Ngày 12/7, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi thông tin, kết quả kiểm tra quy trình tổ chức, phân tích dữ liệu điểm cho thấy không có dấu hiệu bất thường, tiêu cực trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 trên địa bàn tỉnh.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 tại Quảng Ngãi có 21.607 thí sinh. Toàn tỉnh có 49 điểm thi với 934 phòng thi, 3.749 người được huy động phục vụ kỳ thi. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi đã rà soát toàn diện hồ sơ tổ chức thi, hồ sơ coi thi, chấm thi, biên bản tại các điểm thi, việc bàn giao bài thi cũng như việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ.
Kết quả kiểm tra cho thấy, công tác chuẩn bị, coi thi, chấm thi đều được thực hiện đúng quy định. Không có cán bộ coi thi hoặc thí sinh vi phạm quy chế. Qua phân tích kết quả thi, điểm trung bình của thí sinh Quảng Ngãi đạt 5,7 điểm. Toàn tỉnh có 66 thí sinh đạt điểm 10, trong đó có 65 thí sinh lớp 12 và 1 thí sinh tự do, thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung cả nước.
Kết quả rà soát cũng cho thấy độ lệch giữa điểm trung bình học bạ lớp 12 và điểm thi tốt nghiệp của thí sinh Quảng Ngãi là 2,12 điểm, tương đồng với mặt bằng chung của cả nước. Phổ điểm các môn thi tương đối đều, không xuất hiện biến động bất thường. Các thí sinh đạt điểm 10 phân bố ở nhiều trường và nhiều điểm thi khác nhau.
Theo đánh giá của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi, kết quả thi phù hợp với năng lực học tập và quá trình ôn tập của học sinh, bảo đảm khách quan, công bằng và minh bạch. Sở sẽ lưu trữ hồ sơ, theo dõi, rà soát khi có yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc cơ quan có thẩm quyền.
Tin Gốc: Dân Trí

Ngày 3.4, Ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư phối hợp với Bộ GD-ĐT, ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo quốc gia: "Giải pháp công nghệ trong thực hiện chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục".
Chia sẻ tại hội thảo, ông Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH FPT, cho hay ở trường ông yêu cầu về tiếng Anh không phải là chuẩn đầu ra mà là chuẩn đầu vào. Sau khi trúng tuyển, em nào không đạt yêu cầu về tiếng Anh sẽ được tham gia một khóa học trước khi học chuyên ngành. Nhấn mạnh "tiếng Anh là công cụ, không phải là một môn học, bởi nếu là môn học thì mãi mãi nó chỉ là môn học", ông Tùng cho biết phần lớn chương trình đào tạo, thi cử… trong trường là bằng tiếng Anh.
Theo ông Tùng, để tiếng Anh như một công cụ, trách nhiệm lớn thuộc về các trường phổ thông. Sở dĩ hiện nay trường đại học (ĐH) phải dạy dự bị tiếng Anh cho sinh viên mới nhập học vì trường phổ thông chưa làm tốt việc đó, trường ĐH phải làm thay.
Ông Tùng đề nghị Bộ GD-ĐT cần cho phép trường phổ thông được sử dụng sách giáo khoa toán và các môn khoa học tự nhiên của nước ngoài, thay thế cho sách giáo khoa trong nước để nhà trường có thể dạy các môn này bằng tiếng Anh.
Đồng tình với ý kiến phải coi tiếng Anh là công cụ chứ không phải môn học, ông Đỗ Tuấn Minh, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH Ngoại ngữ (ĐH Quốc gia Hà Nội), cũng cho hay: "Chừng nào còn là môn học thì tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai còn xa vời lắm. Nó phải là công cụ", ông Tuấn Minh dẫn ví dụ một trong số ít trường ĐH đang có sự chuyển biến tích cực trong việc tuyên bố tiếng Anh không phải là ngoại ngữ mà là một ngôn ngữ là ĐH Kinh tế quốc dân. Tiếng Anh xuất hiện trong giáo trình đào tạo, trong các văn bản hành chính và giao tiếp, làm việc tự nhiên hằng ngày ở ĐH này.
Tiếp lời, ông Lê Anh Đức, Trưởng phòng Quản lý đào tạo, ĐH Kinh tế quốc dân, cho biết dù trường có khoảng 50 - 60% chương trình đào tạo thuần túy bằng tiếng Anh nhưng cách tiếp cận không chỉ coi đây là công cụ trong hoạt động chuyên môn mà trong các hoạt động khác của trường.
