Ngày 2.4, Bộ Tư pháp tổ chức hội thảo “Sửa đổi luật Thủ đô: Kiến tạo thể chế, không gian phát triển vượt trội cho TP.Hà Nội”.
Phát biểu tại đây, ông Nguyễn Hải Nam, Hiệu trưởng Trường đại học Dược Hà Nội, bày tỏ đồng tình với các đề xuất theo hướng tăng thẩm quyền cho TP.Hà Nội, nhằm tạo hành lang ưu thế để phát triển.
Tuy vậy, vị hiệu trưởng còn băn khoăn xung quanh một số nội dung liên quan đến lĩnh vực giáo dục – đào tạo.
Theo dự thảo, chủ tịch UBND TP.Hà Nội có thẩm quyền quyết định thành lập trường đại học công lập do thành phố quản lý, cho phép thành lập trường đại học tư thục, trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài, liên kết đào tạo với cơ sở nước ngoài.
Ông Nam đặt vấn đề quy định như trên có cần thiết hay không, bởi điều này liên quan đến quy hoạch các trường đại học trong toàn quốc.
Vị hiệu trưởng cho hay, TP.Hà Nội hiện chỉ có 1 trường đại học công lập do thành phố quản lý (Trường đại học thủ đô Hà Nội) và một số trường cao đẳng.
“Nếu chủ tịch thành phố có thẩm quyền như dự thảo, liệu có dẫn tới tình trạng Hà Nội sẽ có quá nhiều trường đại học hay không, trong khi tinh thần hiện nay đang hướng tới tinh gọn và giảm bớt các đầu mối, để thành lập các trường đại học quy mô lớn”, ông Nam nói.
Vẫn theo vị hiệu trưởng, Hà Nội đã và đang có rất nhiều trường đại học nổi tiếng, hàng đầu trong nhiều lĩnh vực như Bách khoa, Kinh tế quốc dân, Ngoại thương, Y Hà Nội và Dược Hà Nội…
Thành phố nên tận dụng và hợp tác với các trường này để phục vụ sự phát triển của thủ đô, không nhất thiết phải thành lập riêng các trường mới ở tất cả các lĩnh vực, dẫn đến lãng phí nguồn lực của Hà Nội nói riêng và quốc gia nói chung.
Phản hồi sau đó, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu nói “rất chia sẻ” với quan điểm của ông Nam.
Theo thứ trưởng, Hà Nội hiện có sẵn nhiều trường đại học uy tín. Vì thế, việc thành lập thêm trường mới hay mở rộng thẩm quyền thành lập cho UBND TP.Hà Nội cần được cân nhắc kỹ lưỡng.
Ông Hiếu nói từng có thời gian chúng ta chạy theo thương mại hóa hoạt động giáo dục – đào tạo, cho thành lập rất nhiều trường đại học, và dẫn tới những hệ lụy nhất định.
Do đó, nếu có chính sách phù hợp thì Hà Nội hoàn toàn có thể thu hút nguồn lực chất lượng cao từ các cơ sở đào tạo sẵn có trên địa bàn, thay vì xây dựng một trường mới cần tới vài chục năm “mới có thể có những sản phẩm chất lượng đầu tiên”.
Dự thảo luật Thủ đô còn đề xuất UBND TP.Hà Nội quy định về yêu cầu, điều kiện, hồ sơ quản lý, biện pháp bảo vệ, trùng tu, tôn tạo, cải tạo, cơ chế hợp tác công – tư trong quản lý, khai thác, sử dụng công trình kiến trúc có giá trị.
Góp ý nội dung này, ông Nguyễn Hải Nam kiến nghị bổ sung theo hướng “bảo tồn trên cơ sở giá trị sử dụng gốc”.
Hiệu trưởng Trường đại học Dược Hà Nội dẫn chứng thời gian qua quy hoạch thủ đô có đề xuất di dời Trường đại học Dược Hà Nội cùng một số công trình để làm bảo tàng. Đề xuất này nhận được sự quan tâm của rất đông trí thức và sinh viên. Nhiều ý kiến mong muốn bảo tồn giá trị sử dụng gốc của công trình, chứ không di dời.
Theo ông Nam, rất nhiều trường đại học trên thế giới vẫn duy trì cơ sở gốc trong nội đô, song song với việc mở cửa như bảo tàng, vì đó chính là “linh hồn” của thủ đô.
Do đó, ông đề nghị bổ sung thêm ý “trên cơ sở giá trị sử dụng gốc”, để vừa duy trì hoạt động của trường, vừa bảo tồn di sản và phát huy giá trị phục vụ thủ đô.
Hôm nay 4.6, Bộ GD-ĐT đã đăng tải để lấy ý kiến góp ý dự thảo nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của đại học quốc gia. Dự thảo nghị định nếu được thông qua sẽ chính thức thay thế Nghị định số 201/2025/NĐ-CP ngày 11.7.2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của đại học quốc gia.
