Sáng 30/3, chính quyền các xã Đại Thanh và Phú Xuyên (Hà Nội) phối hợp với các lực lượng chức năng bao gồm công an xã, Đội CSGT đường bộ số 8 và Đội CSGT đường bộ số 14 tổ chức hàn, bịt các lối mở dân sinh tự tạo giao cắt tuyến đường sắt Bắc – Nam trên địa bàn.
Cùng với việc đóng kín lối đi tự mở, cơ quan chức năng đã bàn giao chính quyền cơ sở cùng phối hợp quản lý, không để tái phát cũng như xóa tên trong danh mục hồ sơ quản lý lối đi tự mở trên địa bàn.
Theo cảnh sát, nhiều điểm giao cắt qua đường sắt tự phát tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông đã được rào chắn, lắp đặt barie hoặc thu hẹp phạm vi lưu thông.
Tại hiện trường, cảnh sát giao thông trực tiếp phân luồng, hướng dẫn người dân di chuyển qua các đường ngang hợp pháp, đồng thời tuyên truyền, nhắc nhở về nguy cơ tai nạn khi tự ý băng qua đường sắt không đúng quy định.
Trung tá Ngô Duy Quang, Đội trưởng Đội CSGT đường bộ số 8 cho biết, đơn vị này sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị quản lý đường sắt, chính quyền và công an các xã trên địa bàn tổ chức đóng, thu hẹp các lối đi tự phát, nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt cho người dân.
Trao đổi với phóng viên, chỉ huy Đội CSGT đường bộ số 14 cho biết, tính từ ngày 9/3 đến nay, đơn vị này đã phối hợp bịt kín 16 lối đi tự mở và gia cố 6 lối đi tự mở khác trên tuyến đường sắt đi qua địa bàn.
“Động thái quyết liệt của lực lượng CSGT và các ngành chức năng, chính quyền cơ sở hướng đến mục tiêu cao nhất đảm bảo an toàn, tính mạng cho người dân. Trong thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục phối hợp với chính quyền cơ sở rà soát, kiên quyết xóa bỏ những lối mở tự phát tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông”, vị chỉ huy nói.
Mới đây vào tối 27/3, tại khu vực đường ngang giao cắt với đường sắt trên địa bàn xã Thượng Phúc (Hà Nội) xảy ra vụ tai nạn đường sắt khiến 2 nữ sinh viên đại học ở Hà Nội tử vong. Theo thông tin ban đầu, hai cô gái điều khiển xe máy khi băng qua đường ngang đã va chạm với đoàn tàu đang di chuyển.
Cơ quan chức năng khuyến cáo, người dân tuyệt đối không tự ý mở lối đi qua đường sắt hoặc băng qua tại các điểm giao cắt trái phép, chỉ di chuyển tại các đường ngang hợp pháp có đầy đủ hệ thống cảnh báo. Khi qua đường sắt, cần quan sát kỹ, tuân thủ tín hiệu đèn, chuông, barie và hướng dẫn của lực lượng chức năng.
Thời Sự
Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội: Báo chí nâng đỡ 'mầm xanh' nông nghiệp, thúc đẩy thành xu hướng

Tại buổi làm việc ngày 17-5, ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho rằng để nông nghiệp Việt Nam có hình hài mới và tạo ra giá trị trong tương lai, trước hết cần mở rộng "không gian tư duy nông nghiệp".
Theo ông, lâu nay cách nhìn về nông nghiệp vẫn bị "neo" vào tư duy sản xuất, tức chủ yếu tập trung vào năng suất, sản lượng, kỹ thuật canh tác, mùa vụ và các chính sách hỗ trợ để làm ra nhiều hơn.
Áp lực tăng sản lượng khiến nhiều ngành hàng thường chỉ quan tâm trồng bao nhiêu, thu hoạch bao nhiêu, xuất khẩu bao nhiêu, trong khi chưa chú ý đúng mức đến giá trị gia tăng phía sau sản phẩm.
