“Sáng nay, Lực lượng hải quân của IRGC đã phát hiện và chặn hai tàu vi phạm tại eo biển Hormuz. Hai tàu này đã bị bắt giữ và được điều hướng vào bờ biển Iran”, IRGC nêu trong một tuyên bố, đồng thời cho hay hành động nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia của Iran.
Phía Tehran xác định một tàu chở container treo cờ Panama mang tên MSC Francesca và tàu còn lại là Epaminondas treo cờ Liberia, theo Hãng tin AFP.
IRGC tuyên bố các tàu này bị cáo buộc hoạt động mà không có giấy phép phù hợp, nhiều lần vi phạm các quy định và can thiệp vào hệ thống định vị, gây nguy hiểm cho an toàn hàng hải khi tìm cách bí mật rời khỏi eo biển Hormuz.
Theo trang thông tin theo dõi hàng hải MarineTraffic, vị trí được ghi nhận gần nhất của cả hai tàu đều nằm gần phía bờ biển Iran tại eo biển Hormuz.
Trước đó ngày 22-4, Cơ quan Điều hành thương mại hàng hải của Vương quốc Anh (UKMTO) cho biết IRGC đã nổ súng vào một tàu chở container khi đang ở cách phía đông bắc Oman khoảng 15 hải lý (khoảng 28km), khiến buồng lái bị hư hại nhưng không có thương vong.
Một tàu thứ hai cũng bị tấn công ngay sau đó.
UKMTO cho hay sự việc diễn ra lúc 7h55 giờ địa phương. Tàu pháo của IRGC bị cáo buộc khai hỏa mà không phát cảnh báo trước.
Các hãng thông tấn bán chính thức của Iran như Nour News, Fars và Mehr sau đó đưa tin IRGC đã tấn công tàu thứ ba, mà họ cho đã bị “mắc kẹt” trên bờ biển Iran, nhưng không nêu chi tiết.
Eo biển Hormuz là tuyến hàng hải chiến lược, vận chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu khí toàn cầu. Tuần trước Iran thông báo mở lại eo biển Hormuz, tuy nhiên nhanh chóng tuyên bố phong tỏa lại eo biển này cho đến khi lệnh phong tỏa của Hải quân Mỹ được dỡ bỏ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Khi mới đắc cử ghế thượng nghị sĩ đại diện cho bang Nevada năm 1993, Harry Reid đã đề xuất dự luật nhằm chấm dứt quyền công dân theo nơi sinh đối với con của những người nhập cư không giấy tờ. "Không quốc gia có lý trí nào lại trao phần thưởng cho việc nhập cư bất hợp pháp", ông lập luận.
Tuy nhiên, 13 năm sau, khi đã trở thành lãnh đạo phe Dân chủ tại Thượng viện, Reid thừa nhận đây là sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của mình.
Sự thay đổi quan điểm của thượng nghị sĩ này phản ánh thực tế rằng giới chính trị Mỹ từ lâu đã chia rẽ sâu sắc về quyền công dân theo nơi sinh cũng như cách thức kiểm soát nhập cư.
Nhiều thế hệ người Mỹ đã trở thành công dân nhờ nguyên tắc này, vốn được quy định trong Tu chính án thứ 14 của Hiến pháp có hiệu lực từ năm 1868. Theo đó,"tất cả những người sinh ra ở Mỹ hoặc nhập tịch, nằm trong quyền tài phán của Mỹ, đều là công dân Mỹ và bang nơi họ cư trú", trừ một số trường hợp ngoại lệ. Điều này đồng nghĩa con của những người nhập cư bất hợp pháp vào Mỹ sẽ nghiễm nhiên được cấp quốc tịch Mỹ nếu sinh ra trên lãnh thổ nước này.
Giữa thập niên 1990, số người nhập cư không giấy tờ vào Mỹ gia tăng. Vào thời điểm ông Reid đề xuất dự luật, ông Bill Clinton vừa đắc cử tổng thống. Dù nhập cư không phải vấn đề trọng tâm chiến dịch tranh cử, ông Clinton vẫn kêu gọi tăng cường kiểm soát biên giới và siết chặt thực thi luật nhập cư tại nơi làm việc.