Về cơ bản, dự thảo nghị định có nội dung tương đồng với Nghị định số 201, chỉ có 2 nét khác biệt lớn là bỏ thiết chế hội đồng đại học và làm rõ thẩm quyền bổ nhiệm nhân sự lãnh đạo của đại học quốc gia.
Cụ thể, dự thảo nghị định mới lược bỏ hoàn toàn các quy định liên quan đến "hội đồng đại học quốc gia". Các nội dung về việc báo cáo bổ nhiệm, miễn nhiệm chủ tịch hội đồng đại học quốc gia, hay việc trình Bộ GD-ĐT công nhận, bổ sung, thay thế thành viên hội đồng đều đã được rút khỏi dự thảo.
Theo Bộ GD-ĐT, nguyên nhân của sự thay đổi này xuất phát từ khoản 1 Điều 15 luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 quy định: trong cơ cấu tổ chức của các cơ sở giáo dục đại học công lập sẽ không còn hội đồng đại học và hội đồng trường.
Đặc biệt, dự thảo nghị định mới tách bạch thẩm quyền bổ nhiệm giám đốc và phó giám đốc đại học quốc gia. Theo Nghị định 201, Bộ GD-ĐT trình Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm cả giám đốc và phó giám đốc. Còn dự thảo mới đã phân định rõ ràng thẩm quyền đối với từng chức danh.
Đối với chức danh giám đốc đại học quốc gia, đại học quốc gia sẽ báo cáo Bộ GD-ĐT, Bộ GD-ĐT trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cho thôi giữ chức vụ, điều động, thuyên chuyển. Còn đối với chức danh phó giám đốc đại học quốc gia, đại học quốc gia sẽ cáo Bộ GD-ĐT, sau đó Bộ GD-ĐT xem xét, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động chức danh này.
Theo Bộ GD-ĐT, có sự phân cấp này là để tuân thủ nghiêm ngặt khoản 3 Điều 16 luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15.
Ngoài ra, dự thảo nghị định mới cũng có một số thay đổi nhằm chuẩn hóa các thuật ngữ quản lý tài chính, tài sản. Ví dụ, cụm từ chung chung "đơn vị thành viên" trong các quy định về phân bổ ngân sách, phê duyệt phương án tự chủ tài chính hay phục vụ công tác thanh kiểm tra ở Nghị định 201 đã được thay thế chính xác bằng "trường đại học thành viên, viện nghiên cứu thành viên".
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo - cho biết Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trình Chính phủ dự thảo nghị định quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Dự kiến chính sách mới sẽ được áp dụng từ ngày 1-9-2026.
Theo ông Thảo, tuyển sinh đại học năm 2026 sẽ có những chính sách mới hỗ trợ người theo học các nhóm ngành STEM. Hiện Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trình Chính phủ dự thảo nghị định quy định chính sách học bổng cho người theo học nhóm ngành này.
Mục tiêu của chính sách không chỉ dừng ở hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt cho người học, mà quan trọng hơn là tạo động lực đủ mạnh để thu hút và giữ chân người học giỏi theo đuổi các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược - những lĩnh vực có vai trò quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia.
Chính sách học bổng dự kiến được áp dụng cho công dân Việt Nam đang theo học hệ chính quy, từ sinh viên cử nhân, kỹ sư đến học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh tiến sĩ.
Có hai nhóm được xem xét hỗ trợ học bổng. Thứ nhất, các thí sinh đoạt giải nhất, nhì, ba trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hoặc quốc tế (thời gian đoạt giải không quá 3 năm).
Nhóm thứ hai, các thí sinh có tổng điểm thi tốt nghiệp trong tổ hợp xét tuyển gồm môn toán và hai môn trong số bốn môn lý, hóa, sinh, tiếng Anh từ 22,50 điểm trở lên (không tính điểm ưu tiên, điểm cộng, không tính điểm quy đổi môn tiếng Anh nếu thí sinh sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ để miễn thi tốt nghiệp).
Bên cạnh đó, nhóm thí sinh thứ hai cũng phải bảo đảm nằm trong nhóm 30% thí sinh đạt điểm trúng tuyển cao nhất cùng nhóm ngành trên phạm vi toàn quốc.
Để duy trì học bổng trong toàn khóa, người học phải đáp ứng các yêu cầu về kết quả học tập, tiến độ tích lũy tín chỉ, kỷ luật học tập. Đối với bậc sau đại học, là năng lực nghiên cứu khoa học.
