Tại hội nghị hướng dẫn tuyển sinh lớp 10 ngày 2/4, ông Nguyễn Văn Hiền, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, nêu quan điểm về phí giữ chỗ, thường được gọi là “tiền cọc” ở các trường tư.
Theo ông, nhiều năm qua, Sở “nhắc đi, nhắc lại” yêu cầu không thu khoản này. Một số trường cho rằng không hợp lý vì đây là thỏa thuận giữa trường và phụ huynh, nhưng ông không đồng tình.
Lý do là phí giữ chỗ không nằm trong quy định nào về định mức thu, chi trong trường học. Ngoài ra, việc thu tiền phải dựa trên nguyên tắc thu đúng, đủ, nên “chưa cung cấp dịch vụ thì không thể thu phí”.
Ông Hiền nhìn nhận việc thu phí giữ chỗ tràn lan dẫn tới nhiều hệ lụy, dễ thấy nhất là gây mất công bằng trong tiếp cận giáo dục. Những gia đình có điều kiện có thể đặt cọc 5-7 trường với mức phí cao, ngược lại những em thiệt thòi hơn thì không thể.
Cho rằng “còn nhiều cách khác” để xây dựng niềm tin với phụ huynh, ông Hiền gợi ý các trường dùng chính sách ưu đãi, giảm học phí cho những em đăng ký và xác nhận nhập học sớm.
“Chúng ta đừng đẩy cái khó của mình thành rủi ro cho phụ huynh. Đặc biệt, việc thu phí đặt cọc nhưng không hoàn là rất bất hợp lý”, ông nói, đồng thời nhấn mạnh việc đăng ký cần diễn ra trực tuyến để đảm bảo sự minh bạch, công bằng.
Tiền cọc, giữ chỗ là khoản gây tranh cãi nhiều năm qua. Theo khảo sát của VnExpress, tiền cọc lớp 10 trường tư năm nay phổ biến dưới 10 triệu đồng, còn cao nhất ở trường quốc tế Dwight Hà Nội với hơn 113 triệu.
Thông thường, các trường sẽ khấu trừ vào học phí hoặc tiền đồng phục, sách vở khi học sinh nhập học. Nếu bỏ, gia đình không được hoàn lại.
Lãnh đạo một trường tư cho biết “tiền cọc” để các gia đình có trách nhiệm với lựa chọn của mình, hạn chế tỷ lệ ảo, gây khó khăn cho tuyển sinh. Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo cũng nhiều lần cho rằng thu tiền cọc là “không hay”, song các trường vẫn duy trì.
Tiền cọc lớp 1 trường tư Hà Nội lên đến 110 triệu đồng
Thanh Hằng
Nguồn: https://vnexpress.net/giam-doc-so-giao-duc-ha-noi-tien-coc-truong-tu-gay-mat-cong-bang-5057716.html

Liên quan đến vụ bà Nguyễn Thị Bình, cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình (Hà Nội), bị phạt tù vì thu tiền dạy thêm sai quy định, Cục Kiểm tra văn bản và tổ chức thi hành pháp luật (Bộ Tư pháp) mới đây xác định một văn bản có nội dung trái pháp luật.
Theo cáo buộc, Quyết định số 22/2013 của UBND TP.Hà Nội quy định về thu tiền dạy thêm, theo đó mức thu từ 6.000 - 26.000 đồng/học sinh (HS)/tiết. Lớp càng ít HS, mức thu càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, bà Bình đã chỉ đạo kế toán và giáo viên (GV) chủ nhiệm các khối lớp 7, lớp 8, lớp 9 thu theo một mức chung là 15.000 đồng/tiết/HS. Dựa trên mức thu này, Trường THCS Ba Đình đã thu của 24 lớp các khối 7, 8, 9 với tổng số hơn 2,1 tỉ đồng, cao hơn quy định hơn 1 tỉ đồng.
Quyết định số 22/2013 là một trong những căn cứ quan trọng để buộc tội bà Bình. Tuy nhiên, trong quá trình xét xử, bà Bình cho rằng việc thu tiền được thực hiện sau khi có thỏa thuận với phụ huynh, phù hợp Thông tư 17/2012 của Bộ GD-ĐT. Thông tư này quy định "mức thu tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ HS với nhà trường", đồng thời ủy quyền cho UBND cấp tỉnh quy định "việc thu, quản lý, sử dụng", nhưng không có quyền áp mức trần.
