Thông tin trên được đưa ra khi Ngoại trưởng Vương Nghị đang có chuyến thăm Canada, bắt đầu từ ngày 28.5. Đây cũng là chuyến thăm đầu tiên của một ngoại trưởng Trung Quốc tới Canada trong vòng 10 năm qua.
“Quan hệ song phương đã được khởi động lại, các cuộc trao đổi và hợp tác trên tất cả các lĩnh vực đã được khôi phục hoàn toàn và các mối quan ngại kinh tế và thương mại chính của cả hai bên đã được giải quyết thỏa đáng”, ông Vương Nghị nói với người đồng cấp Canada Anita Anand, theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc. “Hai bên đã nhất trí… nối lại các cuộc tham vấn về các vấn đề chính trị và an ninh ở cấp bộ ngoại giao, cũng như đối thoại cấp cao về an ninh quốc gia và pháp quyền”, tuyên bố cho biết.
Trung Quốc đã giảm một số thuế đối với hàng hóa Canada trong năm nay, trong khi Ottawa đồng ý nhập khẩu hàng chục nghìn xe điện Trung Quốc theo mức thuế ưu đãi, theo AFP. Nhìn lại những năm trước, việc Canada bắt giữ bà Mạnh Vãn Chu, Giám đốc tài chính của Tập đoàn Huawei (Trung Quốc), hồi năm 2018 đã khiến Trung Quốc trả đũa, đẩy quan hệ hai nước vào tình trạng đóng băng. Quan hệ càng căng thẳng hơn do những cáo buộc Trung Quốc can thiệp vào các cuộc bầu cử ở Canada năm 2019 và 2021, điều mà Bắc Kinh phủ nhận.
Về phía Canada, bà Anand nói với ông Vương rằng Canada muốn tăng xuất khẩu sang Trung Quốc thêm 50% trước năm 2030, trong khi vẫn bảo vệ các lợi ích và giá trị kinh tế, an ninh quốc gia của Canada. Nhắc lại mục tiêu được Thủ tướng Mark Carney đưa ra trong chuyến thăm Bắc Kinh trước đó, bà Anand nhấn mạnh lãnh đạo hai nước đã vạch ra một tầm nhìn rõ ràng và đầy tham vọng cho mối quan hệ song phương được điều chỉnh lại, theo CBC. Ông Vương cũng đã có cuộc gặp ông Carney ngày 29.5.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thế Giới
Kiều bào trẻ: Sẽ kể câu chuyện Việt Nam bằng tiếng Việt như một cách để kết nối cội nguồn

Tối 13-7 tại Hà Nội, Trại hè Việt Nam 2026 dành cho thanh thiếu niên kiều bào với chủ đề "Hành trình di sản, gắn kết cội nguồn" chính thức khai mạc.
Chương trình do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao) tổ chức, quy tụ 105 thanh niên, sinh viên người Việt Nam ở nước ngoài đến từ 32 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Năm nay, kiều bào trẻ sẽ đi qua 8 tỉnh thành, khởi đầu từ Hà Nội, đến Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Gia Lai và Khánh Hòa.
Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng chào mừng tất cả kiều bào trẻ trở về quê hương.
Nhấn mạnh chủ đề "Hành trình di sản, gắn kết cội nguồn", bà cho biết các em sẽ cùng nhau đi qua hành trình gần 1.500km, về thăm quê Bác, đến với những di tích lịch sử, di sản văn hóa của dân tộc, gặp gỡ những người dân ở nhiều vùng miền, tham gia các hoạt động thiện nguyện, giao lưu với thanh niên trong nước và cùng nhau gìn giữ, lan tỏa tiếng Việt.
Các thanh thiếu niên người Việt ở nước ngoài cũng sẽ đến với Trung tâm Khám phá khoa học Quy Nhơn, giao lưu với cán bộ, học viên Học viện Hải quân, dâng hương tại Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma và thăm Nhà trưng bày Hoàng Sa.
"Mỗi điểm đến đều được lựa chọn với một mong muốn rất giản dị: giúp các em hiểu hơn về Việt Nam, hiểu lịch sử để thêm tự hào, hiểu văn hóa để thêm yêu, hiểu con người để thêm gắn bó và hiểu Việt Nam hôm nay để thêm tin vào tương lai đất nước", bà Hằng chia sẻ.
Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng cho biết trong giai đoạn phát triển, Việt Nam cần những người trẻ có tri thức, có bản lĩnh, có khả năng kết nối với thế giới và luôn mang trong mình khát vọng cống hiến. Theo bà, kiều bào trẻ có lợi thế khi được học tập trong môi trường đa dạng, có cơ hội tiếp cận tri thức mới.
"Điều làm nên giá trị đặc biệt của các em không chỉ là những kiến thức các em có, mà còn là tình yêu dành cho quê hương Việt Nam.
Tôi không mong tất cả các em đều sẽ trở về Việt Nam để sinh sống hay làm việc, mỗi người sẽ có con đường riêng của mình. Nhưng tôi mong, dù ở đâu, các em cũng luôn tự hào mình là người Việt Nam, luôn giữ gìn tiếng Việt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và luôn hướng về quê hương.
Khi có cơ hội, hãy chia sẻ với bạn bè quốc tế về một Việt Nam hòa bình, thân thiện và đang phát triển năng động. Khi có điều kiện, hãy mang những kiến thức, kinh nghiệm và những kết nối của mình về với Việt Nam", bà nhắn nhủ và khẳng định Việt Nam sẽ luôn rộng mở để chào đón nếu các em lựa chọn trở về học tập, nghiên cứu.
Bà hy vọng kiều bào trẻ hãy quan sát và lắng nghe thật nhiều trong hành trình Trại hè Việt Nam.
"Tôi hy vọng các em sẽ hiểu thêm về đất nước, thêm yêu con người Việt Nam và luôn cảm thấy mình có một phần gắn bó với tương lai của quê hương", bà nói.
Phát biểu đại diện cho kiều bào, Mai Hải Khôi - kiều bào từ Ba Lan - nói rằng các bạn trẻ dù sinh ra và lớn lên ở nước ngoài và chưa từng sống ở Việt Nam ngày nào nhưng ở nhà "lúc nào cũng có một góc rất Việt Nam".
"Đó là nồi phở bố nấu vào cuối tuần, thơm đến mức hàng xóm phải sang hỏi. Đó là bà gọi điện về hỏi "cháu ăn cơm chưa", là đến ngày Tết cả nhà vẫn gói bánh chưng dù người ta vẫn đi làm bình thường", Khôi chia sẻ.
Chia sẻ bằng tiếng Việt dù có đôi từ chưa sõi, Hải Khôi cho biết việc giữ được tiếng Việt không dễ khi sinh sống trong môi trường nước ngoài.
"Cháu nghĩ đó cũng là lý do vì sao chuyến đi này quan trọng đến vậy. 14 ngày tới, chúng cháu sẽ được đi qua 8 tỉnh, thành phố. Chúng cháu sẽ được thắp hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, được ra biển để hiểu vì sao mỗi lần nhắc đến biển đảo, người lớn lại xúc động đến thế, được gặp các ông bà, cô chú kiều bào thế hệ đi trước - những người đã thành công ở nước ngoài mà vẫn không quên mình là người Việt, trở về đóng góp cho quê hương", Hải Khôi nói.
Kiều bào trẻ bày tỏ quyết tâm sẽ tham gia hành trình Trại hè Việt Nam thật nghiêm túc, chụp nhiều ảnh và quay nhiều video.
"Khi về lại nước, chúng cháu sẽ kể cho bạn bè, cho các em nhỏ trong cộng đồng nghe. Kể bằng tiếng Việt của chúng cháu, dù có thể chưa hay lắm, nhưng là thật lòng. Chúng cháu tin rằng dù đi xa đến đâu, mình vẫn luôn tìm được đường về nhà", Hải Khôi phát biểu trong sự cổ vũ của đông đảo kiều bào và đại biểu tham dự khai mạc.
Nói với Báo điện tử Tuổi Trẻ, Vũ Ngọc Tâm Như (19 tuổi, Việt kiều Canada) và Nguyễn Thảo Linh (21 tuổi, Việt kiều Đức) cho biết dù đã nhiều lần trở về thăm quê hương, song đây là lần đầu tiên hai bạn tham gia chương trình Trại hè Việt Nam.
Với Tâm Như, đây không chỉ là cơ hội để kết nối với bạn bè người Việt trên khắp thế giới mà còn với nguồn cội, gốc gác của mình. Kiều bào trẻ mong được tìm hiểu nhiều hơn về lịch sử, đất nước Việt Nam và học cách gìn giữ bản sắc văn hóa dù ở bất cứ nơi đâu.
