Trong đó, 漫步香港1999 (Dạo bước Hong Kong 1999, Bố Lỗ Tích), GO (BlackPink) và Seven (Jung Kook, Latto), Swim (BTS)… là nhạc ngoại được nghe nhiều trên các nền tảng số ở nước ta.
Với nhạc Việt, các bảng xếp hạng nhạc số tháng 3 gọi tên loạt ca khúc có cũ có mới.
Trong Top 10 The Official Vietnam Chart và Top 10 Bảng xếp hạng Làn sóng xanh “quy tụ” bài chung. Từ Ai ngoài anh (VSTRA, Tyronee), Cảm ơn người đã thức cùng tôi (Phùng Khánh Linh), Người im lặng gặp người hay nói (HIEUTHUHAI), Tấm lòng Cửu Long (Ricky Star) đến chẳng phải tình đầu sao đau đến thế (MIN, dangrangto, antransax), Hẹn lần sau (MAYDAYs), Không buông (Hngle, Ari)…
Ở hai hệ thống này còn có thêm những cái tên khác nhau tùy theo tuần, xoay quanh In love (Low G, JustaTee), Phép màu (Minh Tốc & Lam, MAYDAYs), Từng là của nhau (Bảo Anh, Táo), E là không thể (Anh Quân), mashup Rock thiệp hồng (Tóc Tiên, MaiQuinn, Muộii, Đào Tử A1J, Yeolan), Người đầu tiên (Juky San), Chất gây hại (Quang Hùng MasterD, Low G), Vi vu (Mason Nguyễn, CONGB).
Trong đó “hưởng ké” không khí Tết vẫn còn sót lại, Vạn sự như ý của Trúc Nhân phát hành từ đầu năm trụ tới tháng 3, vẫn có tên trong Top 10 The Official Vietnam Charts tuần 9 và top 10 bảng xếp hạng Làn sóng xanh tuần 2 và tuần 4 tháng 3.
Ở bảng xếp hạng #ZingChat tháng 3 điểm danh loạt ca khúc hot, trong đó Hôn lễ của em (Trọng Nhân, Tiểu Mỹ), 50 năm về sau (F47, meChill, Đặng Thanh Tuyền), Người im lặng gặp người hay nói thay nhau lọt top 3 qua các tuần.
Ngày 30-3, Spotify Top 50 Vietnam cập nhật top 50 bài hát được nghe nhiều nhất, trong top 3 chỉ có một sản phẩm nhạc Việt là Người im lặng gặp người hay nói (hai bài còn lại là Swim, Seven). Theo sau đó là Không buông, Exit Sign (HIEUTHUHAI, maruz), In love, Từng là của nhau, Người đầu tiên, Ai ngoài anh…
Trong top 50 bài hát thịnh hành nhất trên nhacuatui, thứ tự lần lượt thuộc về Người im lặng gặp người hay nói, SWIM, Go, Bên ấy em có ai rồi (Châu Khải Phong, TVk), Hóa ra (Grey D), Hôn lễ của em, Tấm lòng Cửu Long…
Còn theo YouTube Music Charts Vietnam, “on top” hiện tại có Swim, Người im lặng gặp người hay nói, Dạo bước Hong Kong 1999 (bản của NHONHO, Bố Lỗ Tích)…
Người im lặng gặp người hay nói của HIEUTHUHAI phát hành hôm 9-3, sau 3 tuần ra mắt đạt hơn 10 triệu view trên kênh YouTube của nghệ sĩ, chưa kể các nền tảng khác.
Dù có nhiều tranh cãi về chất lượng âm nhạc lẫn giọng hát, với tần suất “oanh tạc” trên nhiều bảng xếp hạng, tiếp tục cho thấy sức hút của “anh trai say hi” này.
Trong khi đó VSTRA đang vươn lên là một trong những nghệ sĩ nữ được “săn đón” trên các nền tảng hiện nay. Ai ngoài anh của cô liên tục xuất hiện trong top các bảng xếp hạng, từ The Official Vietnam Charts, Billboard Vietnam Hot 100, Làn sóng xanh, Top 50 Vietnam Spotify, Vietnam Apple Music trong vài tháng qua.
Ngoài ra album Triệu: Phase 1 of 3 của VSTRA, phát hành 3 tháng trước, tới nay đạt tổng khoảng 56 triệu lượt nghe trên các nền tảng nghe nhạc số. Đây là một số liệu tốt với một nghệ sĩ trẻ.
Cùng với VSTRA, Phùng Khánh Linh cũng đang cho thấy “giá trị thương hiệu” ngày càng tăng sau mấy năm hoạt động âm nhạc.
Cảm ơn người đã thức cùng tôi – nhạc phim cùng tên của đạo diễn Chung Chí Công, do Phùng Khánh Linh thể hiện, liên tục nằm trong top các bảng xếp hạng.
Cô cũng vừa có hai đêm concert cá nhân Giữa một vạn tour lấp kín khán giả đáng nhớ. Trước đó, loạt hit của nghệ sĩ 9X này cũng “oanh tạc” các bảng xếp hạng như Hôm nay tôi buồn, Ước anh tan nát con tim, Anh là thằng tồi, Em đau…
Ngoài ra, ca khúc của các nghệ sĩ như ban nhạc MAYDAYs, dangrangto, Low G, Juky San,… đang có “sức nghe” khá ổn định.