Tại kết luận ban hành ngày 4.5, Cục Kiểm tra văn bản và tổ chức thi hành pháp luật dẫn Thông tư 17/2012 của Bộ GD-ĐT. Theo đó, thông tư này quy định tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ HS với nhà trường, không quy định hoặc giao chính quyền địa phương quy định mức thu tiền học thêm tối đa. Do vậy, việc Quyết định số 22/2013 của UBND TP.Hà Nội giới hạn mức thu tiền học thêm tối đa là chưa phù hợp. Sau Quyết định số 22/2013, Sở GD-ĐT TP.Hà Nội tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn với nội dung áp mức thu tối đa tương tự. Các quy định này được ban hành "không đúng hình thức, thẩm quyền", theo Cục Kiểm tra văn bản và tổ chức thi hành pháp luật.
Vẫn theo Cục này, chiếu theo quy định hiện hành, việc dạy thêm trong nhà trường không được thu tiền HS; kinh phí phải sử dụng từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn hợp pháp khác. Điều này đồng nghĩa quy định áp mức thu tối đa tại Quyết định số 22/2013 và văn bản hướng dẫn của Sở GD-ĐT TP.Hà Nội hiện không còn phù hợp.
Hôm 5.5 vừa qua, UBND TP.Hà Nội đã ra quyết định bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 22/2013, có hiệu lực từ ngày ký.
Thực tế, không riêng gì Hà Nội, suốt 12 năm Thông tư 17 về dạy thêm học thêm có hiệu lực thi hành, hầu hết UBND cấp tỉnh đều căn cứ vào đó và ban hành các quyết định quy định về việc dạy thêm học thêm áp dụng cho địa phương mình.
Ghi nhận cho thấy về mức thu chi học phí dạy thêm, mỗi địa phương có một cách quy định khác nhau. Cũng có những tỉnh, thành không quy định mức trần mà giao cho nhà trường và phụ huynh tự thỏa thuận theo đúng tinh thần của Thông tư 17.
Ví dụ, tại tỉnh Bắc Giang (cũ), Quyết định của UBND tỉnh nêu rõ kinh phí đối với học thêm trong nhà trường là do thỏa thuận giữa cha mẹ HS với nhà trường. "Việc phụ đạo HS có học lực yếu, kém và bồi dưỡng HS giỏi thuộc trách nhiệm của nhà trường, không được thu tiền của HS", quyết định ghi.
Việc quản lý và sử dụng tiền học thêm cũng được tỉnh này quy định: 75% chi cho GV trực tiếp dạy thêm, 5% chi công tác quản lý dạy thêm học thêm (bao gồm người tham gia quản lý, người phục vụ, bảo vệ); 10% chi cơ sở vật chất (tiền điện, nước và hao mòn tài sản); 10% chuyển vào quỹ phúc lợi của đơn vị để chi chung (hỗ trợ, tài trợ, khuyến học, khuyến tài...)…
Còn tại tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), quyết định của UBND tỉnh ban hành năm 2019 dù quy định thu tiền học thêm do phụ huynh HS và nhà trường thỏa thuận nhưng áp mức trần. Cụ thể, đối với HS THCS: 18.000 đồng/buổi (3 tiết học, 135 phút)/HS. Đối với HS THPT: 25.000 đồng/buổi (3 tiết học, 135 phút)/HS. Các lớp học tin học được thu thêm tiền điện, với mức thu không quá 5.000 đồng/máy/buổi.
Tỉnh này cũng quy định mức chi tối thiểu 70% chi cho GV trực tiếp giảng dạy; tối đa 15% chi cho công tác quản lý dạy thêm học thêm của nhà trường (bao gồm công tác chủ nhiệm, quản lý, phục vụ, bảo vệ, trông xe và các nhiệm vụ liên quan); chi tiền điện, nước, văn phòng phẩm, vệ sinh, sửa chữa cơ sở vật chất phục vụ dạy thêm học thêm, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định…
Trong khi đó, UBND tỉnh Hà Giang (cũ) quy định mức thu tiền học thêm trong nhà trường của 1 HS/buổi học được tính không vượt quá 0,02 mức lương tối thiểu do nhà nước quy định. GV dạy thêm không trực tiếp thu, chi tiền học thêm… Tỉnh này cũng quy định 70% trả thù lao cho GV trực tiếp lớp, 10% chi cho công tác quản lý…
Tỉnh Lào Cai (cũ) quy định thu tiền thực hiện dạy thêm các môn trong chương trình giáo dục: cấp THCS, THPT, giáo dục thường xuyên mức thu tối đa 10.000 đồng/tiết/HS. Riêng Trường THPT chuyên Lào Cai mức thu tối đa 12.000 đồng/tiết/HS…
Nhiều tỉnh, thành áp dụng mức trần học phí học thêm trong nhà trường nhưng suốt hơn chục năm Thông tư 17 có hiệu lực, Bộ GD-ĐT hay Bộ Tư pháp chưa từng lên tiếng cảnh báo, chấn chỉnh, cho đến khi vụ việc của bà Bình thu hút sự quan tâm của dư luận.
