Tại Quyết định số 698, Thủ tướng Chính phủ quyết định kéo dài thời gian giữ chức vụ đến hết tuổi phục vụ tại ngũ đối với trung tướng Phạm Đức Duyên, Chính ủy Quân khu 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 11.5.
Trung tướng Phạm Đức Duyên được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân khu 2 vào tháng 5.2021. Ông từng giữ các chức vụ như Chính ủy Sư đoàn 316, Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tuyên Quang, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu 2, Phó chính ủy Quân khu 2.
Ông được bổ nhiệm Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương, Phó chủ nhiệm thường trực Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương và Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng. Trung tướng Phạm Đức Duyên được thăng quân hàm trung tướng vào tháng 6.2020.
Tại Quyết định số 699, Thủ tướng Chính phủ quyết định kéo dài thời gian giữ chức vụ đến hết tuổi phục vụ tại ngũ đối với thiếu tướng Nguyễn Văn Thiện, Phó tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 31.5.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiện từng làm Cục trưởng Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm, Bộ đội biên phòng, phá thành công nhiều chuyên án lớn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) Bộ Công an vừa hoàn tất kết luận điều tra vụ án "tham ô tài sản; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; trốn thuế", xảy ra tại Công ty cổ phần Tập đoàn Thiên Minh Đức và các đơn vị liên quan.
Vụ án này, C03 đề nghị truy tố 23 bị can ở 3 nhóm tội. Trong đó bà Chu Thị Thành, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Thiên Minh Đức, bị đề nghị 2 tội tham ô tài sản và in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.
Ông Hà Ngọc Vinh, tổ trưởng tổ kế toán kho Công ty cổ phần xăng dầu dầu khí Vũng Áng (PVoil Vũng Áng), và Cao Bảo Ngọc, cựu Giám đốc Công ty Việt Trung, cùng bị đề nghị truy tố về tội Tham ô tài sản. Riêng ông Ngọc còn bị đề nghị tội trốn thuế.
Theo kết luận, từ tháng 8.2013 đến năm 2025, PVoil Vũng Áng ký và thực hiện 3 hợp đồng bán xăng, dầu với Công ty Việt Trung. Đơn giá hàng bán được điều chỉnh theo từng thời điểm, căn cứ thông báo của PVoil Vũng Áng.
Quá trình bán hàng cho Công ty Việt Trung từ tháng 12.2016 đến tháng 4.2025, ông Vinh đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để bán xăng, dầu không xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho ông Ngọc, không hạch toán trên phần mềm kế toán, nhằm chiếm đoạt tài sản của PVoil Vũng Áng.
Cơ quan điều tra xác định, ngoài số hàng được xuất hóa đơn theo đúng quy trình, ông Vinh thỏa thuận bán xăng, dầu cho ông Ngọc nhưng không xuất hóa đơn, với giá thấp hơn giá PVoil Vũng Áng công bố từ 500 - 1.000 đồng/lít.
Khi cần tiền sử dụng cá nhân, sau khi ông Ngọc giao nhân viên đặt hàng, lấy hàng theo đúng quy trình, ông Vinh báo cho ông Ngọc biết chuyến hàng nào không xuất hóa đơn để ông Ngọc bán cho các chủ tàu cá không cần lấy hóa đơn. Đồng thời, ông Vinh xóa bỏ thông tin các chuyến hàng này trên phần mềm kế toán.
Theo kết luận, có trường hợp chuyến hàng đã được xuất hóa đơn nhưng Công ty Việt Trung chưa thanh toán tiền, ông Vinh lại hủy hóa đơn đã xuất và xóa dữ liệu chuyến hàng. Sau khi bán, nhận được tiền hàng, ông Ngọc nộp tiền vào tài khoản của vợ, sau đó chuyển tiền vào tài khoản hoặc đưa tiền mặt cho ông Vinh để trả tiền mua hàng sau khi trừ chiết khấu theo thỏa thuận.
C03 xác định, để cân đối sổ sách cho hàng xuất không hóa đơn, ông Vinh lợi dụng các đặc tính thể tích của xăng dầu thay đổi theo nhiệt độ, sơ hở của phần mềm kế toán, cách thức quản lý dõi hàng tồn kho và việc mình được giao nhiệm vụ để che giấu các sai phạm.
Cụ thể, ông Vinh đã sửa trên phần mềm kế toán làm tăng lượng xăng dầu V15 bán ra cho nhiều chuyến hàng của nhiều khách hàng tại kho cao hơn số liệu thực xuất. Mỗi lần sửa, Vinh tăng từ 200 - 400 lít, tương đương 2 - 3%, để tổng lượng hàng sau khi chỉnh sửa không vượt quá lượng hàng xuất thực tế.