MV hóa ra… của Grey D
Theo dõi thống kê của các bảng xếp hạng có thể thấy những cái tên sáng giá của đường đua nhạc số tháng 3 do các gen Z “thống lĩnh”.
Đáng nói, có những cái tên đang hoạt động sôi nổi ở tầng ngầm underground/indie, phản ánh một trong những xu hướng nghe hiện nay thiên về cá nhân hóa và ngày càng phân mảnh của công chúng.
Điều này một phần bắt nguồn từ việc các nền tảng streaming (Spotify, Apple Music, YouTube Music…) ngày càng tập trung vào thuật toán nhằm cá nhân hóa trải nghiệm nghe nhạc cho từng người dùng.

Thomas Mann, trong Essays of Three Decades, viết: "Nhà văn là người thấy công việc viết lách khó hơn những người khác". Có lẽ vì vậy, những tiểu thuyết lớn thường không cho người đọc cảm giác tác giả đang cố viết hay. Người đọc không chú ý tới kỹ thuật hay tham vọng văn chương của tác giả, họ chỉ cảm thấy mình đang chạm vào một kinh nghiệm sống thật sự. Nhưng cũng có những cuốn sách để lại cảm giác ngược lại: Chúng ý thức quá nhiều về văn chương, quá nóng lòng nâng trải nghiệm thành ý nghĩa, quá vội vàng biến đau khổ thành cái đẹp. Thuyền của Nguyễn Đức Tùng, với tôi, thuộc trường hợp thứ hai.
Thuyền kể về một người đàn ông Việt lưu vong luôn bị ám ảnh bởi ký ức chiến tranh, hành trình vượt biên và đời sống tha hương sau 1975. Tiểu thuyết được dựng lại qua 55 "chương" hay "đoản khúc"- những mảnh hồi tưởng đứt đoạn về tuổi thơ, gia đình, tình yêu, cái chết và chuyến vượt biển đầy sợ hãi trên một con thuyền chở những con người tuyệt vọng đi tìm tự do, rồi cuối cùng là cảm giác "mất cội rễ" và liên tục sống trong sự giằng co giữa hiện tại và ký ức về Việt Nam.
Nguyễn Đức Tùng có một tham vọng tạo dựng một cuốn tiểu thuyết viết theo "văn học dòng ý thức". Cuốn tiểu thuyết nhiều lần tự ý thức về sự đổ vỡ của tự sự truyền thống. Nhân vật chính trong tiểu thuyết nói: "thời đại chúng ta thiếu mất cấu trúc của một câu chuyện kể". Tuy vậy, người ta thường hiểu sai về văn học dòng ý thức như một thứ tự do của văn chương. Cứ câu dài hơn, liên tưởng nhiều hơn, thời gian đảo lộn hơn thì tưởng rằng đã bước vào địa hạt của James Joyce hay Virginia Woolf. Nhưng văn học dòng ý thức thật ra không phải sự hỗn loạn. Nó có một trật tự khác, kín đáo hơn và khó phát hiện hơn, nơi cấu trúc không còn nằm ở chuỗi sự kiện mà nằm ở kỷ luật của ký ức. Một tác phẩm dòng ý thức lớn luôn có một lực hút xoáy bên trong. Những hình ảnh, hồi tưởng, liên tưởng tượng như tản mạn cuối cùng đều quay trở lại cùng một vùng tối. Người đọc có thể lạc trong thời gian, nhưng không lạc trong cảm xúc văn học.
Điều thú vị là dù mang tham vọng của "văn học dòng ý thức", Thuyền vẫn được tổ chức theo một hải trình rất quen của văn học vượt biển: Rời thành phố, bến mua, vượt biên, hải phận quốc tế, cướp biển, trại tị nạn, định cư, trở về. Một tiểu thuyết dòng ý thức dĩ nhiên vẫn có thể có cốt truyện rõ ràng và tuyến tính ở bề mặt. Nhưng khi phần khung sự kiện còn giữ trật tự ấy, phần nội tâm càng cần tạo ra một thời gian khác: Thời gian của ám ảnh, của ký ức luôn quay lại đúng một điểm đau không thoát ra nổi.
Trong Thuyền, cảm giác ấy khá mờ nhạt. Nguyễn Đức Tùng có cố tạo những kết nối giữa hiện tại và hồi ức: Cú ngã khi nghe điện thoại gợi lại cú ngã cũ trên tàu; cơn đau ở xương sườn kéo về những chiếc xương gãy năm nào. Nhưng những kết nối ấy nhiều khi dừng ở mức kỹ thuật hơn là trở thành áp lực nội tâm thật sự. Người đọc nhìn thấy quá khứ được gọi về, nhưng chưa thật sự cảm thấy nó đang xâm chiếm và làm lệch hiện tại của nhân vật.
Có lẽ vì văn học thuyền nhân đặc biệt cần một thứ thời gian nội tâm mạnh hơn thời gian sự kiện. Vượt biển không chỉ là một chuyến đi. Nó là một trải nghiệm kinh hoàng mà người ta vừa không thể quên vừa không muốn nhớ. Những người sống sót không mang ký ức như mang một câu chuyện đã kết thúc. Họ mang nó như một phần thân thể chưa lành.