"Ông ấy định vị mình là một chính trị gia trung dung, một đảng viên Dân chủ kiểu mới và là ứng viên đề cao luật pháp, trật tự", bà Doris Meissner, cựu ủy viên Cơ quan Di trú và Nhập tịch Mỹ dưới thời ông Clinton, cho biết. "Nhập cư là một phần quan trọng trong thông điệp đó".
Các khảo sát khi đó cho thấy quan điểm của ông Clinton phù hợp với góc nhìn của phần lớn cử tri Dân chủ khi ấy. Khảo sát năm 1992 của Gallup, CNN và USA Today ghi nhận khoảng hơn 66% cử tri Dân chủ ủng hộ các ứng viên muốn ban hành luật nghiêm khắc hơn nhằm hạn chế nhập cư.
Năm 1996, ông Clinton ký ban hành Đạo luật Cải cách nhập cư bất hợp pháp và Trách nhiệm người nhập cư, giúp chính quyền giam giữ và trục xuất người nhập cư trái phép dễ dàng hơn. Dự luật được thông qua với sự ủng hộ của cả hai đảng, dù một số nghị sĩ Dân chủ, đặc biệt ở cánh tả, phản đối.
Nửa cuối những năm 2000, dưới thời tổng thống George W. Bush và Barack Obama, chính trường Mỹ chứng kiến tình trạng chia rẽ gần như trong mọi vấn đề. Lập trường siết chặt nhập cư của phe Dân chủ cũng ngày càng suy giảm.
Đến năm 2010, khoảng 60% cử tri Dân chủ ủng hộ quyền công dân theo nơi sinh. Mức ủng hộ tiếp tục tăng trong thập niên sau đó và đến năm 2023 chạm ngưỡng 90%.
Trong khi đó, quan điểm của đảng Cộng hòa tương đối ổn định. Dù phần lớn cử tri Cộng hòa nhất trí với nỗ lực siết chặt kiểm soát biên giới và chiến dịch trục xuất quy mô lớn của Tổng thống Donald Trump, khoảng 40% ủng hộ quyền công dân theo nơi sinh. Tỷ lệ này gần như không thay đổi từ những năm 1990.
"Ngay cả những người muốn kiểm soát biên giới chặt chẽ và phản đối nhập cư trái phép cũng nhận ra rằng những người sinh ra tại Mỹ không làm gì sai", David Bier, chuyên gia nghiên cứu nhập cư tại Viện Cato, tổ chức nghiên cứu theo khuynh hướng bảo thủ, cho biết.
Hàng loạt cuộc thăm dò gần đây đều cho thấy sự ủng hộ ổn định của công chúng Mỹ đối với chính sách "sinh ra ở Mỹ là công dân Mỹ". Trong khi khảo sát của Viện Nghiên cứu Tôn giáo Công cộng (PRRI) tháng 12/2025 ghi nhận 66% người dân ủng hộ trao quyền công dân cho trẻ sinh ra tại Mỹ, các cuộc thăm dò độc lập khác từ dự án CHIP50, NPR/Ipsos và YouGov đều cho thấy hơn 50% cử tri Mỹ muốn duy trì quy định hiện hành trong lĩnh vực này.
Ông Trump từ lâu cho rằng Hiến pháp Mỹ không bảo đảm quyền công dân theo nơi sinh. Vì vậy, ngay trong ngày đầu tiên của nhiệm kỳ thứ hai, ông đã ký sắc lệnh hành pháp nhằm chấm dứt việc tự động cấp quốc tịch cho trẻ em sinh ra tại Mỹ nếu cha mẹ là người nhập cư trái phép hoặc đang cư trú hợp pháp nhưng chỉ với thị thực tạm thời.
"Chúng ta là quốc gia duy nhất trên thế giới áp dụng quyền công dân theo nơi sinh như vậy. Điều đó hoàn toàn vô lý", ông Trump nói.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy hơn 30 quốc gia trên thế giới, bao gồm cả các láng giềng của Mỹ như Canada và Mexico, đang áp dụng nguyên tắc cấp quyền công dân theo nơi sinh.