Đến kỳ kiểm kê, tổng lượng hàng V15 xuất không hóa đơn được ông Vinh cân đối bằng đúng tổng lượng hàng V15 đã bị điều chỉnh tăng ở các chuyến hàng khác.
Hàng ngày, dù nhận được bảng kê số liệu hàng thực xuất của ngày hôm trước để đối chiếu, ông Vinh không có ý kiến. Hằng tháng, ông Vinh còn xác nhận trên thẻ kho theo đúng số liệu thực để Phòng Quản lý hàng hóa báo cáo lãnh đạo công ty. Vì vậy, PVoil Vũng Áng không phát hiện có lượng hàng xuất ra nhưng chưa được xuất hóa đơn.
Trong năm 2024, một số chuyến xuất không hóa đơn tại kho Vũng Áng chưa được hợp thức bằng cách sửa lượng xuất V15 của các chuyến khác. Vinh tiếp tục lợi dụng các thông báo điều chuyển nguồn của PVoil và PVoil Vũng Áng để lập lệnh trên phần mềm kế toán, điều chuyển hàng từ kho Vũng Áng đến các kho khác như Nghi Sơn, Chân Mây với lượng điều chuyển cao hơn thông báo hoặc điều chuyển khống.
Cuối năm 2024, còn khoảng 600.000 lít xăng, dầu xuất không hóa đơn tại kho Vũng Áng chưa được hợp thức. Để cân đối sổ sách, tồn kho, ông Vinh lập lệnh điều chuyển hàng từ kho Vũng Áng và lượng chưa cân đối ở các kho khác đến gửi kho Petec Hải Phòng, tổng cộng 587.904 lít xăng, dầu.
Sau đó, ông Vinh làm giả biên bản đối chiếu, xác nhận còn hàng gửi kho Petec Hải Phòng rồi gửi cho đơn vị kiểm toán báo cáo tài chính. Nhưng thực tế, PVoil Vũng Áng không còn hàng gửi tại kho này.
Theo C03, bằng thủ đoạn trên, từ tháng 12.2016 đến tháng 4.2025, ông Vinh đã xuất bán 187 chuyến hàng không có hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty Việt Trung, với tổng khối lượng hơn 5 triệu lít xăng dầu các loại, trị giá hơn 94 tỉ đồng. Số xăng dầu này C03 xác định ông Vinh đã chiếm đoạt của PVoil Vũng Áng.
Số hàng này, ông Ngọc bán không hóa đơn cho các chủ tàu cá tại Quảng Trị, thu lời 200 đồng/lít và chuyển trả cho ông Vinh tiền hàng sau chiết khấu tổng cộng 89,3 tỉ đồng. Qua đó ông Ngọc hưởng lợi 4,6 tỉ đồng từ số tiền được ông Vinh chiết khấu.
Sau khi sai phạm bị phát hiện, ông Vinh đã nộp khắc phục cho PVoil Vũng Áng hơn 6,2 tỉ đồng và ông Ngọc tự nguyện trả cho PVoil Vũng Áng 4,69 tỉ đồng.
Làm việc với cơ quan điều tra, ông Vinh khai phạm tội một mình, không trao đổi, không nhờ ai ở PVoil Vũng Áng giúp sức. Ngoài ra, ông Vĩnh cũng không nói cho bị cáo Ngọc biết cách thức mình xóa dữ liệu kế toán để tránh bị phát hiện.
Số tiền phạm tội mà có, ông Vinh khai đã chuyển đến nhiều tài khoản khác nhau để đánh bạc và sử dụng cá nhân.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch 11 năm 2005 và thay thế Thông tư 23 năm 2025, hướng dẫn chế độ phụ cấp khu vực. Thông tư 11 ban hành 21 năm trước - thời điểm lương tối thiểu chung ở mức 290.000 đồng. Tại dự thảo thông tư mới, "mức lương tối thiểu chung" sẽ được thay thế bằng "mức lương cơ sở".
Chính sách áp dụng với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng đã được xếp lương theo thang bảng, làm việc trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, chiến sĩ, công chức, lao động biên chế trong đơn vị thuộc Quân đội, Công an.
7 mức phụ cấp cơ bản giữ nguyên, gồm 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5; 0,7 và 1. Mức cao nhất 1 được đề xuất áp dụng với đặc khu Trường Sa; lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng trực tiếp làm nhiệm vụ trên vùng biển Việt Nam.