Nhà tâm lý học Carl Rogers có câu nói nổi tiếng: "Cái gì càng cá nhân thì càng phổ quát" (what is most personal is most universal). Sau này, Martin Scorsese tiếp nối ý ấy bằng một biến thể khác: "Điều cá nhân nhất cũng là điều sáng tạo nhất" (what is the most personal is the most creative). Đó cũng là một nguyên lý đặc biệt của văn chương: Càng đi sâu vào cái riêng, tác phẩm càng có khả năng chạm tới nhiều người. Nhiều tiểu thuyết lớn hiếm khi bắt đầu từ những ý niệm lớn. Chúng thường bắt đầu bằng một chi tiết rất nhỏ nhưng không thể quên: Một người đàn bà lấy nước tiểu để dỗ con đỡ khát trên thuyền vượt biên, tiếng trực thăng bay ngang khiến một người đàn ông lưu vong nằm úp xuống sàn nhà giữa đêm. Hay cảm giác một thân thể không còn chịu nổi mùi nước biển nhiều năm sau khi đã đặt chân lên đất liền. Người đọc không xúc động vì nhà văn nói "đây là đau khổ". Họ xúc động khi nhìn thấy một con người cụ thể đang chịu đựng nỗi đau ấy. "Personal" vì thế không phải sự bộc bạch về cái tôi. Nó là độ sâu của kinh nghiệm. Một kinh nghiệm càng cụ thể, càng không thể thay thế, càng có khả năng chạm đến cái chung của nhân loại.
Văn học thuyền nhân đặc biệt cần điều đó. Đây là một bi kịch tập thể rất lớn, nhưng văn chương không thể chạm tới lịch sử chỉ bằng những khái niệm như "đau thương", "bạo lực", "mất mát". Nó phải đi qua một thân thể cụ thể, một nỗi đau cụ thể, một ký ức cụ thể. Hầu như tác phẩm nào viết về thuyền nhân cũng có một người đàn bà mất con trên biển. Một đứa trẻ sốt mê man dưới khoang tàu. Một người phụ nữ bị hãm hiếp. Nhiều người đàn ông bị giết. Một đứa trẻ nhiều năm sau vẫn không ngủ được vì tiếng sóng. Nhưng nếu như những bi kịch đã trở thành tập thể ấy không có cái cá nhân, lịch sử rất dễ biến thành phông nền cho suy tưởng.
Đọc Ru của Kim Thúy, The Boat của Nam Lê hay Biển San Hô, Puerto Princesa City của Trần Vũ, người ta thấy ký ức không đứng ngoài để được chiêm ngưỡng. Nó nhập vào thân thể. Nó thành cơn khát, thành đói, thành mặc cảm sống sót, thành những thương tích kéo dài sang cả đời sống lưu vong. Trong Ru, ký ức thuyền nhân được giữ lại qua những chi tiết rất nhỏ: Trẻ nhỏ, mùi dầu, bánh khô, không gian thuyền chật hẹp và một bé gái bị biển nuốt mất. Trong The Boat của Nam Lê người đọc nhớ một đứa trẻ chết đúng lúc nhìn thấy đất liền. Nhớ cơn khát. Nhớ cơn sốt. Nhớ những thân thể bị ép đến giới hạn cuối cùng của sống sót. Ở Pháo thuyền trên dòng Yang-Tse của Trần Vũ, người đọc nhớ khuôn mặt bị chém nát của Toàn, nhớ những vết sẹo, mắt hỏng, mũi biến dạng, một rãnh sẹo kéo qua môi xuống cằm. Chính độ cụ thể ấy làm truyện mở ra một cảm giác rất rộng về bi kịch, mất mát và lịch sử. Những chi tiết ấy không cố trở thành biểu tượng. Chính độ cụ thể và vật chất của chúng mở ra chiều kích phổ quát của bi kịch.
Vì thế, Thuyền tạo ra một nghịch lý khá buồn. Nó viết rất nhiều về cái tôi, nhưng chưa thật sự đủ "personal". Bởi vì ở những cảnh đáng lẽ phải cho người đọc cảm thấy sức nặng của đói khát, cướp biển, chết chóc, mất người yêu hay mất quê hương, cái tôi ấy luôn tự ý thức về chiều sâu của mình để diễn giải cảm xúc của mình bằng những liên tưởng đẹp và những suy tư lớn. Nhưng càng cố vươn tới cái chung của nhân loại, tiểu thuyết lại càng rời xa cái riêng không thể thay thế của kinh nghiệm thuyền nhân. Và khi cái riêng chưa đủ sâu, cái phổ quát thường chỉ còn là một tiếng vọng của ngôn từ. Như khi đang chạy trốn trong hoảng loạn, nhân vật nghĩ: "tình yêu của tôi là tình yêu đối với các chi tiết của sáng tạo và sự trở lại và gìn giữ cuộc đời, một cuộc đời thường xuyên làm bạn tan vỡ. Tôi lắng nghe đất thở... Có một dàn nhạc chơi đâu đó trong trời đất".
Vấn đề không nằm ở chỗ những câu ấy không "văn". Vấn đề nằm ở mối quan hệ giữa cái "văn" và nỗi đau. Trước bi kịch, Thuyền nhiều lần nghiêng về một mỹ cảm buồn đẹp, nơi ký ức vượt biển được làm dịu bằng những hình ảnh như người chết "lướt xuống biển như một con chim én", nước biển trở thành "những giọt lệ của mẹ tôi, tích tụ qua hàng nghìn năm", cho nhân vật nhìn người đánh cá cứu thuyền nhân rồi liên tưởng tới Ông già và biển cả, làm cho kinh nghiệm vượt biển dần rời khỏi cá nhân bi thảm của nó. Tình huống sinh tồn cụ thể liên tục bị kéo sang bình diện khái quát. Chính sự chuyển động quá nhanh từ kinh nghiệm cảm giác sang diễn giải tư tưởng làm cho hiện tại mất đi sức nặng nỗi đau của nó. Người đọc hiểu nhân vật đang nghĩ gì nhiều hơn cảm thấy nhân vật đang sợ hãi ra sao.