Theo ông Thảo, danh mục nhóm ngành đề xuất được cấp học bổng dự kiến gồm 15 nhóm ngành gồm: sinh học, sinh học ứng dụng, khoa học vật chất, khoa học Trái đất, toán học, thống kê, máy tính, công nghệ thông tin, kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật, kỹ thuật điện - điện tử và viễn thông, kỹ thuật hóa học - vật liệu - luyện kim và môi trường, vật lý kỹ thuật, kỹ thuật địa chất - địa vật lý và trắc địa, kỹ thuật mỏ, xây dựng.
Ông Thảo cũng lưu ý tổ hợp xét tuyển của 3 môn thi tốt nghiệp phải nằm trong số 5 môn (toán, lý, hóa, sinh, tiếng Anh) mới đạt điều kiện nhận học bổng. Các tổ hợp khác ngoài 5 môn này nếu xét tuyển vào nhóm ngành trên sẽ không được nhận học bổng.
Các mức học bổng dự kiến chia theo bậc học và nhóm ngành. Ở bậc đại học, mức hỗ trợ dao động từ khoảng 3,7 triệu đến 5,5 triệu đồng/tháng; ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ, mức hỗ trợ cao hơn, tối đa lên tới 8,4 triệu đồng/tháng.
"Đây là mức học bổng giúp bạn sinh viên đủ sinh hoạt phí khi theo học các chương trình đào tạo. Chính sách học bổng cũng thiết kế theo cấu trúc tăng dần theo trình độ đào tạo, phản ánh đúng yêu cầu về năng lực nghiên cứu và đóng góp của người học.
Ngoài ra việc xét và chi trả học bổng được thực hiện trên cơ sở dữ liệu sẵn có khi thí sinh đăng ký xét tuyển đại học, không phát sinh thủ tục hành chính cho người học, bảo đảm công khai, minh bạch và hiệu quả", ông Thảo nói.
Trong bảng xếp hạng đại học châu Á 2026 của THE cuối tháng trước, Đại học Công nghệ Petronas leo lên 8 bậc để đứng ở vị trí thứ 35. Đây là thứ hạng cao nhất mà một đại học ở Malaysia đạt được trong 10 năm qua ở bảng này.
Tổng cộng, Malaysia có 27 trường được xếp hạng, gấp ba lần so với năm 2017. Sáu trường vào top 100, trong khi ở các năm trước chỉ có 1-4 đại diện.
THE đánh giá Malaysia có thành tích nổi bật tại khu vực Đông Nam Á. Phil Baty, Giám đốc phụ trách các vấn đề toàn cầu của THE, nói nước này có những bước tiến lớn.
"Malaysia ngày càng trở thành một cường quốc giáo dục đại học quan trọng, không chỉ ở châu lục mà còn trên toàn thế giới", ông nói.
Chuyên gia dữ liệu của THE, Catherine Tushabe, đánh giá mức tăng điểm trung bình của các đại học Malaysia "cao hơn nhiều" so với mức trung bình toàn cầu. Mặc dù không phải tất cả trường đều tăng thứ hạng, nhưng đà tăng trưởng này góp phần giúp các đại diện từ Malaysia hiện diện trong top cao.
Xu hướng này cũng tương đồng với bảng xếp hạng châu Á 2026 của QS, công bố cuối năm ngoái. Tiêu biểu là Đại học Malaya - ngôi trường từng xếp hạng 9 vào năm 2023, và duy trì trong top 20. Từ 36 trường, đến nay 49 trường của Malaysia được QS xếp hạng, số vào top 100 tăng từ 8 lên 10.
Hai bảng xếp hạng THE và QS có điểm tương đồng là chất lượng và danh tiếng học thuật (nghiên cứu, giảng dạy, bài báo khoa học) chiếm trọng số cao. Cùng đó là các tiêu chí liên quan yếu tố quốc tế (hợp tác chuyển giao, sinh viên).
Nhìn chung, ở top 30 của cả hai bảng, các trường của Malaysia chỉ xếp sau một số trường hàng đầu từ Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Ông Gerard A. Postiglione, giáo sư chủ nhiệm khoa Giáo dục tại Đại học Hong Kong, đánh giá sự tiến bộ của Malaysia do học hỏi từ hàng xóm Singapore và tận dụng lợi thế dân số đông để trở thành đối tác ASEAN lớn nhất của Trung Quốc trong các dự án giáo dục xuyên quốc gia (TNE).
Còn theo James Chin, giáo sư nghiên cứu châu Á tại Đại học Tasmania, thành tích của Malaysia là nhờ nỗ lực định vị quốc gia như một trung tâm giáo dục trong khu vực, các trường tư thục tập trung (như Đại học Công nghệ Petronas, Sunway) vào việc cải thiện thứ hạng.
"Điểm mạnh của hệ thống là các trường đại học tư thục đang hoạt động rất tốt, họ coi trọng việc xếp hạng", ông cho hay.