Bộ GD-ĐT vừa ban hành văn bản hợp nhất thông tư quy định về dạy thêm học thêm, có hiệu lực từ ngày 15.5. Trong quy định về tổ chức dạy thêm học thêm trong nhà trường, văn bản hợp nhất quy định: Việc dạy thêm học thêm trong nhà trường không được thu tiền của HS và chỉ dành cho 3 đối tượng HS đăng ký học thêm theo từng môn học.
Cụ thể, đó là các đối tượng: HS có kết quả học tập môn học cuối học kỳ liền kề ở mức chưa đạt; HS được nhà trường lựa chọn để bồi dưỡng HS giỏi; HS lớp cuối cấp tự nguyện đăng ký ôn thi tuyển sinh, ôn thi tốt nghiệp theo kế hoạch giáo dục của nhà trường.
GV đang dạy học tại các nhà trường không được dạy thêm ngoài nhà trường có thu tiền đối với HS mà GV đó đang được nhà trường phân công dạy học.
Mỗi môn học được tổ chức dạy thêm không quá 2 tiết/tuần. Trường hợp HS thuộc đối tượng đăng ký học thêm theo quy định có nhu cầu học thêm vượt quá 2 tiết/tuần, giám đốc Sở GD-ĐT xem xét, quyết định cho phép điều chỉnh thời lượng tổ chức dạy thêm theo đề nghị của hiệu trưởng hoặc giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường.
Dù thay đổi, bổ sung thế nào thì quy định "tuyệt đối không thu tiền" trong tổ chức dạy thêm trong nhà trường vẫn được Bộ GD-ĐT coi là yếu tố quyết định để chấn chỉnh việc dạy thêm học thêm tràn lan lâu nay, ngăn chặn nguy cơ dẫn đến tình trạng HS phải đi học thêm do nhà trường, giáo viên tổ chức, dù không có nhu cầu. Do đó, những tranh cãi về mức thu và có áp trần thu học phí dạy thêm trong nhà trường như trước kia, sẽ không xảy ra.
Mặc dù vậy, trên các nhóm dành cho phụ huynh HS Hà Nội, vẫn không ít ý kiến phàn nàn dù quy định nhà trường không thu tiền dạy thêm ôn thi, phụ đạo, bồi dưỡng… nhưng ban phụ huynh vẫn đứng ra thu góp của phụ huynh để "cảm ơn" GV và nhà trường mà mức thu này còn cao hơn nhiều so với "mức trần" trước kia Hà Nội quy định.
Mặt khác, với những trường thực hiện nghiêm thì cử tri lại phản ánh với đại biểu Quốc hội rằng từ khi thực hiện Thông tư 29, "chi phí học thêm của phụ huynh phải bỏ ra lại cao hơn so với trước". Lý do là cha mẹ phải đưa con ra ngoài trường, khiến phát sinh chi phí thuê trung tâm, GV đi lại, và đưa đón con từ nhà đến chỗ học thêm...
Vấn đề người dân mong muốn là quy định "cấm thu tiền" phải được thực thi chứ không phải chỉ chuyển từ hình thức này sang hình thức khác, thậm chí còn nặng nề hơn vì không có "mức trần" nào cả.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo Quyết định do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn vừa ký, ban giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân gồm 3 người.
PGS.TS Bùi Đức Thọ (SN 1975) tại Đức Thọ, Hà Tĩnh giữ chức Giám đốc.
Hai Phó Giám đốc gồm: PGS.TS Bùi Huy Nhượng và GS.TS Nguyễn Thành Hiếu.
Trước khi trở thành tân Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, ông Thọ đã trải qua các vị trí công tác.
Cụ thể, từ tháng 4/2021 đến năm 2025, ông là Chủ tịch Hội đồng Đại học Kinh tế Quốc dân.
Từ tháng 6/2020 đến tháng 4/2021, ông giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân.
Từ tháng 6/2019 đến tháng 6/2020, ông Thọ là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (nay là Đại học Kinh tế Quốc dân).
