Khối đá nằm tại làng Ring, xã Ia Hrú, cách quốc lộ 25 gần 5 km. Từ xa, công trình tự nhiên nổi bật giữa màu xanh của núi rừng, phần đỉnh nhô cao tựa dáng người đang ngồi thiền nên cư dân địa phương gọi là “tượng Phật”.
5 tảng đá xếp chồng lên nhau gần như thẳng đứng. Tảng dưới cùng có kích thước lớn nhất, đóng vai trò như bệ đỡ, phía trên là các khối đá nhỏ dần. Từ chân núi nhìn lên, cả khối đá nổi bật giữa không gian núi rừng.
Theo nhận định của các chuyên gia địa chất, hiện tượng khối đá cân bằng là kết quả của quá trình phong hóa và xói mòn tự nhiên, kết hợp với tính chất cơ học của đá và trọng lực.
Theo người dân địa phương, cụm đá tồn tại lâu đời nhưng ít người biết vì nằm sâu trong núi, đường đi hiểm trở, nhiều đoạn dốc cao. Muốn tiếp cận địa điểm này phải băng qua những lối mòn nhỏ giữa rừng, mất khoảng 30 phút di chuyển bằng xe máy hoặc máy cày.
Ông Phạm Khắc Tiệp, Phó Bí thư Đảng ủy xã Ia Hrú, cho biết cụm đá chưa được xã Hbông (cũ) khai thác, quan tâm đúng mức. Sau sáp nhập, chính quyền xã định hướng phát triển du lịch khu vực hồ Ayun Hạ và di tích chiến thắng Plei Ring, đồng thời tạo kết nối với khối đá xếp chồng cách đó khoảng 2 km.
“Đây là cảnh quan thiên nhiên hiếm có mà tạo hóa ban tặng cho Ia Hrú”, ông Tiệp nói.
Chính quyền đang lập báo cáo gửi Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai để đề xuất khảo sát, đánh giá tiềm năng và giá trị cảnh quan của địa điểm này. Ông Tiệp cũng khuyến cáo du khách muốn thăm quan khối đá cần liên hệ người dân địa phương để dẫn đường, tránh trường hợp bị lạc.
Tin Gốc: Vnexpress

Tại thị trấn Memuro, Hokkaido, một tiệm cà phê bánh Pháp mở cửa miễn phí từ 21h tối Chủ nhật đến 6h sáng hôm sau để đón những người mẹ có con quấy khóc. Chủ tiệm Madoka Nozawa, 28 tuổi, đặt tên không gian này là Oyako no Koya (Ngôi nhà của cha mẹ và con cái). Cô cùng các tình nguyện viên hỗ trợ trông trẻ đêm, lắng nghe tâm sự của các bà mẹ.
Dịch vụ được cửa hàng triển khai từ cuối tháng 10/2025. Ý tưởng bắt nguồn từ trải nghiệm cá nhân của Nozawa khi từng phải một mình ôm con khóc suốt đêm để chồng ngủ lấy sức đi làm.
"Tôi muốn tạo ra một nơi trú ẩn, để những người mẹ không cảm thấy đơn độc", chủ tiệm Nozawa nói.
Cửa hàng bố trí thảm cho trẻ bò, khu vực ngủ, cùng không gian riêng để thay tã và cho con bú. Một người mẹ 34 tuổi đang trong kỳ nghỉ thai sản cho hay dịch vụ này giúp cô có người trò chuyện và giải tỏa áp lực tâm lý.
Ý tưởng này gợi nhớ đến bộ truyện tranh trực tuyến Yonakigoya (Căn nhà khóc đêm), đăng trên mạng xã hội Nhật Bản từ năm 2023. Trong truyện, một quán cà phê chỉ mở về đêm trở thành nơi trú chân cho những bà mẹ kiệt sức vì chăm con. Nhiều độc giả cho biết họ sẽ thấy nhẹ nhõm hơn nhiều nếu ngoài đời thực cũng có một không gian như vậy.