Có một khác biệt rất lớn giữa văn chương của ký ức và văn chương của tâm trạng. Ký ức chấn thương thường có tính độc đoán. Nó bắt con người quay đi quay lại cùng một vết thương cho đến khi mọi thứ khác mờ đi. Trong những tác phẩm dòng ý thức lớn, các chi tiết nhỏ luôn bị hút về cùng một vùng tối. Một tiếng nước. Một mùi tóc. Một bài hát. Một ánh đèn. Tất cả cuối cùng đều trở thành dấu vết của cùng một ám ảnh. Ý thức chấn thương hiếm khi hùng biện. Nó đứt đoạn. Nó quay vòng. Nó bị ám mãi bởi một chi tiết rất nhỏ không sao thoát ra được. Ở Trần Vũ, người đọc nhớ những khuôn mặt sẹo, những cơn mê sảng, những thân thể bị lịch sử làm biến dạng. Ở Nam Lê, người đọc nhớ cơn khát và cái chết sát đất liền.
So với kiểu dòng ý thức ấy, Thuyền có rất nhiều liên tưởng, nhưng các liên tưởng ấy chưa được tổ chức bởi một vết thương trung tâm đủ mạnh để tạo áp lực lên toàn bộ ý thức nhân vật. Vì vậy, dòng ý thức ở đây nhiều lúc không còn hiện ra như nhu cầu giải tỏa chấn thương, mà trở thành một hình thức tự trình diễn của ý thức. Ý thức trong Thuyền hiếm khi bị đời sống đánh bật khỏi khả năng diễn giải. Nó luôn còn đủ khoảng cách để ngắm nhìn chính mình, để tự bình luận về chiều sâu của mình. Những liên tưởng về âm nhạc, tôn giáo, Hemingway, Dostoevsky, mái trường Vạn Hạnh, tiếng hát Thái Thanh, nhạc Ngô Thụy Miên, thơ Phạm Đình Chương, hay những suy tưởng về tự do, tình yêu, cái chết liên tục xuất hiện như những lớp trữ tình phủ lên ký ức vượt biển. Văn bản nhiều lần tạo cảm giác như đang muốn khẳng định chiều sâu tinh thần của cái tôi tự sự hơn là để kinh nghiệm tự phát lộ. Và khi điều đó xảy ra, dòng ý thức không còn hiện ra như hậu quả của chấn thương nữa. Nó trở thành phong cách.
Nhân vật Liên Hương là ví dụ rõ nhất cho giới hạn ấy. Nàng được đặt ở trung tâm ký ức của cuốn sách, nhưng càng về sau càng hiện ra như một hình bóng trữ tình hơn là một vết thương có khả năng tổ chức toàn bộ đời sống nội tâm nhân vật. Những câu hỏi lặp đi lặp lại như "anh sẽ nhớ em chứ", "anh có đến dự tang lễ của em không", "anh có giận em không" tạo dư vị buồn đẹp nhiều hơn cảm giác bị ám ảnh. Người đọc nhìn thấy nỗ lực giữ lại sự dịu dàng của một mối tình đã mất, nhưng cũng chính sự dịu dàng ấy làm cho ký ức mất đi phần dữ dội và độc đoán vốn có của chấn thương. Các người phụ nữ xuất hiện sau này - như Kyra "thật đẹp, thật dữ dội, thật hoang dại", hay Jen "cứ như vừa bước ra từ một cuốn tiểu thuyết của Virginia Woolf hay từ vườn Lục Xâm trong bài thơ của Cung Trầm Tưởng". Không hề có kết nối với vết thương từ cái chết của nàng, cho dù tác giả đã cố kết nối như trong giấc mơ của Kyra "thấy những người đàn bà bị rượt đuổi. Họ bị bắt. Bị tra tấn. Bị hãm hiếp". Bởi vậy, họ lần lượt đi qua đời nhân vật như những kinh nghiệm tình cảm riêng biệt (mà thực ra như Kyra nói "anh chỉ yêu thân xác của em thôi"), chứ không tạo cảm giác mọi mối quan hệ đều đang bị hút trở lại cùng một mất mát trung tâm trong quá khứ. Vì thế, Liên Hương cuối cùng hiện ra như một biểu tượng của nỗi buồn đẹp, hơn là một vết thương không thể thoát ra.
Một ví dụ đối lập có thể thấy trong Pháo thuyền trên dòng Yang-Tsé của Trần Vũ. Ở đó, dòng ý thức không vận hành như một chuỗi suy tưởng làm đẹp cái tôi, mà như sự trở lại cưỡng bức của chấn thương. Màn vải đen, tiếng đại vĩ cầm, khuôn mặt sẹo của Toàn, tia chớp, bộ phim Pháo thuyền, hình ảnh bào thai, máu, lưỡi lam, phòng tắm - tất cả không phải những hình ảnh được xâu lại vì chúng "đẹp". Chúng bị kéo vào cùng một trường ám ảnh: Hải tặc, thân thể bị hủy hoại, cưỡng bức. Đặc biệt, câu cuối "Chúng tôi còn ở Vũng Tàu hôm qua kia mà!" làm sập toàn bộ trật tự thời gian: Quá khứ trước vượt biên, biến cố trên biển và bạo lực trong hiện tại cùng hiện về như một khoảnh khắc duy nhất. Đó là dòng ý thức có kỷ luật: Rối ở bề mặt, nhưng bị tổ chức bởi một vết thương trung tâm.