Trong khi đó, Thảo Linh nói rằng cô rất mong muốn được trò chuyện với những người đã đi qua chiến tranh để hiểu hơn về những khó khăn mà thế hệ cha ông đã trải qua.
Với nhiều bạn trẻ, Trại hè Việt Nam là cơ hội để tìm lại sợi dây gắn kết với tiếng Việt. Nguyễn Mạnh Triết (17 tuổi, Việt kiều Đức) cũng mang theo một mục tiêu như vậy khi tham gia chương trình.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Thế hệ những nhà ngoại giao đi trước của hai nước - những người sinh ra trong thời kỳ khói lửa, trực tiếp cầm súng hoặc chứng kiến những giờ phút quan trọng của năm 1975 - đã phần nào hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Họ đã bắc những nhịp cầu đầu tiên, biến cựu thù thành đối tác, rồi thành Đối tác chiến lược toàn diện.
Giờ đây, khi những bóng dáng cũ dần lùi xa chính trường, trọng trách vun đắp mối quan hệ này đặt lên vai thế hệ sau năm 1975.
Đây là thế hệ không mang trên mình vết sẹo trực tiếp của chiến tranh, nhưng gánh vác một trọng trách to lớn: định vị mối quan hệ song phương Việt - Mỹ trong một thế giới đầy biến động, nơi trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi cung ứng, địa chính trị và an ninh phi truyền thống đang vẽ lại bản đồ quyền lực toàn cầu.
Sự xuất hiện của các nhà chính trị ngoại giao Mỹ sinh sau năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt: từ ngoại giao "hậu chiến" sang ngoại giao "tương lai".
Đối với họ, Việt Nam không còn là một cái tên gắn liền với một cuộc chiến tranh xa xôi, mà là một đối tác quan trọng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, một nền kinh tế bùng nổ và là phần quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.
Tôi vẫn còn nhớ cách đây vài năm, Elbridge Colby, sinh năm 1979, người hiện giữ chức Thứ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ phụ trách chính sách, đã có một chuyến thăm và phát biểu tại TP.HCM.
Lúc đó Elbridge đang làm cho một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ có tên Center for a New American Security (CNAS) sau khi rời Bộ Quốc phòng Mỹ trong nhiệm kỳ 1 của Tổng thống Donald Trump.
Trong buổi tối hôm đó, tôi và Colby ngồi trên tầng thượng của khách sạn Caravelle, nhâm nhi một ly bia lạnh và cùng phóng tầm mắt về phía Nhà hát Thành phố.
Caravelle không chỉ là một khách sạn hạng sang, đó là chứng nhân lịch sử, nơi đặt văn phòng của các hãng tin quốc tế và là điểm đóng quân của nhiều quan chức Mỹ trước năm 1975, trong đó có ông nội của Elbridge - William Colby, cựu Giám đốc CIA - từng là Trưởng trạm CIA tại Sài Gòn.
Ngồi tại nơi mà ông nội mình từng trú ngụ, Elbridge Colby đã bất chợt hỏi tôi: "Liệu người Việt Nam các bạn hiện còn ghét cái tên Colby vì những gì ông nội tôi đã làm ở Việt Nam không?". Tôi cười lớn và đáp: "Chúng tôi trân trọng lịch sử, nhưng chúng tôi không sống trong đó. Người Việt Nam chúng tôi luôn hướng về tương lai".
Tôi hiểu rằng câu hỏi của Colby phản ánh một nỗi trăn trở cũ của người Mỹ, đặc biệt những người có người thân từng tham gia chiến tranh Việt Nam, mà chúng ta hay gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều thập kỷ qua, quan hệ Việt - Mỹ được vận hành bởi một mối quan tâm đặc biệt: sự hòa giải. Những người "lính già" như John McCain, John Kerry đã từng dành cả đời để kéo hai quốc gia ra khỏi hố sâu của quá khứ.
Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ ngồi lại và nói về lịch sử mãi được. Trong những buổi nói chuyện cà phê hay buổi ăn trưa của tôi với các nhà ngoại giao Mỹ, chúng tôi thường nói về an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, về việc làm thế nào để Việt Nam trở thành một cứ điểm quan trọng trong ngành bán dẫn, cũng như cách Việt Nam ứng phó trong bối cảnh địa chính trị đầy rủi ro.
