chính phủ đã ban hành Nghị định 10/2022 miễn lệ phí trước bạ cho xe điện và giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, nhưng các chính sách ưu đãi trực tiếp cho nhà đầu tư hạ tầng sạc vẫn còn dừng lại ở mức "khuyến khích" chung chung.
Trong khi đó, theo ước tính của Bộ phận Nghiên cứu toàn cầu HSBC, Việt Nam cần đầu tư khoảng 12,3 tỉ USD trong giai đoạn 2024 - 2040 để lắp đặt đủ hạ tầng sạc xe điện và công suất phát điện tái tạo đủ cho lượng xe điện mới.
Đại biểu Quốc hội Phạm Thu Xanh (đoàn Hải Phòng) cho rằng rào cản chính với xe điện không hẳn nằm ở thuế mà là ở hạ tầng trạm sạc. Vì thế, Chính phủ cần quan tâm phát triển quy hoạch tổng thể, đẩy mạnh xã hội hóa việc đầu tư trạm sạc xe điện và từng bước mở rộng ra ngoài đô thị thay vì tập trung quá nhiều ở trung tâm. Điều này giúp tăng khả năng tiếp cận và tạo động lực cho người dân mua xe điện.
Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể về quy chuẩn trạm sạc xe điện và an toàn PCCC trong các khu dân cư để tạo sự yên tâm cho người sử dụng.
Bà Thu Xanh cũng đề nghị có chính sách xây dựng giá điện phù hợp cho việc sạc xe điện, phát triển các dịch vụ bảo dưỡng và thay thế pin; ưu tiên đối với các loại xe điện công cộng, taxi, xe du lịch… tạo hiệu quả lan tỏa về môi trường.
Những bài học đắt giá từ Đức, Ấn Độ hay Malaysia cho thấy, chính sách phải luôn đi trước một bước để dọn đường cho công nghệ và thị trường bứt phá. Việt Nam cần nhanh chóng lập quy hoạch trạm sạc như một loại hình hạ tầng kỹ thuật đô thị thiết yếu, ban hành các chính sách ưu đãi tài chính trực tiếp để không chậm chân trong cuộc đua chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hôm nay 13.7, Cục Thuế (Bộ Tài chính) có công điện hỏa tốc chỉ đạo trưởng thuế tỉnh, thành phố tập trung nguồn lực triển khai chiến dịch "Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh".
Cụ thể, với 291.962 doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục giải thể (tức chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế): phải thông báo đến người nộp thuế yêu cầu hoàn thành nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và thực hiện thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp; hoàn thành trước ngày 15.7.
Xác nhận việc người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và phản hồi cho cơ quan đăng ký kinh doanh theo thời hạn quy định tại Nghị định số 168 năm 2025 để người nộp thuế hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động tại cơ quan đăng ký kinh doanh.
Với 325.500 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có nợ thuế thì chia ra 2 trường hợp.
Thứ nhất, người nộp thuế không hoạt động kinh doanh từ 1 năm trở lên mà không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế: ban hành văn bản đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh phối hợp xử lý vi phạm, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; hoàn thành trước ngày 15.7.
Thứ hai, người nộp thuế đủ điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế: đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chỉ đạo của Bộ Tài chính; hoàn thành trước ngày 17.7.
Sau khi có kết quả thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp quản lý thuế để yêu cầu người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ thuế và làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo quy định pháp luật quản lý thuế và hướng dẫn nghiệp vụ của Cục Thuế.
Danh sách 291.962 doanh nghiệp và 325.500 doanh nghiệp nêu trên đều đã được gửi đến thư điện tử của trưởng thuế tỉnh, thành phố trong ngày 13.7.
Ngoài ra, Cục Thuế còn yêu cầu phải công khai danh sách doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Hình thức công khai bao gồm: đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế các cấp; niêm yết tại trụ sở cơ quan quản lý thuế và các hình thức công khai khác theo các quy định có liên quan. Việc này phải hoàn thành trước ngày 17.7.
Trước đó, nhằm triển khai đồng bộ chiến dịch "Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh", ngày 9.6, Cục Thuế có văn bản yêu cầu thuế các tỉnh, thành phố tập trung tối đa nguồn lực, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan để rà soát, xử lý doanh nghiệp ngừng hoạt động, doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Ngày 3.7, Bộ Tài chính có văn bản gửi UBND các tỉnh, thành phố đề nghị quan tâm chỉ đạo các sở, ngành, chính quyền địa phương, công an xã phường phối hợp với cơ quan thuế triển khai chiến dịch nêu trên.
