Tham dự Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam có 780 đại biểu ưu tú, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của gần 10 triệu đoàn viên công đoàn trên cả nước. Đây là những cán bộ công đoàn, đoàn viên tiêu biểu đại diện cho các ngành nghề, lĩnh vực, địa phương và đơn vị trong cả nước.
Trước khi bước vào chương trình làm việc, sáng cùng ngày, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam cùng các đại biểu dự đại hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ trên đường Bắc Sơn (Hà Nội).
Với phương châm “Đoàn kết – dân chủ – kỷ cương – đổi mới – phát triển”, Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam giai đoạn 2023 – 2026; kiểm điểm hoạt động của Ban Chấp hành Tổng LĐLĐ Việt Nam khóa XIII; xác định mục tiêu, nhiệm vụ và các khâu đột phá của nhiệm kỳ 2026 – 2031; sửa đổi Điều lệ Công đoàn Việt Nam; đồng thời bầu Ban Chấp hành Tổng LĐLĐ Việt Nam khóa XIV.
Theo chương trình, đại hội tập trung thảo luận sâu về các văn kiện, dự thảo điều lệ, chương trình hành động nhiệm kỳ mới và các giải pháp phát triển đoàn viên.
Các đại biểu cũng tham gia thảo luận chuyên đề tại 5 trung tâm thảo luận, tập trung vào những vấn đề lớn liên quan đến tổ chức và hoạt động công đoàn trong giai đoạn mới.
Đại hội cũng phát động phong trào thi đua trong cán bộ, đoàn viên, người lao động nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Bên lề đại hội, nhiều đại biểu bày tỏ kỳ vọng đại hội sẽ đề ra những giải pháp đột phá nhằm nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Ông Mai Mạnh Dũng, Chủ tịch Công đoàn Tổng công ty Máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM), cho rằng đại hội cần tiếp tục có những định hướng, cơ chế cụ thể để khuyến khích và lan tỏa phong trào “Lao động giỏi – lao động sáng tạo”.
“Tôi tin tưởng phong trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo sẽ tiếp tục trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước trong thời gian tới”, ông Dũng nói.
Ông Nguyễn Huy Thông, Chủ tịch Công đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam, kỳ vọng đại hội sẽ đề ra các giải pháp đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động công đoàn, nâng cao hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước trong tình hình mới.
“Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò của phong trào thi đua yêu nước như một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần xây dựng đội ngũ công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh”, ông Thông chia sẻ.
Nhiều ý kiến cũng cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tổ chức công đoàn cần tiếp tục phát huy vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; đồng thời tạo môi trường thuận lợi để người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ nghề nghiệp và năng suất lao động.
Bà Đỗ Thị Hiền, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Thái Nguyên, bày tỏ kỳ vọng Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam sẽ đề ra những quyết sách mang tính chiến lược, tạo bước đột phá trong đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn, qua đó nâng cao hiệu quả đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền lợi đoàn viên, người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Phó chủ tịch HĐND TP Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai chủ trì hội thảo.
Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó chủ tịch HĐND TP Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai cho biết đề án vùng phát thải thấp (đề án) là một nội dung mới, khó, có phạm vi tác động rộng đến người dân, hoạt động sản xuất, kinh doanh và tổ chức không gian đô thị.
Hiện thời gian chuẩn bị không còn nhiều, vì vậy yêu cầu đặt ra đối với đề án là phải bảo đảm tính khả thi, tính đồng bộ và khả năng tổ chức thực hiện trên thực tế. Qua đó để người dân hiểu, đồng thuận, tránh gây xáo trộn đột ngột, ảnh hưởng đến cuộc sống của Nhân dân.
Thông tin về đề án tại hội thảo, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Minh Tấn cho biết đề án trên là một nhiệm vụ rất mới, rất khó, lần đầu tiên tổ chức ở Việt Nam.
"Nguồn ô nhiễm môi trường không khí đến từ các phương tiện giao thông chiếm tỉ lệ rất lớn, được đánh giá là một trong những nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường không khí của thủ đô. Do vậy việc nghiên cứu nhằm đưa ra các biện pháp để giảm thiểu phát thải từ các nguồn giao thông là vô cùng quan trọng", ông nói.