Phụ cấp khu vực được chi trả cùng kỳ với lương, trợ cấp hàng tháng, được tính theo công thức: Tiền phụ cấp khu vực = Hệ số phụ cấp khu vực x mức lương cơ sở
Từ ngày 1/7, lương cơ sở dự kiến nâng lên 2,53 triệu đồng mỗi tháng. Mức tiền phụ cấp khu vực như sau:
Phụ cấp khu vực được xác định dựa vào yếu tố tự nhiên như khí hậu, độ cao, vùng địa lý xa trung tâm kinh tế - chính trị ảnh hưởng đời sống vật chất và tinh thần con người, bổ sung các yếu tố đặc biệt khó khăn như biên giới, hải đảo. Mức phụ cấp này chủ yếu hưởng theo địa giới hành chính, cơ quan đóng trên địa bàn xã nào thì hưởng theo phụ cấp xã đó và điều chỉnh cho phù hợp khi địa bàn thay đổi.
Bộ Nội vụ đánh giá sửa đổi, bổ sung phụ cấp khu vực với xã mới hình thành trên cơ sở sắp xếp từ xã cũ đã được hưởng phụ cấp khu vực, không bổ sung mới. Song tiếp thu góp ý của các địa phương, cơ quan soạn thảo điều chỉnh mức phụ cấp khu vực của một số địa bàn vào dự thảo, như nâng từ 0,4 lên 0,5 với xã Tân Kỳ (Thái Nguyên); bổ sung phụ cấp mức 0,1 cho xã Hòa Vang (Đà Nẵng); mức 0,3 cho xã Đất Mũi (Cà Mau)...
Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 nhằm phù hợp với thời gian bảo lưu phụ cấp trong 6 tháng (từ 1/7/2025 đến 31/12/2025).
Cả nước sau sáp nhập còn 34 tỉnh thành với 3.321 xã, phường, đặc khu; trong đó 2.636 xã, 672 phường và 13 đặc khu. Theo tính toán của Chính phủ, sau sáp nhập tỉnh, xã và bỏ cấp huyện từ giữa năm 2025, cả nước còn khoảng 91.784 cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh và khoảng 199.000 biên chế cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Tin Gốc: Vnexpress

Chiều 10.4, trao đổi với PV Thanh Niên, lãnh đạo Công ty cổ phần phát triển đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu (BVEC - chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng mở rộng quốc lộ 51) xác nhận đã đồng ý bàn giao toàn bộ hiện trạng các trạm thu phí T1, T2 trên quốc lộ 51 cho cơ quan chức năng để thực hiện tháo dỡ, đảm bảo an toàn giao thông.
Theo đó, BVEC sẽ bàn giao toàn bộ hiện trạng 2 trạm thu phí cho Khu Quản lý đường bộ IV và Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai trước ngày 15.4.
Sở Xây dựng sẽ tổ chức tháo dỡ, sau đó bàn giao toàn bộ vật tư, thiết bị cho Khu Quản lý đường bộ IV quản lý, bảo quản theo quy định.
Trước đó, Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai đã nhiều lần đề nghị Cục Đường bộ Việt Nam, Khu Quản lý đường bộ IV cùng BVEC tháo dỡ 2 trạm thu phí trên quốc lộ 51, thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai.
Theo Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai, trạm thu phí T1 và T2 không còn chức năng khai thác nhưng vẫn tồn tại kết cấu nhà trạm, đảo phân luồng, móng trụ, biển báo và các hạng mục phụ trợ.
Sự tồn tại của trạm thu phí không còn tác dụng trên gây ra các xung đột về giao thông, che khuất tầm nhìn, thu hẹp mặt đường hiện hữu và tiềm ẩn nguy cơ rất cao xảy ra tai nạn giao thông.
Quốc lộ 51 dài 72 km, đi qua địa bàn 2 tỉnh Đồng Nai và TP.HCM (trước là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Sau khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng mở rộng quốc lộ 51, BVEC đã đặt 3 trạm thu phí BOT gồm T1, T2 (địa bàn Đồng Nai), T3 (thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, nay là TP.HCM).
Từ năm 2023, dự án BOT quốc lộ 51 tạm dừng thu phí để tính toán lại phương án tài chính, nhưng việc tháo dỡ các trạm thu phí vẫn vướng mắc xung quanh việc đàm phán chấm dứt hợp đồng và xác lập sở hữu toàn dân. Chủ đầu tư cho rằng các trạm thu phí đang là tài sản của ngân hàng nên việc tháo dỡ phải phải có sự đồng ý bằng văn bản của ngân hàng.
Đối với trạm thu phí T3, vào đầu tháng 2.2026, Sở Xây dựng TP.HCM đã phối hợp các đơn vị, lực lượng chức năng liên quan tháo dỡ.
Nguồn: https://thanhnien.vn/dong-nai-sap-thao-do-2-tram-thu-phi-tren-quoc-lo-51-185260410144553949.htm