Theo chỉ số World Container Index (WCI) của Drewry, giá cước vận tải container toàn cầu đã tăng 23% chỉ trong tuần đầu tháng 6, đạt 3.433 USD/FEU, mức tăng mạnh nhất kể từ đầu năm. Tăng cước mạnh nhất là các tuyến Á - Âu và xuyên Thái Bình Dương. Cụ thể: Cước vận chuyển từ Thượng Hải (Trung Quốc) đến Los Angeles (Mỹ) tăng 31%, lên 4.565 USD/FEU, trong khi tuyến Thượng Hải - Rotterdam (Hà Lan) tăng 25%, lên 3.579 USD/FEU. Trên tuyến đi bờ Tây Mỹ, cước đi Los Angeles trong giai đoạn 15 - 30.6 đã tăng lên khoảng 6.500 USD/FCL, tăng 27% so với mức 5.100 USD/FCL trong giai đoạn nửa đầu tháng 6. Nếu so với nửa cuối tháng 5, cước tuyến này đã tăng tới 90%, tương đương mức tăng tuyệt đối khoảng 3.150 USD/FCL. So với giai đoạn ổn định trước ngày 28.2, mức tăng còn mạnh hơn, lên tới 232%, tương đương tăng thêm khoảng 4.650 USD/FCL.
Tuyến đi bờ Đông Mỹ cũng ghi nhận mức tăng rất cao. Cước đi New York trong nửa cuối tháng 6 đạt khoảng 7.900 USD/FCL, tăng 23% so với mức 6.400 USD/FCL của nửa đầu tháng 6. So với nửa cuối tháng 5, cước tuyến này tăng 70%, tương đương tăng thêm khoảng 3.250 USD/FCL. Nếu đặt trong tương quan với giai đoạn trước 28.2, cước đi New York đã tăng 182%, tương đương tăng tuyệt đối khoảng 5.100 USD/FCL.
Đối với tuyến đi Canada, cước đến Toronto/Montreal trong giai đoạn 15 - 30.6 đã lên mức khoảng 10.050 USD/FCL, tăng 17% so với mức 8.650 USD/FCL trong nửa đầu tháng 6. So với nửa cuối tháng 5, mức tăng lên tới 73%, tương đương tăng thêm khoảng 4.250 USD/FCL. So với thời điểm trước 28.2, cước tuyến này tăng 114%, tương đương tăng tuyệt đối khoảng 5.350 USD/FCL.
Các chuyên gia nhận định mùa vận chuyển cao điểm năm nay đã bắt đầu sớm hơn thông lệ. Hoạt động nhập hàng sớm của các nhà bán lẻ, tình trạng tắc nghẽn tại nhiều cảng lớn và chiến lược quản lý công suất của các hãng tàu đã khiến nhu cầu vận chuyển tăng nhanh ngay từ cuối tháng 5. Nhiều hãng tàu lớn như CMA CGM, MSC, Maersk và Hapag-Lloyd liên tiếp áp dụng các khoản phụ phí mùa cao điểm (PSS) trên các tuyến Á - Âu và xuyên Thái Bình Dương nhằm tận dụng đà tăng của thị trường. Tại thị trường châu Âu, cước đi các cảng chính như Rotterdam, Hamburg (Đức) và Felixstowe (Anh) trong giai đoạn 1 - 14.6 ở mức khoảng 4.700 USD/FCL. Từ ngày 15 - 30.6, mức cước được dự kiến tiếp tục tăng thêm trên 1.000 USD/FCL. Đây là tín hiệu cho thấy áp lực chi phí không chỉ tập trung ở tuyến xuyên Thái Bình Dương mà đang lan rộng sang cả tuyến Á - Âu, trong bối cảnh lịch tàu và năng lực vận tải vẫn chịu tác động bởi việc chuyển hướng qua mũi Hảo Vọng để tránh rủi ro tại Trung Đông và nhu cầu nhập khẩu đang tăng cao.
Trao đổi với PV Thanh Niên, một số doanh nghiệp xuất khẩu cho biết nguyên nhân chính khiến cước tàu biển tăng nhanh trong thời gian gần đây đến từ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố. Nhiều hãng tàu vẫn cho rằng cần đề phòng rủi ro quanh eo biển Hormuz và tiếp tục chuyển hướng qua mũi Hảo Vọng. Việc hành trình kéo dài làm tăng chi phí nhiên liệu, kéo giãn vòng quay tàu và làm giảm năng lực cung ứng thực tế trên thị trường. Một yếu tố đáng chú ý khác là nguồn cung tàu thực tế đang bị thắt chặt mặc dù tổng công suất đội tàu toàn cầu vẫn ở mức cao. Theo Alphaliner, tỷ lệ tàu nhàn rỗi hiện chỉ chiếm khoảng 0,6% tổng sức chở container toàn cầu, mức thấp kỷ lục trong nhiều năm. Việc các hãng tàu điều chuyển tàu sang các tuyến có lợi nhuận cao hơn, kết hợp với các chuyến hủy và thay đổi lịch trình, khiến khả năng cung ứng vận tải thực tế thấp hơn đáng kể so với số liệu công suất danh nghĩa.