Một nhà ngoại giao Mỹ trẻ tuổi khác ở TP.HCM chỉ mới tới thành phố năng động này hơn một năm trước, hào hứng kể với tôi rằng anh đã mua một chiếc xe hơi để có thể tự lái xe đi du lịch xuyên Việt. Anh kể về những nơi ở Việt Nam mà anh đã đi qua, thậm chí tới cả những nơi mà người Việt như tôi chưa từng đặt chân tới.
Những người như thế hệ của Elbridge Colby đều hiểu rằng vì không trực tiếp trải qua xung đột, những nhà ngoại giao sinh sau cuộc chiến ít bị ràng buộc bởi những cảm xúc cá nhân hay những tranh cãi ý thức hệ cũ kỹ. Điều này cho phép họ tiếp cận các vấn đề song phương bằng một sự thực dụng (pragmatism) cao độ.
Giờ đây, đối với nước Mỹ, Việt Nam không còn là tên của một cuộc chiến, một nỗi đau chia rẽ nước Mỹ, hay những thước phim đen trắng về trực thăng trên nóc tòa đại sứ; mà là "một đối tác chiến lược toàn diện" không thể thiếu để duy trì một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mở và tự do.
Còn đối với Việt Nam, Mỹ không còn là "kẻ thù cũ", mà là một thị trường xuất khẩu khổng lồ cho hàng hóa Việt Nam, công nghệ hàng đầu thế giới, cũng như một đối tác an ninh đáng tin cậy.
Trong thập kỷ qua, tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục nằm trong nhóm cao nhất thế giới. Quốc gia này đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một điểm đến "Trung Quốc cộng một" cho các gã khổng lồ công nghệ như Samsung, Apple hay Intel.
Nhưng đối với thế hệ hậu chiến, sức hút không chỉ nằm ở chi phí nhân công hay vị trí chiến lược. Đó còn là nguồn năng lượng lạc quan của một đất nước nơi khoảng 70% dân số sinh sau khi chiến tranh kết thúc. Họ nhìn nhận Việt Nam là một thực thể kinh tế năng động, một đối tác chiến lược tại Đông Nam Á, chứ không phải là một "vết thương tâm lý" cần được chữa lành.
Thế hệ trước ưu tiên việc tìm kiếm quân nhân mất tích (POW/MIA) và tẩy độc dioxin - những vấn đề vẫn quan trọng nhưng mang tính di sản, thế hệ nhà ngoại giao mới đang dần tập trung thẳng vào bán dẫn, sự dẻo dai của chuỗi cung ứng, AI và an ninh khu vực.
Trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc kẹt trong cái mà các nhà phân tích gọi là "lăng kính song phương hẹp". Mọi cuộc đối thoại đều xoay quanh việc xử lý dioxin, tìm kiếm hài cốt (MIA) và những cử chỉ ngoại giao nhằm chứng minh rằng hai kẻ thù cũ đã thực sự là bạn.
Do đó điểm nhấn quan trọng nhất trong tầm nhìn của thế hệ nhà ngoại giao mới chính là việc đặt Việt Nam vào trung tâm của cấu trúc an ninh và kinh tế khu vực.
Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023 không chỉ là một danh xưng. Nó phản ánh một thực tế mới: Việt Nam là một "điểm nút thắt" quan trọng trong chiến lược chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi những rủi ro địa chính trị.
Bên cạnh đó an ninh phi truyền thống - từ biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho đến an ninh y tế sau đại dịch COVID-19 - cũng đang trở thành những ưu tiên hàng đầu.
Anh Justin, một nhà ngoại giao Mỹ mà tôi rất quý, từng nhận xét: "Khi chúng tôi tặng các tủ lạnh bảo quản vắc xin hay hỗ trợ công nghệ chuyển đổi năng lượng sạch, đó không chỉ là viện trợ. Đó là sự đầu tư vào một tương lai chung. Chúng tôi luôn muốn một Việt Nam tự cường và thịnh vượng".
Mối quan hệ này không còn là câu chuyện song phương tách biệt, nó được đặt trong cấu trúc an ninh đa phương tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Thế hệ mới hiểu rằng một Việt Nam tự cường về quốc phòng và độc lập về ngoại giao là lợi ích chiến lược của Mỹ, và ngược lại, sự hiện diện ổn định của Mỹ là yếu tố cân bằng cho cấu trúc an ninh khu vực.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ngày càng căng thẳng, Việt Nam đang trở thành một hình mẫu của sự thích ứng.