Ngày 1/4, Tòa án Tối cao Mỹ đã nghe tranh luận về tính hợp pháp của sắc lệnh hành pháp do ông Trump ký. Trong hơn hai giờ, các thẩm phán đặt nhiều câu hỏi cho cả hai phía nhưng chưa đưa ra phán quyết cuối cùng. Tòa dự kiến ra quyết định vào tháng 6 hoặc 7. Sắc lệnh của ông Trump hiện vẫn bị các tòa cấp dưới tạm thời chặn thi hành.
Tuy còn nhiều tranh cãi, giới quan sát nhận xét xu hướng chung vẫn khá rõ ràng rằng đa số người Mỹ tiếp tục ủng hộ quyền công dân theo nơi sinh.
"Quyền công dân theo nơi sinh không nên bị chi phối vì ý chí chính trị. Quyền đó không phụ thuộc vào việc bạn thuộc nhóm được ưu ái hay bị xem là bất lợi", bà Elizabeth Wydra, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Hiến pháp, nhận xét.
Minh Hạnh (Theo NY Times, NPR)
Nguồn: https://vnexpress.net/nghich-ly-trong-cuoc-chien-xoa-luat-sinh-o-my-la-cong-dan-my-5057774.html

Giữa thập niên 1990, Chiến tranh Bosnia bước vào thời kỳ căng thẳng nhất. Đây là cuộc xung đột nổ ra sau khi Nam Tư tan rã, với sự đối đầu giữa các cộng đồng sắc tộc tại Bosnia và Herzegovina, khiến đất nước này bị chia cắt và chìm trong bạo lực kéo dài. Phương Tây ban đầu can thiệp thông qua lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Chiến sự sau đó leo thang, NATO bắt đầu áp đặt vùng cấm bay trên không phận Bosnia nhằm ngăn các bên sử dụng máy bay quân sự.
Tuy nhiên, vùng cấm bay không đồng nghĩa kiểm soát hoàn toàn bầu trời. Lực lượng Serb ở Bosnia vẫn duy trì hệ thống radar và tên lửa phòng không từ mặt đất, đủ khả năng phát hiện và bắn hạ máy bay bay qua khu vực. Vì vậy, các chuyến tuần tra của NATO vẫn hoạt động trong môi trường rủi ro cao.
Ngày 2/6/1995, đại úy Scott O'Grady, phi công F-16 của Không quân Mỹ, đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên không phận Bosnia thì tiêm kích trúng tên lửa đất đối không. Máy bay nhanh chóng bị phá hủy, buộc anh phải kích hoạt ghế phóng để thoát hiểm.
Anh bung dù và tiếp đất trong khu vực rừng núi do lực lượng Serb kiểm soát, nơi nguy cơ bị phát hiện và bắt giữ luôn thường trực.
6 ngày sinh tồn trong im lặng
Sau khi O'Grady chạm đất, những gì anh có là một bản đồ dành cho vùng tây bắc Bosnia có ảnh các loài thực vật ăn được, radio PRC-112 nặng gần 800 gr, bộ dụng cụ sinh tồn gắn dưới ghế chiếc F-16, gồm túi sơ cứu, vài quả pháo sáng, một súng ngắn 9 mm, pin.
Trong suốt gần một tuần, O'Grady áp dụng kỹ năng sinh tồn được huấn luyện. Ban ngày, nam phi công nằm im trong bụi rậm hoặc dưới tán cây, tránh mọi chuyển động có thể bị phát hiện. Ban đêm, anh di chuyển thận trọng để tìm nơi trú ẩn mới.
O'Grady phải ăn côn trùng, cây dại và tận dụng khẩu phần khẩn cấp mang theo. Khi nước dự trữ cạn, anh hứng nước mưa từ lá cây để duy trì sự sống. Anh không sử dụng radio trong nhiều ngày vì lo ngại bị phát hiện.
"Sử dụng thiết bị liên lạc có thể đồng nghĩa với việc tự lộ vị trí", một quan chức quân sự Mỹ cho biết.