Trước thực tế trên, ông Tấn cho biết TP sẽ xây dựng vùng phát thải thấp với triết lý sẽ giảm thiểu các loại xe cộ phát thải qua việc nâng cao chất lượng của phương tiện. Đồng thời TP sẽ chuyển đổi xanh với phương tiện và thúc đẩy phát triển giao thông công cộng.
Tuy nhiên hiện còn nhiều thách thức trong quá trình xây dựng vùng phát thải thấp. Trong đó có thách thức về việc đo kiểm, xác định chất lượng của phương tiện phát thải.
Ngoài ra việc thay thế, chuyển đổi phương tiện giao thông sẽ tác động lên chi phí, tài sản của người dân.
Đồng thời thách thức còn tới từ việc bố trí phương tiện giao thông công cộng thay thế cho xe cá nhân và các biện pháp bảo đảm về tổ chức giao thông, camera giám sát, phiếu nhận diện, phương án xử phạt…
Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện các đơn vị cung cấp phương tiện giao thông đã trao đổi, đóng góp nhiều ý kiến để Hà Nội đưa ra giải pháp tốt nhất, mang lại hiệu quả trong thực hiện vùng phát thải thấp.
Trong đó các chuyên gia đề nghị cần làm rõ cơ chế kiểm soát, hạn chế xe cộ. Đồng thời cần xác định rõ nhu cầu lõi, từ đó có giải pháp phù hợp trong hạn chế xe cộ cá nhân. Thêm nữa Hà Nội cần làm rõ "tiêu chuẩn xanh" đối với vấn đề môi trường để bảo đảm công khai, minh bạch.
Ngoài ra, theo các chuyên gia, Hà Nội cũng cần có giải pháp hỗ trợ người dân chuyển đổi xe cộ thay thế trước khi thực hiện các giải pháp hạn chế xe cá nhân, nhằm bảo đảm công bằng.
Phát biểu kết luận hội thảo, Trưởng Ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường HĐND TP Nguyễn Thị Diễm Hằng ghi nhận những ý kiến đóng góp của các đại biểu, chuyên gia. Đồng thời bà đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Sở Xây dựng tiếp thu đầy đủ những nội dung góp ý để hoàn thiện đề án.
Chiều 2/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Ông nhấn mạnh việc sơ kết không thể chỉ dừng ở các con số như giảm bao nhiêu đầu mối, sắp xếp bao nhiêu tổ chức, xử lý bao nhiêu trụ sở hay phân cấp được bao nhiêu nhiệm vụ, mà phải đánh giá được chất lượng vận hành của mô hình mới.
Theo người đứng đầu Đảng, Nhà nước, báo cáo cần trả lời rõ các câu hỏi: bộ máy có tinh gọn hơn không, vận hành có thông suốt hơn không, quyền hạn và trách nhiệm có rõ ràng hơn không, việc phục vụ người dân và doanh nghiệp có tốt hơn không, mô hình mới có tạo động lực phát triển hay không, và quan trọng nhất là có nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị hay không.
Ông ghi nhận hệ thống chính trị đã triển khai khối lượng công việc rất lớn với phạm vi rộng và yêu cầu cao. Tuy nhiên, thành công trong giai đoạn sắp xếp tổ chức chưa đồng nghĩa với thành công trong giai đoạn vận hành. "Từ nay trở đi yêu cầu trọng tâm là phải chuyển từ sắp xếp xong bộ máy sang vận hành tốt bộ máy, từ ổn định tổ chức sang nâng cao chất lượng quản trị, từ phân cấp nhiệm vụ sang bảo đảm năng lực thực thi", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Đề cập những vấn đề cần tiếp tục làm rõ trong quá trình sơ kết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu nhìn thẳng vào các điểm nghẽn lớn đang đặt ra. Về thể chế và cơ chế vận hành, ông cho rằng một số quy định, quy trình hướng dẫn đã được ban hành nhưng chưa thực sự đồng bộ, chưa theo kịp yêu cầu của mô hình mới.
Đối với phân cấp, phân quyền, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải gắn với nguồn lực. Việc giao quyền phải đi đôi với giao trách nhiệm, tài chính, nhân lực, dữ liệu và công cụ thực hiện. Nếu chỉ giao việc mà không bảo đảm điều kiện thực thi thì cấp dưới và cán bộ cơ sở sẽ gặp nhiều khó khăn. Ngược lại, nếu phân cấp mạnh nhưng thiếu kiểm tra, giám sát sẽ dễ phát sinh rủi ro trong thực thi quyền lực, thậm chí dẫn đến tâm lý e ngại, không dám làm.