Tác giả bộ truyện, đồng thời là một người mẹ, lần đầu chia sẻ ý tưởng trên mạng xã hội năm 2017. Bài viết nhanh chóng thu hút sự chú ý và sau đó được phát triển thành truyện dài kỳ. Bà cho biết đến nay vẫn nhận được nhiều phản hồi đồng cảm, cho thấy cảm giác cô lập trong quá trình nuôi con ở Nhật Bản gần như chưa thay đổi.
Các mô hình tương tự quán cà phê ở Hokkaido cũng xuất hiện tại nhiều nơi khác. Tại tỉnh Tokushima, một nhóm hỗ trợ chăm sóc trẻ em vận hành hai quán cà phê. Trong các buổi sinh hoạt hằng tháng, nhân viên chăm sóc trẻ sẽ tạm thời trông trẻ để các bà mẹ nghỉ ngơi. Đại diện nhóm hy vọng nơi đây có thể trở thành chỗ dựa cho các gia đình.
Tại Niigata, một nhóm phụ nữ hoạt động về phát triển cộng đồng cũng đã duy trì mô hình tương tự mỗi tuần một lần từ tháng 7 năm ngoái.
Tuy nhiên, việc duy trì các mô hình quán cà phê trông trẻ đêm vẫn là thách thức. Hầu hết cơ sở đang hoạt động dựa trên nguồn đóng góp từ cá nhân, doanh nghiệp và sự hỗ trợ của tình nguyện viên. Chi phí vận hành và áp lực nhân sự khi làm việc xuyên đêm là những rào cản đáng kể.
Kaori Ichikawa, giáo sư tại Tokyo University of Information Sciences, chuyên về chăm sóc sau sinh, cho rằng cần có thêm sự hỗ trợ để các mô hình này tiếp tục tồn tại.
"Các hỗ trợ từ chính quyền thường hạn chế vào ban đêm, cuối tuần hoặc ngày lễ, khu vực công và tư cần phối hợp để tạo ra những nơi như quán cà phê cho trẻ khóc đêm, nơi mọi người có thể tìm kiếm hỗ trợ bất cứ khi nào cần", bà Ichikawa nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Làng chài hàng trăm năm nép mình bên trong quốc lộ 1 mang nét hoang sơ thuần biển, từ cảnh quan đến bản sắc văn hóa.
Ngày xưa làng chài không có điện, người dân ít đến trường, chủ yếu tự cung tự cấp, giữ nét riêng trong giọng nói, trong tập quán thờ phụng cá Ông, sinh hoạt đi biển và buôn bán một cách tự phát dọc theo các bờ biển.
Tại cửa biển Liên Hương, tàu ghe đi khơi trở về nhộn nhịp mỗi sớm mai. Người dân tập trung thu đếm, trao đổi hải sản rồi bán ngay tại chợ địa phương, hoặc xẻ phơi ngay trên các bãi đất.
Vùng biển này giàu dinh dưỡng, được thiên nhiên ưu đãi nhiều loại cá ngon và ngọt như cá thu, cá nục, cá cơm, cá liệt dầu, cá trích, cá mai. Người dân truyền nghề đánh bắt qua nhiều đời, làm nước mắm và buôn bán hải sản.
Đến khi điện về và cảng cá Liên Hương được xây dựng quy mô, có bờ kè và cầu tàu, quy hoạch vùng neo đậu cho ghe thúng, làng chài đã khoác lên một diện mạo mới. Cảng cá không chỉ là nơi buôn bán trao đổi, mà còn là nơi tránh bão cho hàng ngàn tàu thuyền Bình Thuận hằng năm.
Dù hiện đại hơn năm xưa, nhịp sống 'mặn mòi' miền biển hầu như vẫn còn giữ lại. Người dân thức dậy và bắt đầu đón tàu ghe đi biển về từ sáng sớm. Thu hoạch ghe nhà mình và thu mua từ ghe bạn.
Đặc biệt hơn là từ lòng kênh nhiều rác trước đây, Nhà nước đã bồi lấp để mọc lên một chợ cá ngay cửa biển.
Ngôi chợ không quá lớn nhưng rộn ràng sầm uất và không thiếu thức món nào. Bánh căn, bánh xèo mực ăn với nước cá thay vì nước mắm như những nơi khác là món khoái khẩu của dân địa phương. Họ chọn mực nhỏ tươi lấy nóng hổi từ ghe lên đúc bánh, chứ ít dùng mực đã cấp đông hay để lâu ngày.