Trong thời gian đó, lực lượng Serb liên tục rà soát khu vực. Có thời điểm, trực thăng tìm kiếm bay rất thấp, đến mức O'Grady có thể nhìn thấy rõ phi hành đoàn. Đến ngày thứ 6, khi thể lực suy giảm và nguy cơ bị phát hiện gia tăng, O'Grady quyết định bật radio trong thời gian ngắn.
"Đây là Basher-52. Tôi còn sống và cần trợ giúp", anh nói qua radio 2h08 CET ngày 8/6/1995, sử dụng mật danh cá nhân.
Thông tin này được phi cơ tuần tra của NATO thu thập, lập tức kích hoạt một chuỗi quyết định khẩn cấp. Các chỉ huy nhận định rằng cơ hội cứu hộ có thể biến mất nhanh chóng nếu chậm trễ. O'Grady đang ở sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, và việc kéo dài thời gian chỉ làm tăng rủi ro.
Chiến dịch 5 giờ
7 phút sau khi thu được tín hiệu, chiến đấu cơ AC-130 mật danh Ghost 45 xác nhận người cầu cứu là O'Grady. Các sĩ quan trên một máy bay cảnh báo sớm (AWACS) báo tin về sở chỉ huy rằng O'Grady vẫn ổn, nhưng thêm rằng "cậu ấy thực sự cần được giải cứu trong đêm nay và tín hiệu radio ngày càng yếu".
Thông tin về O'Grady được chuyển tới Đô đốc Leighton Smith tại Anh, chỉ huy lực lượng NATO ở miền nam châu Âu.
"Basher-52 vừa liên lạc", một quan chức thuật lại nội dung tin nhắn. "Đô đốc Smith bật dậy, dồn toàn bộ tập trung vào tình huống". Các phương án hành động nhanh chóng được cân nhắc. Lệnh TRAP (triển khai chiến dịch thu hồi máy bay hoặc nhân sự) được ban hành.
Tại Washington lúc này là khoảng 21h30 ngày 7/6/1995. Cố vấn an ninh quốc gia Anthony Lake báo tin cho tổng thống Bill Clinton.
Kế hoạch được xây dựng theo mô hình nhiều lớp. Trực thăng đưa lực lượng đổ bộ vào điểm tiếp cận. Tiêm kích và trực thăng tấn công yểm trợ trên không, sẵn sàng phản ứng nếu bị tấn công. Máy bay tác chiến điện tử gây nhiễu radar nhằm giảm khả năng phát hiện.
Lực lượng đặc nhiệm được huy động từ tàu tấn công đổ bộ USS Kearsarge, đang hoạt động ngoài khơi biển Adriatic. Đây là căn cứ gần nhất có đủ trực thăng và lính thủy đánh bộ để thực hiện nhiệm vụ.
Khoảng 40 lính thủy đánh bộ trên tàu Kearsarge lập tức chuẩn bị cho đợt triển khai lúc rạng sáng vào khu vực sâu gần 100 km trong đất liền. Mục tiêu của chiến dịch rất rõ ràng: tiếp cận nhanh, cứu phi công và rút lui trước khi đối phương kịp phản ứng mạnh.
Các lính thủy đánh bộ lên hai trực thăng CH-53E Super Stallion. Hộ tống các trực thăng Stallion là hai trực thăng tấn công AH-1W SuperCobra cùng cặp tiêm kích cất hạ cánh thẳng đứng AV-8B Harrier. Đội bay này còn được yểm trợ bởi các biên đội trực thăng và tiêm kích dự bị cùng loại. Toàn bộ "hạm đội trên không" gồm khoảng 40 phi cơ, được điều phối từ một máy bay AWACS.
"Chúng tôi đã huy động toàn bộ hỏa lực cần thiết", ông Smith nói.
6h07 ngày 8/6/1995, các máy bay gây nhiễu EA-6B và EF-111 được thiết kế cho tác chiến điện tử bắt đầu chế áp mạnh hệ thống radar và liên lạc trong khu vực, nhằm làm tê liệt khả năng theo dõi của lực lượng Serb. 6 phút sau, một máy bay báo đã bắt được liên lạc với O'Grady.