Về mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện nay được chuyển xuống cấp xã, trong khi năng lực cán bộ, hạ tầng, cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính và cơ chế hỗ trợ chuyên môn giữa các địa bàn vẫn chưa đồng đều.
Ông cũng chỉ ra điểm nghẽn về chuyển đổi số, dữ liệu và năng lực tổ chức thực hiện. Đây là yếu tố mang tính quyết định bởi chủ trương đúng, thể chế đúng và mô hình đúng nhưng nếu khâu thực hiện yếu thì kết quả sẽ không đạt yêu cầu. Vì vậy, báo cáo cần chỉ rõ nơi làm tốt, nơi còn lúng túng, cấp nào còn yếu, khâu nào còn chậm và trách nhiệm của người đứng đầu ở từng ngành, địa phương.
Định hướng hoàn thiện báo cáo sơ kết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị nâng cao hơn nữa tính khái quát, chiều sâu lý luận, tính thực tiễn và sức thuyết phục. Báo cáo cần có luận điểm trung tâm rõ ràng, tập trung đánh giá việc sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực quản trị và năng lực tổ chức thực hiện của toàn hệ thống chính trị.
Ông yêu cầu bổ sung các nội dung đánh giá sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong mô hình mới; năng lực vận hành của chính quyền địa phương hai cấp, nhất là cấp xã; hiệu quả phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực và kiểm soát quyền lực; mức độ chuyển đổi số, quản trị dựa trên dữ liệu; đồng thời nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả vận hành của mô hình mới và tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ để điều chỉnh phù hợp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh cuộc cải cách tổ chức bộ máy lần này có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển lâu dài của đất nước. Mục tiêu không chỉ là giảm đầu mối mà phải xây dựng bộ máy mạnh hơn, vận hành thông suốt hơn, trách nhiệm hơn, hiệu quả hơn và phục vụ nhân dân tốt hơn; đồng thời tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Theo thông tin của tỉnh Khánh Hòa, dự án Cảng hàng không Vân Phong thuộc danh mục dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư của tỉnh, được quy hoạch tại xã Vạn Thắng thuộc Khu kinh tế Vân Phong (Khánh Hòa).
Dự án Cảng hàng không Vân Phong đang được kêu gọi đầu tư là sân bay nội địa và quốc tế, có quy mô giai đoạn hoàn thiện 497,1ha, dự kiến giai đoạn 1 mỗi năm sẽ đạt 1,5 triệu lượt hành khách. Tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 9.200 tỉ đồng.
Mục tiêu dự án xây dựng Cảng hàng không Vân Phong là nhằm hình thành cửa ngõ giao thông hàng không quan trọng của vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, logistics và hội nhập quốc tế; đồng thời tạo động lực chiến lược cho phát triển Khu kinh tế Vân Phong và khu vực lân cận.
Theo tỉnh Khánh Hòa, dự án Cảng hàng không Vân Phong phù hợp quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Phong đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh (tại quyết định số 298/QĐ-TTg ngày 27-3-2023).
Dự án cũng phù hợp quyết định điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 và kế hoạch sử dụng đất năm đầu của huyện Vạn Ninh khi UBND tỉnh Khánh Hòa phê duyệt vào tháng 3-2024.
Mới đây, Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt đề cương lập điều chỉnh Quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm nghiên cứu bổ sung hai cảng hàng không mới là Cảng hàng không Vân Phong (Khánh Hòa) và Măng Đen (Quảng Ngãi) vào quy hoạch đã nêu và điều chỉnh cấp sân bay của Cảng hàng không Quảng Trị.
Theo đó, Cảng hàng không Vân Phong tại vị trí quy hoạch dự án xây dựng ở Khu kinh tế Vân Phong kể trên cách Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 108km về phía nam và Cảng hàng không Tuy Hòa (tỉnh Đắk Lắk) ở phía bắc khoảng 48km.
Ngày 17-4, Tuổi Trẻ Online đã hỏi ông Châu Ngô Anh Nhân - Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Khánh Hòa - về kết quả kêu gọi đầu tư dự án Cảng hàng không Vân Phong cho đến nay và ông Nhân cho biết "hiện đang chờ duyệt quy hoạch".