"Thật ra các hãng tàu cũng lợi dụng tình hình chiến sự để tăng cước và đưa ra nhiều điều khoản bất lợi cho khách hàng. Khi thế giới xảy ra biến động, như giai đoạn Covid-19 trước đây, lợi nhuận của các hãng tàu đều tăng vọt. Nhiều người cho rằng doanh nghiệp VN đa số xuất khẩu theo phương thức FOB, giao hàng tại cảng nên không chịu ảnh hưởng bởi giá cước phí tăng, điều này hoàn toàn không đúng. Vì người mua tính toán chi phí trên tổng thể chung, giá thành tăng lên thì họ yêu cầu người bán phải giảm giá, hoặc chia sẻ rủi ro. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của nhà xuất khẩu", một doanh nghiệp xuất khẩu nông sản lớn của VN nhìn nhận.
Đối với doanh nghiệp thủy sản VN, đợt tăng cước hiện nay tạo ra áp lực kép. Một mặt, chi phí logistics tăng làm giảm biên lợi nhuận, nhất là với các hợp đồng đã chốt giá trước đó hoặc các đơn hàng có giá trị gia tăng chưa đủ cao để hấp thụ chi phí vận tải. Mặt khác, lịch trình tàu bất ổn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giao hàng, thời gian lưu kho lạnh và khả năng đáp ứng cam kết với khách hàng.
Một doanh nghiệp thủy sản phân tích: "Với hàng thủy sản đông lạnh, rủi ro logistics không chỉ là chi phí cước. Doanh nghiệp còn phải tính đến chi phí container lạnh, điện lạnh, lưu bãi, chứng từ, phí đổi lịch tàu và nguy cơ phát sinh tranh chấp nếu hàng đến chậm. Các mặt hàng xuất khẩu đi xa như tôm, cá tra, cá ngừ, mực, bạch tuộc hoặc hàng chế biến sâu vào Mỹ, EU, Canada chịu tác động rõ hơn do thời gian vận chuyển dài và yêu cầu bảo quản nghiêm ngặt". Bên cạnh đó, thị trường Mỹ đang bước vào một đợt nhập hàng sớm. Nhiều nhà nhập khẩu và bán lẻ Mỹ tăng tốc đưa hàng về trước thời điểm có thể phát sinh thêm chi phí từ thuế quan, phụ phí nhiên liệu hoặc các điều chỉnh thương mại mới. Điều này tạo ra nhu cầu đặt chỗ tăng nhanh trong ngắn hạn, đặc biệt trên các tuyến châu Á - Bắc Mỹ. Khi nhu cầu tăng trong khi năng lực tàu bị hạn chế bởi chuyển hướng và lịch trình bất ổn, giá cước có xu hướng bị đẩy lên nhanh hơn bình thường.
Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP) dự báo giá cước đường biển trong các tuần tới vẫn phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: mức độ hạ nhiệt của căng thẳng tại Trung Đông, khả năng các hãng tàu khôi phục lịch trình ổn định hơn và sức mua thực tế của thị trường Mỹ sau giai đoạn nhập hàng sớm. Nếu các rủi ro địa chính trị giảm, áp lực cước có thể dịu lại. Tuy nhiên, trong bối cảnh mùa cao điểm đã đến sớm và năng lực vận tải vẫn bị kéo giãn, mặt bằng cước khó có thể giảm nhanh trong ngắn hạn. Nhiều tổ chức phân tích cũng dự báo giá cước có thể tiếp tục duy trì ở mức cao trong suốt giai đoạn cao điểm vận chuyển của quý 3/2026. Để ứng phó tình hình hiện nay trong ngắn hạn, VASEP khuyến cáo doanh nghiệp cần chủ động chốt booking sớm, rà soát kỹ lịch tàu và không nên phụ thuộc vào một hãng tàu hoặc một cảng trung chuyển duy nhất. Với các hợp đồng mới, cần tính lại cơ cấu giá bán, đưa yếu tố biến động cước và phụ phí vào đàm phán với khách hàng. Đối với các đơn hàng đã ký, doanh nghiệp nên sớm trao đổi với đối tác về khả năng điều chỉnh lịch giao hàng, chia sẻ chi phí phát sinh hoặc chuyển phương án vận chuyển phù hợp hơn nếu cần.