Ở bên kia biên giới, trong khu vực Croatia do người Serb kiểm soát, một hệ thống radar bắt đầu theo dõi hoạt động trên không phận Bosnia. Trạm radar tại Knin, mật danh Giraffe, được kích hoạt lúc 6h21, cho thấy nếu ban đầu lực lượng Serb còn bất ngờ, thì lúc này họ không còn "mù thông tin" nữa.
Khoảng 6h35, lực lượng Mỹ tiếp cận khu vực thu được tín hiệu từ O'Grady. Các phi công phát hiện một vệt khói màu vàng bốc lên từ tán cây gần một bãi đất đá. O'Grady đã bắn pháo hiệu.
Chiếc CH-53E đầu tiên, do thiếu tá William Tarbutton điều khiển, tránh những cọc hàng rào gỗ có dây thép gai và hạ cánh. Khoảng 20 lính thủy đánh bộ nhanh chóng lao ra, thiết lập vành đai an ninh.
Chiếc CH-53E thứ hai, do đại tá Martin Berndt chỉ huy, vô tình đáp xuống một đoạn hàng rào, buộc phi công phải đưa máy bay lên rồi hạ xuống lại. Phía trên, hai trực thăng tấn công AH-1W lơ lửng yểm trợ, sẵn sàng khai hỏa. Cao hơn nữa, hai tiêm kích AV-8B sẵn sàng cung cấp hỏa lực mạnh hơn nếu cần.
Berndt nhìn qua buồng lái và bất ngờ thấy một người chạy về phía trực thăng, tay cầm súng ngắn vào lúc 6h44. Sương mù khá dày, nên ban đầu Berndt chưa thể biết đó là ai.
"Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra chỉ có thể là anh ấy", Berndt nhớ lại.
Cửa bên của trực thăng vừa mở được khoảng ba giây thì O'Grady lao thẳng vào khoang. Anh trao khẩu súng cho phi hành đoàn, nhanh chóng khoác áo và đội mũ bảo hiểm bay.
"Thậm chí không ai trong chúng tôi phải rời khỏi trực thăng", Berndt nói thêm.
Ngay sau đó, trực thăng cất cánh. O'Grady được phủ chăn, nhanh chóng ăn khẩu phần khẩn cấp. 0h49 ngày 8/6/1995 tại Washington (6h49 CET), ngay khi trực thăng CH-35E cất cánh, tổng thống Clinton nhận cuộc gọi báo tin từ cố vấn an ninh quốc gia Lake.
"Đã cứu được cậu ấy", Lake nói.
"Tuyệt vời! Đây là một chàng trai phi thường", ông Clinton đáp lại.
Chiến dịch thu hồi, xét về mặt kỹ thuật, diễn ra gần như hoàn hảo trong giai đoạn tiếp cận. Thách thức lớn nhất đến trong giai đoạn rút lui.
Khi đội hình trực thăng rời khỏi khu vực, họ đối mặt với hỏa lực từ mặt đất, bao gồm súng máy và tên lửa vác vai. Một số viên đạn trúng vào thân và cánh quạt trực thăng, nhưng không gây thiệt hại nghiêm trọng.
Lúc 6h58, một sĩ quan trên máy bay gây nhiễu EA-6B đã đề xuất phá hủy trạm radar tại Knin. Tuy nhiên, đề xuất bị bác bỏ do lo ngại leo thang xung đột, bởi khi đó lực lượng Serb đang giữ một số binh sĩ Liên Hợp Quốc làm con tin.
7h07, một trong hai trực thăng cho biết họ bị nhắm bắn bằng tên lửa vác vai nhưng không trúng. Đội hình rút lui an toàn và đưa O'Grady trở lại tàu Kearsarge ngoài khơi.
O'Grady được mọi người chào đón khi trở về Mỹ. Phi công này còn đến thăm Nhà Trắng, được tổng thống Clinton gọi là "một anh hùng nước Mỹ".