Việc tuyển dụng giảng viên, theo ông Đức, cũng chia 2 mảng, trong đó yêu cầu phải có chứng chỉ tiếng Anh đủ để sử dụng trong công việc, ưu tiên những người tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo quốc tế. Việc tuyển dụng nhóm hành chính cũng tương tự, nhóm tiếp xúc trực tiếp với cán bộ, giảng viên, sinh viên thì yêu cầu phải sử dụng được tiếng Anh trong soạn thảo văn bản, giao tiếp…
Ông Đức cũng cho biết mới đây ĐH này đã tiến hành khảo sát trình độ tiếng Anh của đội ngũ trong toàn trường để đánh giá lại và có những kế hoạch tiếp theo cho việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai. Về hạ tầng, tất cả các bảng chỉ dẫn trong trường đều trình bày ở dạng song ngữ…
Ông Lê Anh Đức cho rằng Nhà nước cần có chính sách cụ thể, bởi nếu các ĐH chỉ ưu tiên sinh viên đầu vào có năng lực tiếng Anh tốt thì các em đến từ địa bàn vùng sâu, vùng xa sẽ bất lợi, có thể giảm cơ hội vào trường tốt của các em. Do vậy, nếu có chính sách chung của Nhà nước thì các nhà trường sẽ tổ chức một khóa dự bị về tiếng Anh cho sinh viên ở những địa bàn khó khăn khi các em mới vào trường, tạo sự công bằng trong tiếp cận giáo dục cho các em
Đại diện Trường ĐH Sư phạm Hà Nội chia sẻ đã bổ sung 15 tín chỉ tiếng Anh dành cho sinh viên mới vào trường. Nhà trường cũng đã có các tài liệu chuẩn bị cho việc bồi dưỡng giáo viên phổ thông dạy một số môn (khoa học tự nhiên) bằng tiếng Anh trên toàn quốc.
Tham luận tại hội thảo, nhóm tác giả Nguyễn Đăng Nguyên, Đinh Ngọc Long, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng khó khăn lớn nhất là định kiến sai lầm của xã hội về tiếng Anh và ngôn ngữ Anh như một công cụ hay một điểm thi quốc tế.
Nhóm cũng nêu đề nghị VN cần đưa ra một định nghĩa chính thức "tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai" là gì và phân biệt với việc chỉ học thêm một ngoại ngữ.
Nhóm tác giả Nguyễn Đăng Nguyên, Đinh Ngọc Long cũng cho rằng cần đào tạo đội ngũ giáo viên (GV) có đủ năng lực giảng dạy song ngữ một cách bài bản. Đối với việc giảng dạy những môn học vốn đang được dạy bằng tiếng Việt hoặc những môn đại cương, cần rà soát khẩn trương khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh của đội ngũ GV hiện có, kể cả với các GV có chứng chỉ ngoại ngữ. Vì việc biết một thứ tiếng không thể đảm bảo rằng GV có đủ khả năng giảng dạy chuyên môn của mình bằng thứ tiếng đó.
Khi đã hoàn tất quy trình rà soát, ngành giáo dục có thể đặt hàng các khóa đào tạo tiếng Anh chuyên ngành hoặc giảng dạy bằng tiếng Anh chuyên ngành ở các cơ sở giáo dục ĐH để vừa nâng cao trình độ ngôn ngữ vừa đảm bảo kỹ năng giảng dạy cho GV.
Ông Đặng Văn Huấn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), cũng thông tin trong các nhóm khó khăn thì đội ngũ giảng viên cũng là một yếu tố cản trở. Khả năng thu hút và giữ chân giảng viên có trình độ chuyên môn cao, năng lực ngoại ngữ xuất sắc còn hạn chế tại nhiều trường do cạnh tranh từ các cơ sở đào tạo khác hoặc khu vực tư nhân.
Cạnh đó, vấn đề cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính là khó khăn phổ biến của nhiều trường. Môi trường học tập và cơ hội thực hành tiếng Anh còn hạn chế. Thiếu môi trường sử dụng tiếng Anh thường xuyên và tự nhiên ngoài giờ lên lớp, đặc biệt tại những trường ở các tỉnh, vùng xa trung tâm, làm giảm cơ hội thực hành và duy trì động lực học tập của sinh viên…
Ông Vũ Thanh Mai, Phó ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư, khẳng định vai trò người thầy là quan trọng nhất trong việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Vì vậy, việc nâng cao trình độ của đội ngũ GV, giảng viên phải được ưu tiên hàng đầu.