Tuy vậy, nếu chỉ đọc Thuyền bằng mỹ học của chấn thương thân thể thì có lẽ cũng chưa hoàn toàn công bằng. Nguyễn Đức Tùng dường như không muốn giữ ký ức vượt biển ở trạng thái sắc lạnh như Trần Vũ. Ông muốn làm dịu nó bằng suy tưởng, bằng âm nhạc, bằng văn hóa, bằng những liên tưởng mang màu sắc cứu rỗi tinh thần. Và có lẽ, đó chính là giá trị riêng của Thuyền: Nỗ lực giữ ký ức vượt biển như một vấn đề tinh thần của người Việt sau 1975, không phải bằng tiếng kêu dữ dội mà bằng một giọng kể chậm, nhiều thương cảm. Nhưng nếu bỏ đi toàn bộ lớp mỹ cảm ấy, phần kinh nghiệm còn lại của cuốn sách lại khá mỏng, gần với một hải trình quen thuộc của văn học thuyền nhân. Vì thế, sự dịu dàng trong Thuyền nhiều khi không chỉ là lựa chọn thẩm mỹ. Có lúc nó trở thành thứ "dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi", một lớp ánh sáng mềm phủ lên những phần đáng lẽ phải sắc, phải đau và thô ráp hơn của ký ức.
Tin Gốc: Vnexpress

* Bài cảm nhận cho chuyên mục ''Cuốn sách tôi yêu''
Tôi đọc Hội hè miên man hồi còn học trung học, vào cái tuổi mà người ta hay tưởng mình đã hiểu khá nhiều về thế giới nhưng thật ra mới chỉ biết loanh quanh trong vài con phố quen, vài bài nhạc nghe đi nghe lại và vài giấc mơ còn chưa kịp gọi tên.
Lần đầu mở sách ra, tôi không thấy hấp dẫn ngay. Thành thật mà nói, mấy trang đầu không có gì gọi là ''giật gân''. Không có những cú quăng quật cảm xúc theo kiểu truyện tranh tuổi mới lớn hay tiểu thuyết kiếm hiệp, không có cao trào để người đọc phải nín thở. Nó giống như một cánh cửa gỗ cũ mở ra chậm rãi, hơi kẹt bản lề, tưởng như chẳng dẫn tới đâu. Nhưng rất lạ, tôi cứ đọc. Rồi càng đọc lại càng bị cuốn đi, theo một cách rất khó giải thích, như thể có ai đó đang rót vào tai một câu chuyện không ồn ào mà vẫn khiến mình không thể đứng dậy bỏ đi.
Có lẽ sức hút của cuốn sách nằm ở chính thứ tưởng như không có gì ấy. Hemingway viết về Paris, về những quán cà phê, về bạn bè, về cái nghèo, về nghề viết, về những ngày còn trẻ bằng một giọng kể vừa bình thản vừa mê hoặc. Ông viết về cái lạnh của mùa thu Paris, khi gió thổi lá khô qua quảng trường Contrescarpe, khi mưa gõ lên khung cửa sổ như một lời mời gọi rất khẽ mà không sao cưỡng nổi. Hồi đó, tôi chưa có ý niệm gì về Paris. Với một cậu học trò, Paris chỉ là cái tên xuất hiện trong sách địa lý, trong vài bức ảnh bưu thiếp, trong trí tưởng tượng mơ hồ về một nơi xa xôi rất đẹp mà chẳng biết đẹp vì điều gì. Tôi không hiểu vì sao người ta cứ nhắc mãi về thành phố ấy, như thể nhắc về một mối tình cũ.
Phải đến nhiều năm sau, khi có dịp đặt chân tới châu Âu và nơi đầu tiên đến là Paris, tôi mới thực sự hiểu vì sao Hội hè miên man đã ở lại lâu như vậy trong trí nhớ mình. Có những câu văn, nếu chỉ đọc bằng mắt khi còn trẻ, ta thấy hay. Nhưng phải đi qua đời sống một đoạn đủ dài, phải tự mình nghe tiếng giày trên mặt phố ướt, tự mình ngồi co ro trong một quán cà phê nhìn mưa giăng sau lớp kính mờ, ta mới hiểu hết sức nặng của chúng. Lúc ấy, câu viết nổi tiếng của Hemingway về Paris hiện ra không còn là một câu trích dẫn đẹp để người ta chép vào sổ tay nữa. Nó trở thành một thứ cảm giác rất thật, rằng nếu tuổi trẻ từng có một thành phố khiến ta rung động thì về sau, dù đi xa tới đâu, thành phố ấy vẫn âm thầm đi cùng mình như một thứ ánh sáng le lói mà bất tận trong tiềm thức.