Tin Gốc: Vnexpress

Lần đầu tiên, một tiêm kích NATO đã bắn hạ một UAV nghi của Ukraine trên không phận Estonia vào ngày 19/5, Bộ trưởng Quốc phòng Estonia Hanno Pevkur nói với hãng tin Delfi.
Theo ông Pevkur, UAV này bị một tiêm kích Romania tham gia nhiệm vụ tuần tra của NATO trên không phận Baltic bắn hạ. Chiếc UAV được cho là có nguồn gốc từ Ukraine và đang hướng tới các mục tiêu ở Nga.
Đáp lại, Bộ Ngoại giao Ukraine cáo buộc Moscow cố tình chuyển hướng UAV Ukraine vào lãnh thổ NATO. “Chúng tôi xin lỗi Estonia và tất cả những người bạn Baltic vì các sự cố ngoài ý muốn như vậy”, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Ukraine Heorhii Tykhyi nói.
Vụ việc diễn ra trong bối cảnh xuất hiện thêm một trường hợp UAV nghi của Ukraine rơi xuống lãnh thổ các nước Baltic trong các đợt không kích nhằm vào khu vực tây bắc Nga.
Bộ Quốc phòng Nga cho biết đã bắn hạ hơn 300 UAV Ukraine vào ngày 19/5, bao gồm tại các tỉnh Yaroslavl, Moscow và Novgorod.
Latvia và Estonia đã phát cảnh báo UAV tại một số khu vực trên lãnh thổ của họ vào khoảng giữa trưa, đồng thời cùng theo dõi vụ xâm nhập này.
Giới chức Estonia cho biết UAV bị bắn hạ tại khu vực giữa hồ Võrtsjärv và thị trấn Põltsamaa ở miền trung Estonia trước khi rơi xuống một cánh đồng. Hiện công tác tìm kiếm mảnh vỡ đang được tiến hành và không có thương vong nào được ghi nhận.
“Tôi xác nhận một lần nữa rằng tôi đã trực tiếp trao đổi với Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Mykhailo Fedorov ngay sau sự cố này. Estonia chưa cấp phép cho bất kỳ ai sử dụng không phận của mình ngoài các đồng minh, và phía Ukraine cũng không yêu cầu cấp phép như vậy”, ông Pevkur nói.
“Trong cuộc trao đổi, Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine đã xin lỗi vì sự cố xảy ra, đồng thời bày tỏ hài lòng rằng chúng tôi đã bắn hạ UAV đó", ông cho hay.
Latvia cũng cho biết đã phát hiện một UAV trên lãnh thổ nước này ngay trước buổi trưa ngày 19/5, đồng thời phát cảnh báo không kích tại một số khu vực phía đông.
Thông tin này xuất hiện trong bối cảnh tình báo Nga cáo buộc Ukraine chuẩn bị phóng UAV vào các mục tiêu Nga từ các căn cứ ở Latvia. Riga và Kiev đã bác bỏ hoàn toàn các cáo buộc này.
Vào tháng 3, Ukraine từng tuyên bố rằng họ có thông tin tình báo cho thấy Nga đã cố tình điều hướng UAV của Kiev về phía các quốc gia Baltic và Phần Lan nhằm tạo ra căng thẳng.
Mặt khác, Moscow từng cáo buộc các thành viên NATO, gồm 3 nước Baltic, ngầm cho phép Ukraine sử dụng không phận của họ để tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào mục tiêu ở tây bắc Nga, đặc biệt là các cảng xuất khẩu dầu ở vùng Leningrad.
Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Estonia Hanno Pevkur nói rằng phía Ukraine cần “giữ UAV tránh xa lãnh thổ của chúng tôi và kiểm soát hoạt động của chúng tốt hơn".
Tại Latvia, cả Thủ tướng Evika Silina và Bộ trưởng Quốc phòng Andris Spruds đều từ chức sau vụ 2 UAV cảm tử tầm xa của Ukraine bay vào một kho dầu bỏ trống gần thị trấn Rezekne, cách biên giới Nga khoảng 40km hồi đầu tháng.
Tin Gốc: Dân Trí

