Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 11-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng trong xây dựng văn hóa tiết kiệm, phòng chống lãng phí trên địa bàn thành phố.
Nội dung Chỉ thị số 11 cho biết việc xây dựng văn hóa tiết kiệm là xây dựng ý thức, thái độ, hành vi của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân trong sử dụng thời gian, tài chính, tài sản và các nguồn lực xã hội; hình thành lối sống tiết kiệm, trách nhiệm; góp phần xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh.
Cạnh đó, việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí phải được thực hiện thường xuyên, tự giác, trở thành nếp văn hóa trong hoạt động của hệ thống chính trị và đời sống xã hội.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy tình trạng lãng phí nguồn lực, thời gian, cơ hội phát triển vẫn còn diễn ra ở nhiều lĩnh vực, như quản lý ngân sách, tài sản công, đất đai, đầu tư công, tổ chức hội họp, sử dụng thời gian công vụ, ban hành văn bản…
Ngoài ra, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa tiết kiệm; còn coi đây là nhiệm vụ hành chính, chưa trở thành ý thức tự giác. Việc phát hiện, xử lý hành vi lãng phí còn nể nang, né tránh; chế tài chưa đủ mạnh; văn hóa tiết kiệm chưa thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội.
Trong Chỉ thị số 11, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội yêu cầu quán triệt quan điểm xây dựng và thực hành văn hóa tiết kiệm là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Việc thực hiện phải bảo đảm đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực theo phương châm “6 rõ” (rõ mục tiêu – rõ đối tượng – rõ nội dung – rõ trách nhiệm – rõ lộ trình – rõ kết quả).
Kiên quyết khắc phục tư duy hình thức, né tránh trách nhiệm, “không làm cũng không sai”; coi chậm trễ, thiếu quyết đoán, bỏ lỡ cơ hội phát triển là một dạng lãng phí cần xử lý nghiêm.
Chỉ thị số 11 cũng yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp; rà soát, chuẩn hóa quy trình xử lý công việc theo hướng rút ngắn thời gian, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả; kiểm soát chặt chẽ việc tổ chức hội họp, sử dụng thời gian công vụ; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, tăng tỷ lệ xử lý công việc trên môi trường số.
Chỉ thị số 11 nhấn mạnh việc cần tạo chuyển biến rõ nét trong các lĩnh vực có nguy cơ lãng phí lớn, như: quản lý, sử dụng đất đai, nhất là các dự án chậm triển khai; đầu tư công kéo dài, điều chỉnh nhiều lần; quản lý, sử dụng trụ sở, tài sản công; tổ chức hội nghị, lễ hội, sự kiện sử dụng ngân sách; kỷ luật hành chính và sử dụng thời gian công vụ.
Việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí được xác định là tiêu chí quan trọng trong đánh giá năng lực lãnh đạo, quản lý, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu; là căn cứ trong quy hoạch, bổ nhiệm, thi đua, khen thưởng và kỷ luật cán bộ.
Đặc biệt, người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp nếu để xảy ra lãng phí nghiêm trọng, kéo dài mà không phát hiện, xử lý kịp thời…
Trưa 20.5, ông Nguyễn Viết Thanh, Chủ tịch UBND phường Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) cho biết, hiện cơ quan chức năng đang nỗ lực tìm kiếm nạn nhân mất tích đuối nước khi tắm biển.
Trước đó, khoảng 16 giờ 30 ngày 19.5, hai em P.N.P (12 tuổi) và P.D.T (13 tuổi, đều ở tổ dân phố Long Thạnh 2, phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) trong lúc tắm biển tại khu vực bãi biển thuộc tổ dân phố Long Thạnh 2, phường Sa Huỳnh thì bị đuối nước.
Sau đó, em P.D.T được người dân cứu và đưa vào bờ cấp cứu, còn em P.N.P bị sóng cuốn trôi và mất tích.
Nhận được tin báo, lực lượng Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ Công an tỉnh Quảng Ngãi đã đến hiện trường để tổ chức tìm kiếm nạn nhân.