Bà Nguyễn Thị Mai Hữu, Trưởng ban quản lý Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân (Bộ GD-ĐT), nêu: "Việc triển khai đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục ĐH cần được thiết kế theo hướng phân tầng mục tiêu rõ ràng, nhằm bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với sự đa dạng của hệ thống giáo dục ĐH VN. Đối với nhóm các ĐH nghiên cứu và trường trọng điểm, mục tiêu là từng bước hình thành hệ sinh thái đào tạo song ngữ và tiến tới triển khai rộng rãi các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh (EMI) ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong các ngành khoa học, công nghệ, kinh tế và quản trị. Các cơ sở này cần đi đầu trong việc phát triển chương trình đào tạo song ngữ, trong đó từ 30% đến 70% học phần được giảng dạy bằng tiếng Anh, đồng thời mở rộng các chương trình EMI hoàn toàn với tỷ lệ học phần bằng tiếng Anh (trừ các nội dung bắt buộc triển khai bằng tiếng Việt)".
Nguồn: https://thanhnien.vn/can-coi-tieng-anh-la-cong-cu-khong-phai-la-mon-hoc-185260403220209412.htm
Giáo Dục
Lãnh đạo TP Đà Nẵng đặt thời hạn chót bàn giao 6 trường liên cấp vùng biên giới

Ngày 21-7, UBND thành phố Đà Nẵng cho biết Phó chủ tịch thường trực UBND thành phố Hồ Kỳ Minh ký công văn yêu cầu đẩy nhanh tiến độ thi công 6 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học - THCS tại các xã biên giới đất liền.
UBND thành phố Đà Nẵng yêu cầu Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật chủ trì, đôn đốc các nhà thầu tăng cường quản lý chất lượng trong quá trình thi công, nghiệm thu công trình theo quy định.
Đồng thời rà soát tiến độ từng dự án để phối hợp với các địa phương chuẩn bị điều kiện tổ chức giảng dạy và khai giảng năm học mới.
Ưu tiên triển khai các hạng mục bảo đảm an toàn khi đưa công trình vào sử dụng, nhất là tường chắn, kè ổn định mái dốc.
Tăng cường nhân lực, máy móc, thiết bị, vật tư và chủ động phương án dự phòng nhằm bảo đảm tiến độ thi công.
UBND thành phố yêu cầu tùy điều kiện thực tế từng điểm trường, các nhà thầu phấn đấu hoàn thành cơ bản các hạng mục quan trọng trước ngày 15-8 và hoàn thành toàn bộ công trình trước ngày 25-8.
Việc đưa các trường vào sử dụng phải bảo đảm đầy đủ điều kiện phục vụ học tập, giảng dạy và sinh hoạt; hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật thiết yếu như điện, nước, giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước, kè chống sạt lở.
Đồng thời có giải pháp bảo đảm an toàn đối với các hạng mục tiếp tục thi công, không làm ảnh hưởng đến hoạt động của nhà trường.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Hà Nội, Quảng Ninh nằm trong nhóm có tỷ lệ học sinh đỗ lớp 10 công lập thấp nhất cả nước
Năm 2025, trong số hơn 1,1 triệu thí sinh thi tốt nghiệp THPT, có 852.000 thí sinh đăng ký xét tuyển vào đại học. Số thí sinh trúng tuyển là 773.200, tức tương đương với khoảng 70%.
Trong khi đó, tỷ lệ thí sinh trúng tuyển lớp 10 công lập hàng năm tại nhiều tỉnh thành ít khi vượt qua mốc 70%.
Hà Nội là một trong những địa phương có tỷ lệ vào lớp 10 công lập thấp nhất cả nước. Năm học 2026-2027, toàn thành phố có khoảng 147.000 học sinh lớp 9 nhưng chỉ 81.448 em có suất vào lớp 10 công lập, tương đương 55,4%. Hơn 65.000 em còn lại sẽ học tư thục, học nghề hoặc có hướng đi riêng.
Số học sinh không được vào công lập của Hà Nội cao hơn tổng số học sinh lớp 9 của tỉnh Ninh Bình sau sáp nhập (gồm 3 tỉnh cũ là Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam), đồng thời cao gấp 3 lần tổng số học sinh lớp 9 của tỉnh Quảng Ninh.
Cách đây 10 năm (năm học 2015-2016), tỷ lệ học sinh Hà Nội được vào lớp 10 công lập là 66,7%. Con số này từng đạt 70,9% vào năm học 2016-2017 và nhiều năm liên tiếp duy trì quanh ngưỡng 63-66%.
Tuy nhiên, từ năm học 2022-2023 đến nay, tỷ lệ tuyển sinh công lập liên tục giảm dưới mốc 60%. Năm nay, con số 55,4% trở thành mức thấp nhất trong một thập kỷ.