Ông Hoan cho rằng tư duy sản xuất lấy sản lượng làm mục tiêu, còn tư duy kinh tế nông nghiệp phải lấy giá trị gia tăng làm trung tâm.
Một trái sầu riêng, trái xoài hay trái bưởi không chỉ có giá trị ở phần sản phẩm vật chất, mà còn có thể gắn với câu chuyện vùng trồng, văn hóa bản địa, du lịch nông nghiệp, trải nghiệm tiêu dùng, truy xuất nguồn gốc và niềm tin thị trường.
Dẫn ví dụ từ Thái Lan, ông Hoan nói khi phát triển ngành hàng sầu riêng, họ không chỉ nghĩ đến sản xuất và xuất khẩu trái sầu riêng. Họ còn phát triển du lịch sầu riêng, lễ hội sầu riêng, kể câu chuyện người làm vườn, vùng trồng và xây dựng hệ sinh thái dịch vụ xoay quanh sản phẩm.
Theo ông, đây là cách một nông sản được nâng lên thành một không gian kinh tế - văn hóa, thay vì chỉ là mặt hàng mua bán thông thường. Khi cạnh tranh với sầu riêng Thái Lan, Việt Nam không chỉ cạnh tranh với một trái sầu riêng, mà cạnh tranh với cả một hệ sinh thái đã được tổ chức, định vị và truyền thông bài bản.
Từ đó, ông đặt vấn đề nông nghiệp Việt Nam cần vượt qua tư duy "chuỗi ngành hàng" tuyến tính, vốn thường đi theo đường thẳng nông dân sản xuất, thương lái thu mua, doanh nghiệp chế biến, hệ thống phân phối bán ra thị trường.
Một điểm được ông Lê Minh Hoan lưu ý là vai trò của truyền thông trong việc tạo dựng niềm tin thị trường và thúc đẩy chuyển đổi xanh.
Theo ông, khi báo chí sử dụng những cụm từ như "rớt giá thê thảm", "đổ đống", "giải cứu", hiệu ứng tâm lý có thể khiến nông dân hoảng sợ bán tháo, người mua chờ giá xuống, doanh nghiệp chậm thu mua, từ đó làm giá giảm nhanh hơn.
Ông cho rằng nói như vậy không có nghĩa là né tránh sự thật. Báo chí vẫn cần phản ánh khó khăn, nhưng cần đi xa hơn việc chỉ kể một câu chuyện buồn. Truyền thông cần mở ra lời giải, chỉ ra mô hình mới, giới thiệu người làm tốt, gợi ý cách tổ chức lại thị trường, thay vì lặp lại vòng xoáy bi quan.
Theo ông Hoan, báo chí không chỉ phản ánh hiện thực mà còn có thể kiến tạo niềm tin, mở ra hình dung mới và giúp xã hội nhìn nông nghiệp bằng một tâm thế tích cực hơn.
Những mô hình nhỏ, những "mầm xanh" nếu được nhìn thấy, nâng đỡ và truyền cảm hứng có thể lớn lên thành xu hướng.
Ông Hoan nhấn mạnh, muốn có sản phẩm xanh thì phải có người tiêu dùng xanh. Không thể chỉ yêu cầu nông dân sản xuất sạch, doanh nghiệp chế biến xanh hay logistics xanh, trong khi thị trường không sẵn sàng trả giá cho những nỗ lực đó.
Khi người tiêu dùng hiểu rằng mua sản phẩm xanh là góp phần bảo vệ môi trường, hỗ trợ sinh kế nông dân và thúc đẩy một nền nông nghiệp tử tế hơn, sản phẩm xanh mới có không gian sống thực sự.
Cũng tại buổi làm việc, ông Hoan cho rằng trước đây người Việt tin hàng Việt, nay cần làm sao để thế giới tin hàng Việt.
Muốn vậy, nông nghiệp Việt Nam không chỉ xuất khẩu sản phẩm mà cần hướng tới xuất khẩu cả hệ sinh thái, từ chất lượng, tiêu chuẩn, câu chuyện vùng trồng đến niềm tin của người tiêu dùng.