Tôi nghĩ nhiều người yêu Hội hè miên man vì cuốn sách cho họ một Paris để mơ. Còn tôi yêu nó hơn thế, vì cuốn sách cho tôi một cách để nhìn cuộc sống. Hemingway không chỉ kể về một thành phố. Ông kể về việc sống ra sao trong những ngày mình còn nghèo, còn trẻ, còn tin rằng văn chương có thể cứu rỗi phần nào sự tẻ nhạt của đời sống. Ông kể về việc quan sát con người, lắng nghe không khí, đi qua một ngày bình thường mà vẫn nhặt được trong đó những hạt bụi lấp lánh.
Cái phóng khoáng trong lối viết của Hemingway không nằm ở việc ông cố tỏ ra bất cần, mà ở chỗ ông để cho câu chuyện có khoảng thở. Những nhân vật, những mẩu đối thoại, những quãng lang thang, những bữa ăn đạm bạc, những cuộc gặp gỡ tưởng rất vụn vặt, dưới tay ông đều có nhịp điệu riêng. Đọc Hội hè miên man, tôi hiểu rằng một câu chuyện không nhất thiết phải to tát mới trở nên đáng kể. Đôi khi chỉ là một buổi sáng lạnh, một tách cà phê nóng, một người bạn cũ bước qua đời mình. Vậy thôi, nhưng nếu biết cách kể, tất cả đều có linh hồn.
Điều đó ảnh hưởng đến tôi nhiều hơn tôi từng nghĩ. Trong công việc viết lách, tôi không ít lần rơi vào cảm giác bí ý tưởng. Có những ngày ngồi trước màn hình mà đầu óc trống trơn, thấy đời mình chẳng có gì mới, chẳng có gì đủ hay. Những lúc như thế, tôi lại nhớ đến cách Hemingway đã kể trong Hội hè miên man. Ông dạy tôi, không bằng những lời rao giảng, rằng chẳng có câu chuyện nào là nhỏ nếu người kể đủ tinh tế để nhìn thấy nhịp đập của nó. Đời sống vốn không thiếu chất liệu. Thứ ta thiếu thường là sự chú ý. Chúng ta hay đòi những sự kiện lớn, những bi kịch lớn, những cú sốc lớn trong khi vẻ đẹp của văn chương đôi khi nằm ở khả năng thắp sáng một góc rất nhỏ của đời sống mà bình thường ta bước qua không ngoái lại.
Có lẽ vì đọc Hội hè miên man từ khi còn thiếu niên, tôi đã bị nó âm thầm nhào nặn. Không phải theo kiểu hôm nay đọc xong ngày mai lập tức biến thành một người khác. Ảnh hưởng của sách hay thường đến chậm, giống như mưa ngấm vào đất. Ta không thấy ngay nhưng đến một lúc nào đó nhìn lại, ta nhận ra nhiều lựa chọn sống của mình đã mang bóng dáng một cuốn sách nào đó.
Hội hè miên man khiến tôi yêu tự do hơn, yêu sự phóng khoáng trong tâm hồn hơn. Nó khiến tôi tin vào một đời sống không nhất thiết phải quá giàu có mới đẹp, không nhất thiết phải ồn ào mới đáng sống. Một người có thể nghèo tiền bạc nhưng giàu cảm xúc, có thể đi bộ qua những con phố xa lạ mà vẫn thấy mình đang sở hữu một kho báu vô hình. Cuốn sách ấy cũng làm nảy nở trong tôi một sự say mê với cái đẹp duy mỹ: Cái đẹp của thành phố, của thời tiết, của trang giấy, của một câu văn được viết đúng nhịp, của một buổi chiều chỉ cần ngồi im quan sát mọi thứ trôi qua.
Tôi còn thích ở Hemingway một phẩm chất rất nam tính mà không phô trương: Sự kiệm lời. Ông không cố làm dáng với chữ nghĩa, không lên gân đạo lý. Ông viết như nói chuyện nhưng đằng sau vẻ giản dị ấy là một độ chính xác đáng nể. Đọc Hemingway, tôi hiểu thêm rằng viết không phải là cố nói cho thật nhiều mà là biết dừng ở đâu để phần im lặng làm nốt công việc còn lại. Có những nhà văn khiến ta trầm trồ vì họ quá thông minh. Hemingway thì khác. Ông khiến ta tưởng như mình cũng có thể viết được như thế. Và chính cái ''bẫy ngọt ngào'' ấy mới đáng nể vì đến khi thử viết, ta mới hiểu để có được vẻ tự nhiên ấy khó đến mức nào.
Nhiều năm qua, tôi đã đọc thêm rất nhiều sách, có thêm nhiều tác giả yêu thích khác như Kazuo Ishiguro, Haruki Murakami. Có những cuốn sách phức tạp hơn, dữ dội hơn, lộng lẫy hơn về cấu trúc hoặc tư tưởng. Nhưng Hội hè miên man vẫn có một chỗ riêng mà không cuốn nào thay thế được. Nó giống một người bạn cũ không ồn ào nhưng luôn xuất hiện đúng lúc. Mỗi lần trở lại, tôi không chỉ đọc một cuốn sách, mà còn đọc lại chính mình của những năm trung học: Một cậu bé chưa biết Paris là gì, chưa đi xa, chưa hiểu hết cô đơn nhưng đã vô thức được văn chương mở cho một cánh cửa.
Nghĩ cho cùng, đó cũng là điều kỳ diệu nhất của việc đọc. Một cuốn sách đến với ta ở đúng tuổi, rồi lặng lẽ đi theo ta qua nhiều mùa để đến một ngày nào đó, giữa một thành phố xa lạ hay trong một buổi chiều quá đỗi bình thường. Ta chợt nhận ra mình đang sống tiếp một câu văn đã đọc từ rất lâu.