Khách du lịch đến thăm cảnh quan nổi tiếng của chùa Hang hay biển Cổ Thạch với những bãi đá con 7 màu xong cũng thường tìm tới chợ cảng để ngắm biển và mua được hải sản giá phải chăng.
Bánh xèo, bánh căn trứng và mực chấm nước cá kho là món ăn khoái khẩu ở quanh cảng Liên Hương
Đến làng chài nghe giọng nói của người Liên Hương thôi cũng đã thấy thích thú vì khác biệt. Hiện đại hơn nhưng không đánh mất hương vị nắng gió, bản sắc chân phương, đậm đà - nhịp sống của những làng chài như Liên Hương là đặc sản mà ngành du lịch những tỉnh miền Trung nên tìm cách giữ lại và thêm vào những nét quyến rũ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Du Lịch
“Du lịch độc lạ ở Việt Nam”, khách Tây nhổ cỏ, trồng rau và dự... đám cưới

Trong cái nắng dịu của Mai Châu (Phú Thọ), bốn du khách Pháp - Pascal, Johan, Thierry và Sophie - háo hức bước ra khu vườn của gia đình anh Thanh (một người dân địa phương).
Họ cởi bỏ những đôi giày, đi chân đất và chăm chú lắng nghe anh Thanh hướng dẫn.
Mỗi người sau đó cầm cuốc, xạc cỏ trong vườn, băm đất, vun luống.... Những động tác còn vụng về khiến nhóm du khách đôi lúc bật cười, song ánh mắt ai cũng ánh lên sự thích thú hiếm thấy.
Nhóm khách sau đó được tự tay trồng rau, rồi tiếp tục đi thu hoạch rau muống cùng người dân để mang về luộc và thưởng thức bữa ăn. Những món ăn dân giã, đậm chất Việt Nam khiến họ ấn tượng.
Với nhiều người, đó chỉ là công việc thường ngày. Nhưng với những du khách đến từ một quốc gia hiện đại như Pháp, trải nghiệm ấy lại mang giá trị đặc biệt bằng cách “chạm” vào đời sống Việt Nam chân thực và gần gũi nhất.
Anh Nguyễn Văn Tuấn - người trực tiếp dẫn đoàn - cho biết, mô hình du lịch này không mới, nhưng chỉ thực sự thu hút du khách trong vài năm gần đây, khi nhu cầu “sống như người bản địa” của khách nước ngoài ngày càng tăng.
Theo anh Tuấn, nhiều nhóm khách khi đến Việt Nam thường chỉ đi qua rất nhanh các thành phố bởi ở đó hiện đại chẳng khác gì nơi họ sinh sống. Họ dành phần lớn thời gian về nông thôn, gặp gỡ nông dân, người dân tộc, xem cuộc sống và cách làm việc ra sao.
Theo tính toán, một chuyến du lịch trọn gói kéo dài 2-3 tuần của du khách có chi phí khoảng 2.000-3.000 euro (từ 60 đến gần 100 triệu đồng), bao gồm vé máy bay, lưu trú, ăn uống và các hoạt động trải nghiệm như làm vườn, cuốc cỏ, bắt cá, đi đám cưới...
Riêng chi phí mỗi ngày tại Việt Nam dao động khoảng 70-80 euro/người (tương đương hơn 2 triệu đồng).
Theo anh Tuấn, ý tưởng đưa khách trải nghiệm nông nghiệp, sinh hoạt đời thường đã được anh ấp ủ từ lâu.
Tuy nhiên, trước đây gặp nhiều khó khăn do rào cản ngôn ngữ và cách truyền đạt. Những công việc như làm vườn, hái thuốc, đan lát… tưởng đơn giản nhưng cần giải thích cặn kẽ để khách hiểu và hứng thú.
“Những năm qua, trình độ của các hướng dẫn viên được nâng cao, công cụ hỗ trợ cũng nhiều nên việc kết nối với du khách thuận lợi hơn. Khi mình giới thiệu đủ sâu, khách sẽ vượt qua cảm giác e ngại ban đầu và sẵn sàng trải nghiệm”, anh nói.