Theo ông, hệ thống siêu thị, các kênh phân phối và không gian tiêu dùng cần tạo chỗ đứng cho sản phẩm xanh.
Khi đó, hệ sinh thái ngành hàng mới có thể chuyển dần thành hệ sinh thái xanh, trong đó người sản xuất, doanh nghiệp, nhà phân phối, truyền thông và người tiêu dùng cùng tham gia tạo giá trị.
Trong chương trình làm việc, ông Lê Minh Hoan cùng đoàn chuyên gia nông nghiệp đã tham quan tòa soạn hội tụ và trung tâm chuyển đổi số của báo Tuổi Trẻ.
Tại đây, ông bày tỏ ấn tượng với nhịp độ làm việc, cách tổ chức sản xuất nội dung trên nhiều nền tảng, từ báo điện tử, mạng xã hội đến video, podcast.
Ông cho rằng đây là xu hướng cần thiết của báo chí hiện đại, giúp thông tin chính xác, kịp thời tiếp cận đông đảo bạn đọc.
Với hệ sinh thái truyền thông số, báo Tuổi Trẻ có thêm lợi thế để lan tỏa các chủ đề lớn như nông nghiệp xanh, tiêu dùng xanh và phát triển bền vững. Đoàn cũng tham quan khu làm việc, phòng quay và phòng podcast của báo Tuổi Trẻ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Thảo luận tại tổ về dự án luật sửa đổi 4 luật về thuế chiều 21.4, nhiều đại biểu Quốc hội đề xuất cơ chế phát triển mạng lưới trạm sạc xe điện, từ đó tăng cơ hội tiếp cận của người dùng, mở rộng thị trường xe điện.
Đại biểu Trần Thị Hải Hà (đoàn Hải Phòng) ủng hộ việc kéo dài thời gian ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt với xe gắn động cơ dưới 24 chỗ chạy bằng pin đến hết năm 2030. Bà kỳ vọng đây sẽ là giải pháp khuyến khích sử dụng xe điện, phù hợp với chủ trương về tăng trưởng xanh, chuyển đổi năng lượng, giảm phát thải nhà kính và bảo vệ môi trường.
Nữ đại biểu cũng đề cập đến một vấn đề rất quan trọng, đó là mạng lưới trạm sạc xe điện. Theo bà Hải Hà, doanh nghiệp xây dựng hệ thống trạm sạc riêng là thành quả của sự đầu tư mạo hiểm và lợi thế cạnh tranh cốt lõi. Do đó, không thể yêu cầu một doanh nghiệp đã đổ hàng nghìn tỉ đồng vào hạ tầng phải mở cửa ngay lập tức mà không có cơ chế bảo vệ lợi ích thỏa đáng.
Song, đại biểu đoàn Hải Phòng cho rằng, việc doanh nghiệp tự đầu tư trạm sạc xe điện mà không chia sẻ sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư, chi phí vận hành và mặt bằng đất đai. Do vậy, rất cần có sự can thiệp của Nhà nước vào định hướng quy hoạch phát triển kinh doanh trạm sạc.
Bà Hải Hà kiến nghị Chính phủ nên có giải pháp để khuyến khích chuyển sang mô hình mở có lộ trình và điều kiện với doanh nghiệp sở hữu hạ tầng trạm sạc xe điện lớn, thay vì đóng hoàn toàn.
Chẳng hạn, khách hàng của hãng đầu tư trạm sạc xe điện sẽ được hưởng giá ưu đãi và quyền ưu tiên sử dụng sạc, trong khi các hãng khác muốn được chia sẻ trạm sạc thì phải trả mức phí cao hơn để bù đắp chi phí đầu tư, vận hành cho hãng đã đầu tư.
"Chính phủ cần có khung pháp lý để khuyến khích doanh nghiệp xem xét cơ chế "roaming" (chuyển vùng) giống như ngành viễn thông. Nghĩa là người dùng có thể sử dụng dịch vụ tại bất kỳ điểm sạc nào, các doanh nghiệp sẽ được đảm bảo quyền lợi tài chính thông qua sự kết nối của Nhà nước", nữ đại biểu nêu.