Thế hệ nhà ngoại giao Mỹ mới nhìn nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chiến lược "Friend-shoring" (dịch chuyển sản xuất sang các nước thân thiện) của Mỹ. Việc vun đắp quan hệ giờ đây nằm ở việc Việt Nam có thể tham gia sâu đến đâu vào hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ cao của Intel, Nvidia hay Apple.
Những khuôn mặt nhà ngoại giao Mỹ của Đảng Dân chủ từng trực tiếp "cầm lái" chính sách của Mỹ tại khu vực như cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan, sinh năm 1976, hay Mira Rapp-Hooper, sinh năm 1984, cựu trợ lý đặc biệt Tổng thống Biden hay cho đến Elbridge Colby của Đảng Cộng hòa đều nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia có tiếng nói trọng yếu trong việc duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông, cũng như đối phó các thách thức về biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống tại hạ lưu sông Mekong.
Việt Nam và Mỹ đang xây dựng một mối quan hệ đa lớp và toàn diện. Một mặt, đó là sự hợp tác quốc phòng ngày càng được thể chế hóa với những chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ, cũng như hỗ trợ phòng chống thiên tai.
Mặt khác, đó là những thỏa thuận về việc giúp đỡ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành công nghệ Việt Nam.
Mới nhất vào cuối tháng 2-2026, Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược D1-D3 (phân loại các quốc gia theo mức độ hạn chế khi doanh nghiệp Mỹ xuất khẩu hàng hóa, phần mềm và công nghệ nhạy cảm), qua đó sẽ mở đường để Việt Nam tiếp cận với các công nghệ tiên tiến.
Quá khứ không thể thay đổi, nhưng rõ ràng chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau định hình tương lai. Đó cũng là sự can đảm từ cả hai bên để từ bỏ những định kiến cũ, để chấp nhận rằng sự khác biệt về hệ thống chính trị không phải là rào cản cho một tương lai chung.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Trong đoạn video ngày 21.4, Tổng tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Nga Valery Gerasimov cho hay kể từ đầu năm, quân đội Nga đã kiểm soát tổng cộng hơn 80 khu định cư. Ông nói các đơn vị thuộc Cụm quân phía nam của Nga đang tấn công tuyến phòng thủ bao quanh các thành phố chiến lược gồm Sloviansk, Kramatorsk và Kostiantynivka.
Theo Reuters dẫn lời ông Gerasimov, lực lượng Nga hiện chỉ còn cách Sloviansk và Kramatorsk khoảng 7 - 12 km, đồng thời đã giao tranh tại một số khu vực ở Kostiantynivka. Ngoài ra, Moscow cũng đang mở rộng hoạt động tại khu vực Sumy ở phía bắc và Kharkiv ở đông bắc nhằm thiết lập cái gọi là "vùng an ninh".
Theo ước tính của phía Nga, Moscow đang kiểm soát khoảng 90% Donbass, 75% các vùng Zaporizhzhia và Kherson, cùng một phần của các khu vực Kharkiv, Sumy, Mykolaiv và Dnipropetrovsk ở Ukraine.
Tuy nhiên, các nguồn theo dõi độc lập và bản đồ ủng hộ Ukraine cho thấy Nga mới kiểm soát khoảng 600 km2 trong năm 2026, với tổng diện tích khoảng 116.793 km2, tương đương 19,35% lãnh thổ Ukraine. Tốc độ tiến quân của Moscow được đánh giá đã chậm lại so với trước.
Ngoài ra, Tư lệnh quân đội Ukraine Oleksandr Syrskyi cho biết Kyiv đã tái kiểm soát gần 50 km2 lãnh thổ trong tháng 3.
Phía Ukraine cho biết đã đẩy lùi một số đợt tấn công của Nga, theo Reuters. Cụ thể, quân đội Ukraine ngày 21.4 đã chặn đứng 2 mũi tiến công gần Sloviansk trong 24 giờ qua, đồng thời ghi nhận 19 cuộc tấn công của Nga quanh Kostiantynivka và khu vực lân cận. Ở vùng Kharkiv, Nga cũng tiến hành ít nhất 5 nỗ lực xuyên phá phòng tuyến gần biên giới nhưng chưa đạt kết quả rõ rệt.