Trước đó, ông đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, Trưởng phòng Quản lí khoa học, Phó trưởng phòng phụ trách Phòng Quản lý Khoa học, Phó Trưởng phòng Quản lí khoa học, giảng viên của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Ông học cao học tại Trường Đại học Boise State, Mỹ, nghiên cứu sinh ngành Hành chính học tại Trường Đại học Kyung Hee, Hàn Quốc.
Trước đó, ông Bùi Đức Thọ cũng là sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tin Gốc: Dân Trí
Giáo Dục
Cuộc thi nghiên cứu KHKT quốc gia: Biến dạng bản chất do 'hành chính hóa'

Tuy nhiên, cuộc thi vẫn còn những vấn đề về tính trung thực và liêm chính khoa học cần có giải pháp hiệu quả.
Trước năm 2012, hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật (KHKT) của học sinh (HS) phổ thông ở VN chủ yếu mang tính phong trào, tự phát, thiếu chuẩn mực khoa học và chưa gắn với chương trình học chính khóa.
Giai đoạn 2009 - 2012, Bộ GD-ĐT bắt đầu tiếp cận mô hình Intel International Science and Engineering Fair (ISEF) thông qua các hội thảo tại Hà Nội và TP.HCM, đồng thời cử HS tham dự với tư cách dự thi độc lập. Bước ngoặt xuất hiện từ năm học 2012 - 2013 khi cuộc thi nghiên cứu KHKT cấp quốc gia chính thức được tổ chức theo mô hình này. Đây không chỉ là sự tiếp thu kỹ thuật tổ chức mà còn là bước đi chiến lược, giúp HS VN tiếp cận sớm với chuẩn mực nghiên cứu quốc tế.
Từ đó, cuộc thi từng bước hoàn thiện với hệ thống lĩnh vực đa dạng, quy trình tuyển chọn 3 cấp (trường, tỉnh, quốc gia) và cơ chế hướng dẫn bài bản.
Từ năm 2022 đến nay, trong bối cảnh triển khai Chương trình GDPT 2018, cuộc thi KHKT ngày càng gắn chặt với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Hoạt động nghiên cứu KHKT trở thành một phương thức học tập, thông qua các dự án học tập (project-based learning).
Do đó, cuộc thi có những giá trị không thể phủ nhận như đã góp phần hình thành văn hóa nghiên cứu trong trường phổ thông - điều vốn thiếu trước đây; tạo ra một sân chơi học thuật có tính hội nhập; góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học và là kênh phát hiện, bồi dưỡng HS có năng khiếu nghiên cứu. Không ít HS trưởng thành từ cuộc thi đã tiếp tục theo đuổi con đường KHKT, trở thành nguồn nhân lực tiềm năng cho tương lai.
Tuy nhiên, cuộc thi vẫn còn những vấn đề bất cập. Trước hết là sự chênh lệch vùng miền. Các trường ở đô thị với cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên tốt có lợi thế rõ rệt, trong khi HS nông thôn, miền núi thiếu thiết bị, thiếu người hướng dẫn và môi trường nghiên cứu. Khoảng cách này ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng của cuộc thi.
Một vấn đề đáng lo ngại khác là hiện tượng làm thay. Không ít đề tài vượt quá khả năng thực tế của HS. Khi giáo viên, phụ huynh hoặc chuyên gia can thiệp quá sâu, ý nghĩa giáo dục bị bóp méo: HS không học cách nghiên cứu mà chỉ trình diễn sản phẩm.
Bên cạnh đó, nhiều đề tài thiếu tính mới, trùng lặp hoặc chạy theo xu hướng to tát để đoạt giải, làm suy giảm tính sáng tạo. Áp lực thành tích cũng khiến cuộc thi ở một số nơi trở thành cuộc đua danh hiệu. Trong khi đó, quy chế đã quy định rõ về liêm chính học thuật. Do vậy vấn đề không nằm ở quy định mà ở việc thực thi và xây dựng văn hóa trung thực. Những trường hợp bị thu hồi giải gần đây cho thấy hệ thống đang tự điều chỉnh, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về sự minh bạch và kiên trì với liêm chính khoa học.
Trước nhiều lùm xùm của cuộc thi nghiên cứu KHKT quốc gia, có ý kiến cho rằng nên bỏ cuộc thi này. Tuy vậy, vấn đề không phải là bỏ hay giữ mà là làm thế nào để trả lại đúng bản chất của nó.
Để làm được điều này, cần tách cuộc thi khỏi áp lực thi đua hành chính. Khi giải thưởng không còn là chỉ tiêu thì động cơ tham gia sẽ trở nên trong sáng hơn. Kế đến, cần chuyển trọng tâm từ sản phẩm sang quá trình. Một dự án chưa hoàn chỉnh nhưng trung thực có giá trị hơn một sản phẩm hoàn hảo nhưng giả tạo.