Diễn biến này phản ánh rõ áp lực dân số cơ học tăng nhanh trong khi tốc độ mở rộng quy mô trường lớp công lập không theo kịp. Sau 10 năm, số học sinh lớp 9 của Hà Nội tăng thêm khoảng 66.000 em nhưng chỉ tiêu lớp 10 công lập chỉ tăng khoảng 27.000.
Tuy nhiên, Hà Nội không phải địa phương có tỷ lệ học công lập thấp nhất. Quảng Ninh - tỉnh có tăng trưởng GRDP cao nhất cả nước - cũng chỉ có khoảng 50,3% học sinh được học lớp 10 công lập năm học tới. Ngay cạnh Hà Nội là Bắc Ninh, sau sáp nhập, địa phương này cũng chỉ có 59% học sinh được học lớp 10 công lập.
Cần phát triển mô hình trung học nghề
TS Sái Công Hồng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học (Bộ GD&ĐT), nhận định, kỳ thi lớp 10 tại một số địa phương đã vượt ra khỏi tính chất của một kỳ thi chuyển cấp thông thường. Gốc rễ của vấn đề nằm ở cấu trúc hệ thống giáo dục khi trường công chưa theo kịp nhu cầu thực tế, còn phân luồng sau THCS vẫn chưa hiệu quả.
Theo TS Hồng, tại các địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao, số lượng học sinh tăng nhanh ngoài dự báo trong khi trường THPT công lập chưa được mở rộng tương ứng dẫn tới khoảng cách lớn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng.
“Phần lớn phụ huynh vẫn đặt mục tiêu vào trường công lập vì học phí thấp hơn, môi trường ổn định và niềm tin vào chất lượng giáo dục. Khi hơn 100.000 học sinh cùng dồn vào một “cánh cửa” không đủ rộng, áp lực là điều khó tránh khỏi”, ông Hồng nói.
Ông Nguyễn Văn Lực, nguyên giáo viên Trường THCS Trịnh Phong (Diên Khánh, Khánh Hòa), đưa thêm một góc nhìn khác, đó là sự chênh lệch chất lượng giữa các trường THPT khiến học sinh đổ dồn về một số trường điểm, gia tăng áp lực tuyển sinh cục bộ.
“Trong khi có những trường số lượng đăng ký thấp hơn chỉ tiêu thì nhiều trường khác lại có tỷ lệ chọi cực lớn. Chính sự không đồng đều về chất lượng đào tạo khiến áp lực thi vào lớp 10 công lập ở các đô thị, đặc biệt là trường chuyên, trường điểm, trở nên căng thẳng hơn cả thi đại học”, ông Lực nhận định.
Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học đề xuất, bên cạnh việc mở rộng trường lớp công lập, các địa phương có thể nghiên cứu mô hình xét tuyển kết hợp đánh giá năng lực để giảm áp lực thi cử.
TS Sái Công Hồng cũng cho rằng cần đẩy nhanh phát triển mô hình trường trung học nghề - loại hình vừa được bổ sung vào cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân - nhằm tạo thêm lựa chọn học tập cho học sinh sau THCS và giảm áp lực dồn vào lớp 10 THPT.
Theo ông, điểm khác biệt của mô hình này là học sinh vừa được học văn hóa phổ thông, vừa được đào tạo nghề ngay từ sớm thay vì tách biệt hoàn toàn giữa học văn hóa và học nghề như trước đây. Điều này giúp học sinh có thể linh hoạt lựa chọn tiếp tục học lên cao hoặc tham gia thị trường lao động với kỹ năng nghề nghiệp cụ thể.
"Lâu nay, nhiều phụ huynh vẫn có tâm lý nếu không vào THPT công lập là thất học, trong khi thực tế nền kinh tế đang rất cần lực lượng lao động kỹ thuật chất lượng cao. Nếu các trường trung học nghề được đầu tư bài bản, có đầu ra tốt, được xã hội nhìn nhận đúng giá trị thì áp lực vào lớp 10 sẽ giảm đáng kể", TS Hồng nhận định.
Theo vị chuyên gia, phân luồng chỉ hiệu quả khi học sinh và phụ huynh thực sự nhìn thấy cơ hội nghề nghiệp, thu nhập và khả năng phát triển lâu dài từ giáo dục nghề nghiệp, thay vì coi đây là lựa chọn "bất đắc dĩ" sau một kỳ thi nhiều áp lực.
Tin Gốc: Dân Trí