Trong thời đại người ta lướt nhiều hơn đọc, xem nhiều hơn ngẫm, tôi càng thấy biết ơn những cuốn sách như Hội hè miên man. Chúng không hét lên để giành lấy sự chú ý, không chiều chuộng người đọc bằng những cú sốc tức thời. Chúng chỉ lặng lẽ ở đó, chờ một người đủ kiên nhẫn mở ra và bước vào.
Văn hóa đọc, với tôi, có lẽ bắt đầu từ khoảnh khắc rất riêng tư ấy. Khi một trang sách không chỉ cho ta thêm thông tin mà còn dạy ta sống chậm hơn, nhìn kỹ hơn và yêu đời sống này hơn một chút.
Một cuốn sách mình đọc lúc còn trẻ có thể không thay đổi cả thế giới nhưng nó có thể âm thầm thay đổi cách mình bước qua thế giới. Và như thế, đã là một cuộc hội hè đủ dài cho cả một đời người.
Nick M
Nguồn: https://vnexpress.net/hoi-he-mien-man-tuoi-tre-o-lai-5057949.html

Trên Weibo ngày 15/5, video Đinh Chân điều khiển xe máy ở cao nguyên tuyết phủ được chia sẻ nhiều. Khung hình được cho là quảng bá phim Sumpa Kingdom, dự kiến ra mắt hè này, đánh dấu lần đầu Đinh Chân đảm nhận vai chính điện ảnh. Anh hóa thân Baima - hướng dẫn viên người Tây Tạng, tham gia hành trình khám phá vùng đất gắn với truyền thuyết cổ.
Hàng nghìn khán giả nhận xét Đinh Chân rắn rỏi, phong trần khi diện trang phục trung tính. Theo Sina, phim Sumpa Kingdom do Lhapal Gyal đạo diễn, quay nhiều địa điểm ở Tây Tạng, kết hợp yếu tố văn hóa dân tộc, tình yêu và hành trình chữa lành. Báo giới Trung Quốc cho rằng đây là bước chuyển đáng chú ý của Đinh Chân từ hiện tượng mạng sang lĩnh vực điện ảnh.
Hàng nghìn khán giả nhận xét Đinh Chân rắn rỏi, phong trần khi diện trang phục trung tính. Theo Sina, phim Sumpa Kingdom do Lhapal Gyal đạo diễn, quay nhiều địa điểm ở Tây Tạng, kết hợp yếu tố văn hóa dân tộc, tình yêu và hành trình chữa lành. Báo giới Trung Quốc cho rằng đây là bước chuyển đáng chú ý của Đinh Chân từ hiện tượng mạng sang lĩnh vực điện ảnh.
Trên trang cá nhân hôm 6/5, Đinh Chân nhận 11.000 bình luận khi đăng ảnh dạo chơi, đón nắng. Anh kết hợp tank top với quần jogger, khoác ngoài sơ mi tối màu để tạo vẻ phóng khoáng.
Hiện anh là đại sứ du lịch huyện Lý Đường. Nhờ "hiệu ứng Đinh Chân", lượng tìm kiếm về huyện Lý Đường từng tăng 620% trong một tháng, lượng đặt phòng khách sạn tăng 111%. Nhiều trang tin quốc tế gọi Đinh Chân là "chàng trai đẹp nhất Trung Quốc".
Trên trang cá nhân hôm 6/5, Đinh Chân nhận 11.000 bình luận khi đăng ảnh dạo chơi, đón nắng. Anh kết hợp tank top với quần jogger, khoác ngoài sơ mi tối màu để tạo vẻ phóng khoáng.
Hiện anh là đại sứ du lịch huyện Lý Đường. Nhờ "hiệu ứng Đinh Chân", lượng tìm kiếm về huyện Lý Đường từng tăng 620% trong một tháng, lượng đặt phòng khách sạn tăng 111%. Nhiều trang tin quốc tế gọi Đinh Chân là "chàng trai đẹp nhất Trung Quốc".
Trên trang cá nhân hôm 6/5, Đinh Chân nhận 11.000 bình luận khi đăng ảnh dạo chơi, đón nắng. Anh kết hợp tank top với quần jogger, khoác ngoài sơ mi tối màu để tạo vẻ phóng khoáng.
Hiện anh là đại sứ du lịch huyện Lý Đường. Nhờ "hiệu ứng Đinh Chân", lượng tìm kiếm về huyện Lý Đường từng tăng 620% trong một tháng, lượng đặt phòng khách sạn tăng 111%. Nhiều trang tin quốc tế gọi Đinh Chân là "chàng trai đẹp nhất Trung Quốc".
Tại Liên hoan phim quốc tế Bắc Kinh lần thứ 16 tối 16/4, nhiều đồng nghiệp nói Đinh Chân đưa cả "vườn hoa" lên sân khấu. Khán giả nhận xét anh cuốn hút với nụ cười tỏa nắng.
Tại Liên hoan phim quốc tế Bắc Kinh lần thứ 16 tối 16/4, nhiều đồng nghiệp nói Đinh Chân đưa cả "vườn hoa" lên sân khấu. Khán giả nhận xét anh cuốn hút với nụ cười tỏa nắng.