Cần siết chặt cơ chế kiểm chứng: bắt buộc nhật ký nghiên cứu, yêu cầu cung cấp dữ liệu thô, tăng cường phỏng vấn trực tiếp, mời chuyên gia độc lập phản biện đề tài... Ngoài ra, cũng cần minh bạch hóa vai trò của người hướng dẫn. Giáo viên và chuyên gia chỉ nên đóng vai trò định hướng, không làm thay. Mức độ hỗ trợ cần được quy định rõ ràng, và sự tham gia của các bên liên quan phải được công khai.
Cuối cùng là xây dựng văn hóa liêm chính khoa học trong nhà trường. Khi HS hiểu rằng trung thực quan trọng hơn giải thưởng, thì cuộc thi sẽ tự điều chỉnh lành mạnh.
Cuộc thi không chỉ là sân chơi mà là tấm gương phản chiếu cách chúng ta hiểu giáo dục. Nếu vẫn thi để lấy giải thì mô hình tiên tiến cũng khó hiệu quả. Ngược lại, nếu nuôi dưỡng tinh thần khoa học - trung thực là nền tảng, sáng tạo là mục tiêu - cuộc thi có thể trở thành điểm sáng. Vấn đề cốt lõi không phải HS có gian lận hay không, mà là môi trường đã đủ tốt để không có gian lận.
Trong giáo dục, bất kỳ mô hình nào nếu mất đi niềm tin xã hội đều khó tồn tại lâu dài. Nhưng điều đáng nói là những vụ việc bị phát hiện và xử lý cũng cho thấy hệ thống đang tự điều chỉnh.
Một hệ thống không có sai phạm không phải là hệ thống tốt. Một hệ thống biết phát hiện và sửa sai mới là hệ thống có khả năng phát triển.
Cuộc thi KHKT dành cho HS trung học tại Mỹ, tiêu biểu là Regeneron International Science and Engineering Fair (ISEF), ra đời năm 1950 trong bối cảnh Mỹ đẩy mạnh giáo dục khoa học sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Từ quy mô phong trào, ISEF nhanh chóng phát triển thành sự kiện KHKT lớn nhất thế giới dành cho HS. Sau hơn 70 năm, ISEF trở thành biểu tượng của văn hóa khoa học thế giới.
Tại VN, cuộc thi KHKT cấp quốc gia (ViSEF) được Bộ GD-ĐT triển khai từ năm 2012 dựa trên mô hình ISEF. Từ thí điểm ban đầu, cuộc thi nhanh chóng mở rộng toàn quốc, trở thành sân chơi thường niên và kênh tuyển chọn HS dự thi quốc tế. Như vậy, cùng một mô hình nhưng tại VN lại vấp tranh cãi gian lận, thu hồi giải, niềm tin suy giảm.
Bản thân cuộc thi ViSEF không có lỗi. Tinh thần cốt lõi của các sân chơi này là tạo cơ hội để HS học cách làm khoa học - đặt câu hỏi, hình thành giả thuyết, tiến hành thử nghiệm, phân tích dữ liệu và bảo vệ kết quả của mình trước phản biện. Do đó, cuộc thi không phải là cuộc trình diễn sản phẩm mà là quá trình học tập thông qua nghiên cứu. VN đưa mô hình này vào giáo dục là bước đi đúng. Nhưng giáo dục không phải là câu chuyện của mô hình mà là môi trường học tập và trung thực.
Ở Mỹ, HS tham gia thi phần lớn xuất phát từ đam mê hoặc định hướng nghề nghiệp. Các cuộc thi như ISEF là nơi để các em thử sức, cọ xát, và nếu có thành tích, đó là kết quả tự nhiên của quá trình nghiêm túc. Trong khi đó, tại VN, cuộc thi nhanh chóng được gắn vào hệ thống thi đua. Thành tích của HS không còn là chuyện cá nhân mà trở thành của nhà trường, địa phương, thậm chí liên quan đến đánh giá giáo viên. Khi đó, áp lực không còn nằm ở việc HS học được gì, mà là phải có giải. Và khi có giải trở thành mục tiêu thì mọi phương tiện đều có nguy cơ được biện minh.
Chính sự hành chính hóa này đã làm biến dạng bản chất của cuộc thi. Một sân chơi học thuật bị kéo về logic của phong trào: thi để đạt chỉ tiêu, để đạt thành tích.