Cùng quan điểm, đại biểu Phạm Thu Xanh (đoàn Hải Phòng) cho rằng rào cản chính với xe điện không hẳn nằm ở thuế mà là ở hạ tầng trạm sạc.
Hiện nay, trạm sạc xe điện tập trung chủ yếu ở các đô thị và phụ thuộc vào một số doanh nghiệp lớn. Ở các địa phương, người dân không có điều kiện lắp sạc tại nhà, đặc biệt là ở các chung cư hoặc những khu phố nhỏ. Do vậy, nhiều người lo lắng xe bị hết pin dọc đường và không dám mua xe.
Vấn đề nữa là tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn, chưa có các tiêu chuẩn về trạm sạc như công suất kết nối, quy chuẩn về PCCC đối với xe điện, hoặc những quy định xử lý sự cố pin. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều chung cư không cho phép sạc pin, gây khó khăn cho những người sống tại chung cư hoặc khu phố nhỏ. Cạnh đó, hệ sinh thái sử dụng, giá điện sạc, thời gian sạc và chi phí thay pin vẫn còn rất cao.
Nữ đại biểu kiến nghị Chính phủ quan tâm phát triển quy hoạch tổng thể, đẩy mạnh xã hội hóa việc đầu tư trạm sạc xe điện và từng bước mở rộng ra ngoài đô thị thay vì tập trung quá nhiều ở trung tâm. Điều này giúp tăng khả năng tiếp cận và tạo động lực cho người dân mua xe điện.
Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể về quy chuẩn trạm sạc xe điện và an toàn PCCC trong các khu dân cư để tạo sự yên tâm cho người sử dụng.
Bà Thu Xanh cũng đề nghị có chính sách xây dựng giá điện phù hợp cho việc sạc xe điện, phát triển các dịch vụ bảo dưỡng và thay thế pin; ưu tiên đối với các loại xe điện công cộng, taxi, xe du lịch… tạo hiệu quả lan tỏa về môi trường.
Tin Gốc: Thanh Niên

TS Nguyễn Linh Giang, Phó viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nhận định xu hướng lao động chọn ngắt kết nối sau giờ làm việc cho thấy sự thay đổi lớn trong nhận thức về thời giờ làm việc - nghỉ ngơi. Xu hướng này nên được nhìn nhận là người lao động đang tự bảo vệ quyền lợi trong bối cảnh công nghệ số, đặc biệt lao động trẻ - những người ngày càng coi trọng ranh giới công việc và đời sống cá nhân.
"Công nghệ khiến lao động phải phản hồi công việc bất kể thời điểm, cuối tuần, nghỉ phép, giống như thời gian làm việc đang bị kéo dài một cách khó dự đoán", bà nhận định.
Nhưng làm việc trên nền tảng số sau tan ca, ngoài văn phòng lại không thể đo lường, không được tính là giờ làm thêm nên không có chế độ hay được trả tiền. Nhiều lao động trước đây coi phản hồi ngay lập tức yêu cầu công việc là biểu hiện của tinh thần trách nhiệm, nay ngắt kết nối không phải suy giảm trách nhiệm mà là nghỉ ngơi hợp lý để duy trì năng suất lao động bền vững.
Bà Giang cho biết Việt Nam chưa có quy định cụ thể về quyền được ngắt kết nối (right to disconnect), song nhiều nước đã ghi nhận và luật hóa quyền này. Khái niệm quyền được ngắt kết nối xuất hiện trên thế giới khoảng 20 năm trước, được thảo luận sôi nổi thời kỳ hậu đại dịch. Khi làm việc trực tuyến, từ xa linh hoạt, hiệu quả song cũng đẩy người lao động vào tình huống có thể làm việc mọi lúc, mọi nơi, khi đã hết giờ. Ranh giới "công việc linh hoạt" vì thế dễ biến thành "không biên giới".
Quyền ngắt kết nối được ghi nhận đầu tiên tại Pháp, khi nước này sửa đổi Bộ luật Lao động vào năm 2016. Sau đó, nhiều quốc gia khác đã pháp điển hóa quyền này trong các văn bản pháp luật như Italy, Tây Ban Nha, Phillipines, Ireland, một số bang ở Mỹ và Canada...