Đinh Chân là hiện tượng trong làng giải trí, sinh ra và lớn lên ở huyện Lý Đường, thuộc Châu tự trị dân tộc Tạng Cam Tư, tỉnh Tứ Xuyên. Học hết lớp ba, anh nghỉ học để phụ gia đình chăn bò. Cuộc đời Đinh Chân thay đổi năm 2020, khi một nhiếp ảnh gia đăng trên mạng xã hội video anh mỉm cười. Bấy giờ, đoạn video ngắn được hàng chục triệu người chia sẻ, nhiều người cho biết ấn tượng với nụ cười cao nguyên, sự chất phác của chàng chăn bò.
Đinh Chân là hiện tượng trong làng giải trí, sinh ra và lớn lên ở huyện Lý Đường, thuộc Châu tự trị dân tộc Tạng Cam Tư, tỉnh Tứ Xuyên. Học hết lớp ba, anh nghỉ học để phụ gia đình chăn bò. Cuộc đời Đinh Chân thay đổi năm 2020, khi một nhiếp ảnh gia đăng trên mạng xã hội video anh mỉm cười. Bấy giờ, đoạn video ngắn được hàng chục triệu người chia sẻ, nhiều người cho biết ấn tượng với nụ cười cao nguyên, sự chất phác của chàng chăn bò.
Chàng trai 25 tuổi kết hợp áo thun, quần ống bó với cardigan và găng tay đỏ, trong bộ ảnh cuối tháng 3, nhận hơn 10.000 bình luận, đa số là khen ngợi. Anh viết: "Mùa xuân là thời điểm lúa mạch Tây Tạng đâm chồi, còn khát vọng là nguồn năng lượng mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta".
Chàng trai 25 tuổi kết hợp áo thun, quần ống bó với cardigan và găng tay đỏ, trong bộ ảnh cuối tháng 3, nhận hơn 10.000 bình luận, đa số là khen ngợi. Anh viết: "Mùa xuân là thời điểm lúa mạch Tây Tạng đâm chồi, còn khát vọng là nguồn năng lượng mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta".
Chàng trai 25 tuổi kết hợp áo thun, quần ống bó với cardigan và găng tay đỏ, trong bộ ảnh cuối tháng 3, nhận hơn 10.000 bình luận, đa số là khen ngợi. Anh viết: "Mùa xuân là thời điểm lúa mạch Tây Tạng đâm chồi, còn khát vọng là nguồn năng lượng mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta".
Phong cách thời trang của Đinh Chân khá đa dạng.
Phong cách thời trang của Đinh Chân khá đa dạng.
Nhiều lần anh lăng xê trang phục họa tiết muông thú, thiên nhiên, nhấn vào phần tà cách điệu và ống khổ to.
Nhiều lần anh lăng xê trang phục họa tiết muông thú, thiên nhiên, nhấn vào phần tà cách điệu và ống khổ to.
Nhiều lần anh lăng xê trang phục họa tiết muông thú, thiên nhiên, nhấn vào phần tà cách điệu và ống khổ to.
Mốt quần jeans chắp vá được anh phối cùng sơ mi, gilet dệt kim.
Mốt quần jeans chắp vá được anh phối cùng sơ mi, gilet dệt kim.
Hồi đầu năm, Đinh Chân gây sốt khi lần đầu xuất hiện trong chương trình Xuân vãn - show đón Tết thường niên của Trung Quốc 43 năm qua. Anh diện âu phục được may đo riêng. Hàng nghìn người nhận xét Đinh Chân như "bạch mã hoàng tử", tạo khoảnh khắc đẹp để mở đầu năm Bính Ngọ.
Hồi đầu năm, Đinh Chân gây sốt khi lần đầu xuất hiện trong chương trình Xuân vãn - show đón Tết thường niên của Trung Quốc 43 năm qua. Anh diện âu phục được may đo riêng. Hàng nghìn người nhận xét Đinh Chân như "bạch mã hoàng tử", tạo khoảnh khắc đẹp để mở đầu năm Bính Ngọ.
Hồi đầu năm, Đinh Chân gây sốt khi lần đầu xuất hiện trong chương trình Xuân vãn - show đón Tết thường niên của Trung Quốc 43 năm qua. Anh diện âu phục được may đo riêng. Hàng nghìn người nhận xét Đinh Chân như "bạch mã hoàng tử", tạo khoảnh khắc đẹp để mở đầu năm Bính Ngọ.
Anh thường diện trang phục truyền thống quê nhà, biến tấu hiện đại cùng mốt quần jeans khi tham gia show.
Anh thường diện trang phục truyền thống quê nhà, biến tấu hiện đại cùng mốt quần jeans khi tham gia show.
Những năm qua, Đinh Chân phát hành MV về cuộc sống ở quê hương, tham gia nhiều show thực tế về văn hóa và ẩm thực, thể thao, quảng cáo thời trang. Anh hợp tác dàn sao hạng A như Tạ Đình Phong, Đàm Tùng Vận trong nhiều chương trình.
Những năm qua, Đinh Chân phát hành MV về cuộc sống ở quê hương, tham gia nhiều show thực tế về văn hóa và ẩm thực, thể thao, quảng cáo thời trang. Anh hợp tác dàn sao hạng A như Tạ Đình Phong, Đàm Tùng Vận trong nhiều chương trình.
Đinh Chân và Tạ Đình Phong trong một show ẩm thực, văn hóa.
Tin Gốc: Vnexpress