Điểm đặc biệt là thay vì ở khách sạn cao cấp, nhiều du khách chọn homestay với chi phí thấp hơn, khoảng 600.000 đồng/đêm cho hai người. Khoản tiền tiết kiệm sẽ được phân bổ cho các hoạt động trải nghiệm và chi tiêu tại địa phương.
Tuy nhiên, theo anh Tuấn, không phải du khách nào cũng lựa chọn hình thức này. Nhóm khách phù hợp thường là những người có thời gian dài ở Việt Nam, khoảng 2-3 tuần, chủ yếu đến từ Pháp, Bỉ hoặc Canada.
Họ có xu hướng quan tâm đến văn hóa, đời sống bản địa hơn là các điểm du lịch check-in.
“Có những người ở Paris, điều kiện tốt nên thường không muốn đụng tay vào việc gì. Ngược lại, khách từ vùng nông thôn hoặc miền Nam nước Pháp lại rất thích trải nghiệm này, vì họ muốn so sánh với cuộc sống quê hương họ”, anh Tuấn cho hay.
Mỗi chương trình trải nghiệm thường kéo dài 1-2 tiếng cho mỗi hoạt động, đủ để du khách cảm nhận mà không quá mệt. Họ có thể làm vườn, bắt cá, nấu ăn, rửa bát, thậm chí học đan lát hoặc làm chổi cùng người dân.
“Khách rất vui khi tự tay làm ra sản phẩm. Ví dụ họ trồng rau, rồi được hái rau muống ở vườn để luộc ăn. Họ ăn một đĩa rau do chính tay mình thu hoạch, cảm giác rất khác”, anh Tuấn kể.
Không chỉ dừng lại ở trải nghiệm, mô hình này còn góp phần tạo sinh kế cho người dân địa phương. Hoạt động du lịch này giúp nhiều gia đình có thêm thu nhập và gia tăng cơ hội giao lưu văn hóa.
Người dân trực tiếp hướng dẫn thường nhận khoảng 50.000 đồng/khách. Mỗi bữa ăn tại nhà dân có giá khoảng 200.000 đồng/khách. Hướng dẫn viên địa phương cũng có thêm thu nhập từ việc dẫn khách tham quan, phiên dịch.
Tuy nhiên, để mô hình này phát triển bền vững, theo anh Tuấn vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là ý thức môi trường.
“Rác thải đang là điểm trừ lớn trong mắt du khách quốc tế. Đi đến đâu thấy rác họ sẽ cảm thấy không mấy dễ chịu. Tôi luôn yêu cầu khách không dùng chai nhựa, mang bình cá nhân. Để thay đổi ý thức của người dân địa phương về môi trường cần sự vào cuộc của cả cộng đồng và chính quyền”, anh chia sẻ.
Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất tại các hộ dân cũng cần được cải thiện, đặc biệt là khu vệ sinh, để đáp ứng nhu cầu tối thiểu của du khách.
Anh Tuấn nhận định, các trải nghiệm về văn hóa, sinh hoạt khiến du khách không chỉ có một chuyến đi thú vị mà còn có cơ hội kết nối với con người và mảnh đất nơi họ đặt chân đến.
“Chỉ cần họ thấy vui, thấy ý nghĩa, họ sẽ quay lại hoặc giới thiệu cho bạn bè. Đó mới là giá trị lâu dài của du lịch”, anh Tuấn nói.
Trong 4 tháng đầu năm nay, Việt Nam đón 8,8 triệu lượt khách. Đây là mức cao nhất của 4 tháng đầu các năm từ trước đến nay.
So với chỉ tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026, ngành du lịch đã đạt 35% kế hoạch.
Yếu tố tạo nên sức hút của Việt Nam đối với du khách là môi trường chính trị - xã hội ổn định, an toàn, chính sách thị thực ngày càng thông thoáng, hoạt động xúc tiến, quảng bá được chuyên nghiệp hóa, cùng với hệ thống sản phẩm đa dạng, phù hợp xu hướng và chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện, tạo nền tảng quan trọng để thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.
Tin Gốc: Dân Trí