TS Giang lưu ý các quốc gia không tiếp cận quyền này như sự cấm đoán tuyệt đối với việc liên lạc người lao động ngoài giờ, nhưng coi đây là cơ chế bảo vệ lao động trước sự lạm dụng thời gian làm việc trong môi trường số. Quyền này những năm tới sẽ tiếp tục xuất hiện trong sáng kiến lập pháp, dự luật liên quan.
"Cách thế giới áp dụng gợi mở cho Việt Nam về các yếu tố đưa quyền ngắt kết nối vào Bộ luật Lao động sửa đổi sắp tới, trong bối cảnh nhiều hoạt động được thực hiện trực tuyến, quản trị qua nền tảng số", bà nói.
Chuyên gia gợi ý ngắt kết nối có thể được xem là một quyền độc lập nhưng cũng có thể là sự bổ sung cho quyền được nghỉ ngơi của người lao động trong môi trường số. Song song với việc ghi nhận quyền ngắt kết nối là các quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động tôn trọng thời gian nghỉ ngơi, đời sống riêng tư của lao động. Trường hợp bất khả kháng nếu yêu cầu lao động làm việc thêm giờ trên các nền tảng số thì cần tính toán chế độ tiền lương phù hợp.
Để hài hòa hai phía, chính sách nếu đưa vào pháp luật lao động nên được thiết kế theo hướng mềm dẻo nhưng rõ ràng để đảm bảo quyền lợi lao động nhưng cũng đáp ứng yêu cầu vận hành của cơ quan, doanh nghiệp, nhất là công việc đặc thù. Cụ thể, cần coi việc ngắt kết nối sau giờ hành chính là quyền của người lao động. Sau thời gian này, họ không có nghĩa vụ phải phản hồi liên lạc về công việc. Nếu không hồi đáp, họ không bị xem là vi phạm kỷ luật hay chịu đánh giá bất lợi về tinh thần trách nhiệm.
Với tình huống bất khả kháng hoặc công việc đặc thù như y tế, báo chí, công nghệ thông tin, dịch vụ khẩn cấp... khi làm thêm giờ trên nền tảng số thì cơ quan, doanh nghiệp cần thỏa thuận trước với lao động về cơ chế làm thêm, trực ngoài giờ và có chế độ tiền lương phù hợp.
Theo TS Giang, một số công ty trên thế giới đã cài hệ thống trả lời tự động tại hòm thư của nhân viên. Khi lao động đi nghỉ phép, hệ thống tự động thông báo cho người gửi biết và thông tin về thời gian họ trở lại. Một số nơi còn cài phần mềm tự động xóa thư, chuyển tiếp cho người khác giải quyết và báo lại với người gửi về hành động này, yêu cầu họ gửi lại sau kỳ nghỉ phép của nhân viên.
Tại Việt Nam, lao động làm việc trong một số tập đoàn, tổ chức phi chính phủ sử dụng hòm mail cơ quan, khi nghỉ phép cũng có cơ chế trả lời tự động như trên. Song việc này vẫn chưa phổ biến tại nhiều cơ quan, doanh nghiệp.
"Nhiều chủ sử dụng lao động vẫn mặc nhiên giao việc khi nhân viên đi nghỉ khiến họ phải kiểm tra email, điện thoại đều đặn, thậm chí yêu cầu cam kết giải quyết công việc đầy đủ trong thời gian nghỉ phép", bà cho biết, thêm rằng ngay cả khi luật chưa quy định, nhân viên vẫn có quyền ngắt kết nối thông qua các thỏa ước lao động tập thể hoặc đàm phán hợp đồng với chủ sử dụng.