Lực lượng dân quân thường trực của địa phương cũng tổ chức xuyên đêm tìm kiếm nạn nhân sát bờ biển, nhưng đến trưa 20.5 vẫn chưa tìm thấy em P.
Cây điều (hay còn gọi là đào lộn hột) có nguồn gốc từ Brazil, được du nhập vào miền Nam Việt Nam từ thế kỷ XVIII. Khi bén rễ tại vùng Đồng Nai, loại cây này đã nhanh chóng trở thành cây "xóa đói giảm nghèo" và làm giàu cho người nông dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc S'tiêng ở khu vực tỉnh Bình Phước cũ trước đây.
Từ những vườn cây sinh kế ban đầu, đến nay Đồng Nai đã phát triển thành vùng trồng điều tập trung lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 50% với tổng diện tích gần 175.000 ha.
Danh tiếng của hạt điều nơi đây được tạo nên từ sự ưu đãi tuyệt vời của tự nhiên: vùng đất đỏ bazan phì nhiêu kết hợp với khí hậu đặc trưng của Đông Nam bộ. Đặc biệt, mùa khô kéo dài tại đây trùng khớp hoàn toàn với giai đoạn cây điều ra hoa, kết trái. Cùng với kinh nghiệm canh tác và bí quyết chế biến được tích lũy qua nhiều thế hệ của người dân bản địa, hạt điều Đồng Nai sở hữu một hương vị đặc trưng mà không nơi nào có được.
Về cảm quan, hạt điều Đồng Nai có đặc điểm thân tròn, chắc, mẩy, cuống hạt phình to, bề mặt vỏ cứng sáng bóng với màu trắng sữa hoặc ngà nhẹ.
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, Hội đồng Hạt quốc tế đã đánh giá Bình Phước cũ là vùng có hạt điều "ngon nhất thế giới". Không chỉ chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu protein và chất béo lành mạnh, hạt điều nơi đây còn chinh phục người tiêu dùng nhờ vị đậm đà, giòn rụm và hậu vị ngọt thanh tự nhiên.
Ông Nguyễn Hoàng Đạt, Phó chủ tịch Hiệp hội Điều Đồng Nai, cho biết địa phương không chỉ dẫn đầu về diện tích vùng trồng mà đã trở thành công xưởng chế biến hạt điều của thế giới.
Hiện trên địa bàn thành phố có hơn 1.400 doanh nghiệp chế biến. Trong đó, nhiều đơn vị đã chủ động đầu tư công nghệ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu bài bản và xuất khẩu thành công đến những thị trường khó tính nhất toàn cầu như Mỹ, Trung Quốc, châu Âu…
Sự bứt phá của các doanh nghiệp đã đóng góp lớn vào bức tranh xuất khẩu chung của cả nước. Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong năm 2025, ngành điều Việt Nam đã lập kỷ lục lịch sử với kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 5 tỉ USD.
Trước đó, tháng 5.2018, thương hiệu "Hạt điều Bình Phước" đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý (bao gồm hạt điều nguyên liệu, hạt điều nhân và hạt điều rang muối) trên địa bàn 91 đơn vị cấp xã (toàn bộ thuộc tỉnh Bình Phước cũ).
Việc bảo hộ này có ý nghĩa pháp lý quan trọng nhằm khẳng định chất lượng đặc thù, bảo vệ danh tiếng sản phẩm sau khi sáp nhập địa giới hành chính, đồng thời ngăn chặn tình trạng hàng giả, hàng nhái trôi nổi trên thị trường.
Dù vị thế xuất khẩu liên tục thăng hạng, ngành điều tại Đồng Nai lại đang đối mặt với một nghịch lý lớn: diện tích vùng trồng liên tục sụt giảm mạnh, gây ra tình trạng khan hiếm nguyên liệu thô trong nước.