Phát biểu với Hãng thông tấn Ukrinform tối 20.4, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky bác bỏ khả năng rút quân khỏi các khu vực ở Donbass, cho rằng đây sẽ là "tổn thất chiến lược" và làm suy yếu hệ thống phòng thủ. Ông cảnh báo việc rút lui sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần binh sĩ.
Liên quan nỗ lực ngoại giao, ông Zelensky cho rằng việc các phái đoàn Mỹ đến thăm Ukraine là cần thiết nhằm thể hiện sự tôn trọng và thúc đẩy tiến trình đàm phán. "Vấn đề không nằm ở địa điểm, mà là kết quả", ông nói.
Lực lượng Ukraine đã tiến hành một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái (UAV) nhằm vào trạm phân phối dầu Samara, thuộc tỉnh Samara (Nga) trong đêm 20.4, theo The Kyiv Independent.
Chiến dịch do Trung tâm tác chiến đặc biệt Alfa thuộc Cơ quan an ninh Ukraine (SBU) thực hiện. Cuộc tấn công được cho là đã gây ra "đám cháy lớn", làm hư hại 5 bể chứa dầu thô với mỗi bể có dung tích khoảng 20.000 m3.
Đây là cơ sở quan trọng trong chuỗi sản xuất dầu Urals - mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Nga. Theo nguồn tin SBU, thiệt hại tại các cơ sở trọng yếu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tập hợp các lô hàng xuất khẩu và thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của Nga.
Về phía Nga, Thống đốc tỉnh Samara Vyacheslav Fedorishchev xác nhận một cơ sở công nghiệp trong khu vực đã bị tấn công, nhưng cho biết không có thương vong dân thường.
Trong khi đó, Bộ Quốc phòng Nga ngày 21.4 tuyên bố lực lượng phòng không đã bắn hạ 97 UAV của Ukraine trong đêm 20.4 tại nhiều khu vực, gồm Astrakhan, Belgorod, Volgograd, Voronezh, Kursk, Rostov, Samara, Saratov và cả khu vực biển Đen.
Nhu cầu tài chính của Ukraine trong năm 2026 cơ bản đã được đảm bảo, khi Liên minh châu Âu (EU) dự kiến giải ngân khoản đầu tiên từ gói vay 90 tỉ euro vào cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6, theo Reuters dẫn lời một quan chức cấp cao EU.
Năm 2025, EU đã thông qua gói hỗ trợ tài chính 90 tỉ euro cho Ukraine trong giai đoạn 2026 - 2027. Tuy nhiên, tiến trình giải ngân bị đình trệ do Thủ tướng Hungary Viktor Orban phản đối. Sau khi ông Orban thất bại trong cuộc bầu cử ngày 12.4, ông Peter Magyar - lãnh đạo đảng Tisza (chiến thắng trong cuộc bầu cử Quốc hội Hungary) - tuyên bố sẽ không tiếp tục cản trở việc cấp vốn cho Ukraine, mở ra khả năng tháo gỡ bế tắc.
Ủy viên Kinh tế châu Âu Valdis Dombrovskis cho biết EU có thể sớm đạt tiến triển. "Nếu việc này được thông qua ngay trong tuần thì rất tích cực. Nếu không, chúng ta sẽ chờ chính phủ mới. Dù thế nào, tôi tin vấn đề sẽ được giải quyết", ông nói, đồng thời thận trọng trước những trì hoãn trước đó.
Theo kế hoạch, EU sẽ giải ngân 45 tỉ euro trong năm 2026 và 45 tỉ euro còn lại vào năm 2027. Trong đó, khoảng 28 tỉ euro dành cho nhu cầu quân sự và 17 tỉ euro phục vụ ngân sách chung của Ukraine.
Gói vay 90 tỉ euro sẽ được giải ngân theo từng đợt, đi kèm điều kiện Ukraine tiếp tục cải cách và điều chỉnh pháp luật để phù hợp với tiêu chuẩn EU trong lộ trình gia nhập khối.
Về phần mình, Ngoại trưởng Ukraine Andrii Sybiha ngày 21.4 cho biết các rào cản đối với việc giải ngân đã được tháo gỡ. "Hiện không còn trở ngại nào, kể cả những rào cản mang tính kỹ thuật. EU có đủ công cụ để thông qua trong tuần này, và chúng tôi kỳ vọng điều đó sẽ sớm xảy ra", ông nói.
Tin Gốc: Thanh Niên