Chung quan điểm, bà Nguyễn Thị Việt Nga, đại biểu kiêm nhiệm thuộc Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, nhận định công nghệ, quá trình số hóa đang làm thay đổi sâu sắc thị trường lao động, từ tuyển dụng đến quản lý, đánh giá năng suất. Quyền lợi người lao động không còn dừng ở tiền lương, bảo hiểm xã hội truyền thống mà còn liên quan giờ làm việc, nghỉ ngơi trong môi trường số. Công nghệ tạo ra thay đổi nhưng dễ khiến lao động không có giờ tan ca thực sự.
"Kết nối với công việc 24h/7 không nên trở thành một trạng thái thường trực mới của người lao động", bà nói, đồng tình quan điểm cơ quan quản lý nghiên cứu đưa "quyền ngắt kết nối" vào quá trình sửa đổi pháp luật lao động sắp tới.
Theo bà Nga, quyền này cho phép lao động từ chối tham gia các công việc ngoài giờ quy định mà không bị xem là vi phạm kỷ luật hay chịu đánh giá bất lợi. Hết giờ làm, họ có quyền tách khỏi công việc để dành thời gian cho đời sống cá nhân, gia đình. Quyền ngắt kết nối bao gồm việc không bắt buộc trả lời email, điện thoại ngoài giờ. Đồng thời, có cơ chế bảo vệ lao động khi không phản hồi công việc vào cuối tuần, nghỉ lễ, nghỉ phép. Doanh nghiệp không được gây áp lực hay mặc định nhân sự phải trực tuyến liên tục.
Nữ đại biểu cho rằng có thể xây dựng nguyên tắc chung về quyền ngắt kết nối nhưng cần linh hoạt theo lĩnh vực, tính chất công việc. Bởi một số ngành đặc thù khó ngắt kết nối hoàn toàn khi phát sinh tình huống khẩn cấp. Điều này đảm bảo cho doanh nghiệp, cơ quan vận hành bình thường, dịch vụ không bị gián đoạn.
Song bà cũng nhấn mạnh ngắt kết nối không đồng nghĩa chủ sử dụng lao động bị cấm liên hệ trong trường hợp đặc biệt, cũng không cho phép lao động mặc kệ hay phớt lờ các tình huống cấp bách liên quan tính mạng con người, lợi ích tập thể. "Quyền ngắt kết nối không phủ nhận trách nhiệm nghề nghiệp hay nghĩa vụ đặc thù mà nhằm ngăn trạng thái lao động thường trực 24h/7 với công việc trở thành điều bình thường mới", bà cho hay.
Những lo ngại quyền ngắt kết nối khiến lao động lười biếng, giảm năng suất khá phổ biến ở các nền kinh tế có cường độ lao động cao như Việt Nam, theo bà Nga. Song nữ đại biểu cũng đặt vấn đề "nếu không có giới hạn rõ ràng, việc phải phản hồi công việc mọi lúc mọi nơi có thực sự cải thiện năng suất?".
Cho nên cần phân biệt giữa làm việc hiệu quả và luôn trực tuyến. Tâm lý trả lời tin nhắn bất kể thời điểm là trách nhiệm cao, online liên tục là chăm chỉ, phản hồi lập tức là hiệu quả đang ngày càng phổ biến. Nhưng trực tuyến liên tục không đồng nghĩa năng suất cao. Quá tải kéo dài với lao động chân tay hay trí óc đều làm giảm sáng tạo, tăng sai sót, trong khi người có thời gian nghỉ ngơi và cân bằng cuộc sống thường đạt hiệu quả tốt hơn. Chính sách nếu được thiết kế phù hợp ngược lại có thể tăng năng suất và giữ chân lao động lâu dài.
TS Nguyễn Linh Giang đồng tình quy định liên quan quyền ngắt kết nối thúc đẩy văn hóa lao động lành mạnh và văn minh. Cơ quan, doanh nghiệp có thể dựa vào để xây dựng quy chế nội bộ về liên lạc công việc ngoài giờ, hạn chế gửi email, yêu cầu họp online ngoài giờ làm việc. Đồng thời, đánh giá nhân sự dựa trên hiệu quả công việc thay vì "tinh thần phục vụ" mọi lúc, mọi nơi, online liên tục.
Theo lộ trình, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10/2026 theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Tin Gốc: Vnexpress