Số liệu thống kê cho thấy xu hướng sụt giảm rất rõ rệt. Riêng tại khu vực Bình Phước cũ, nếu năm 2020 diện tích cây điều đạt khoảng 170.000 ha thì đến năm 2025 chỉ còn khoảng 152.000 ha.
Hiện tổng diện tích toàn thành phố Đồng Nai khoảng 175.000 ha. Tuy nhiên, theo kế hoạch phát triển cây ăn trái và cây công nghiệp chủ lực của địa phương, dự kiến đến năm 2030, con số này sẽ tiếp tục thu hẹp xuống còn khoảng 163.000 ha.
Nhìn nhận về thực tế này, ông Nguyễn Hoàng Đạt cho biết khoảng 5 năm trở lại đây, người trồng điều gặp quá nhiều áp lực. Thời tiết diễn biến thất thường ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, tỷ lệ vườn điều già cỗi quá lớn, sâu bệnh phức tạp trong khi giá cả thị trường biến động mạnh khiến thu nhập của người dân không ổn định.
"Xu hướng chuyển đổi sang các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn đang diễn ra khá rõ ràng. Điều này tạo áp lực cực kỳ lớn cho ngành điều khi vùng nguyên liệu lớn nhất trong nước đang ngày càng thu hẹp", ông Đạt nhận định.
Cũng theo Phó chủ tịch Hiệp hội Điều Đồng Nai, nguồn nguyên liệu nội địa hiện chỉ đáp ứng được một phần nhỏ công suất các nhà máy, phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu từ châu Phi.
Việc này dù giúp duy trì chuỗi sản xuất nhưng lại đẩy doanh nghiệp vào thế bị động trước rủi ro chất lượng nguyên liệu không đồng đều, chi phí logistics neo ở mức cao và khó kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn đầu vào.
"Về lâu dài, nếu không có chiến lược phục hồi và phát triển vùng nguyên liệu bền vững ngay trong nước, ngành điều Việt Nam sẽ rất khó để xây dựng và duy trì một thương hiệu mạnh, ổn định trên trường quốc tế", ông Đạt bày tỏ lo lắng.
Chiều nay 14.4, UBND phường Nam Đông Hà (Quảng Trị) cho biết đang làm rõ nguyên nhân khiến cá chết bất thường tại một mương thoát nước trên đường Lê Lợi.
Theo ghi nhận của PV Thanh Niên vào chiều cùng ngày, bên dưới một cây cầu bắc qua mương thoát nước trên đường Lê Lợi (người dân địa phương thường gọi là cầu Lê Lợi) xuất hiện hàng trăm con cá chết và trôi nổi theo dòng nước.
Xác cá đang trong quá trình phân hủy, bốc mùi hôi thối và nhiều ruồi nhặng bu bám, gây ô nhiễm môi trường và không khí tại khu vực này.
Theo bà Cao Thị Thảo (58 tuổi, người dân sống cạnh khu vực mương thoát nước), tình trạng này xảy ra cách đây 2 - 3 ngày, cá chết rất nhiều, bốc mùi hôi gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và kinh doanh.
"Tôi sống ở đây lâu rồi, tình trạng cá chết này cũng không phải là lần đầu tiên xảy ra, vài năm trước cũng có và thường xảy ra vào những ngày trời nắng nóng. Xác cá phân hủy bốc mùi hôi thối rất khó chịu, nhà tôi phải đóng cửa suốt ngày tránh mùi hôi và ruồi nhặng bay vào nhà, ảnh hưởng đến sinh hoạt và kinh doanh", bà Thảo nói.
Qua quan sát, nước dưới mương cũng bị ô nhiễm, nước cạn, màu nước đục ngầu cùng nhiều rác thải. Xung quanh khu vực mương thoát nước là khu dân cư với nhiều hàng quán, trường học...
Sau khi nắm được thông tin, UBND phường Nam Đông Hà đã cử cán bộ thuộc Phòng Kinh tế, hạ tầng và đô thị đến kiểm tra, sớm làm rõ nguyên nhân khiến cá chết bất thường tại khu vực này.