Với những cơ chế, chính sách đặc thù được nêu rõ, hàng ngàn dự án bất động sản (BĐS) đang tồn đọng trên cả nước sẽ được tháo gỡ trong thời gian tới. Thực tế, chỉ riêng tại 3 tỉnh thành gồm TP.HCM, Đà Nẵng và Khánh Hòa, ngay từ cuối năm 2024, theo Nghị quyết số 170/2024 của Quốc hội, đã có 64 dự án và 1.313 trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được tháo gỡ bằng những cơ chế chưa từng có. Chẳng hạn, tại TP.HCM có 4 trường hợp cần xử lý về giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất gồm dự án chung cư 1.330 căn hộ (tên thương mại là New City, thuộc khu đất 38,4 ha P.Bình Khánh – TP.Thủ Đức cũ); khu đất 30,2 ha tại Bình Khánh và khu đất 30,1 ha tại Nam Rạch Chiếc; dự án số 39 – 39B Bến Vân Đồn (Q.4 cũ).
Đây đều là những dự án đã bị “treo” hàng chục năm qua, không chỉ khiến nhà nước thất thu, doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng nặng nề mà người dân cũng khốn khổ vì bị “treo” sổ hồng, phải nộp đơn khiếu kiện khắp nơi. Trong đó, dự án số 39 – 39B Bến Vân Đồn bị vướng vào vụ án, theo kết luận của cơ quan thanh tra, quá trình giao đất cho khu đất này có sai phạm. Vì vậy, các căn hộ đã bàn giao 6 năm, nhưng cư dân vẫn chưa được cấp sổ đỏ. Với chính sách đặc thù, nhà đầu tư được tiếp tục sử dụng đất để thực hiện dự án sau khi đã xử lý về hành chính, hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, sai phạm, khắc phục hậu quả các vi phạm về kinh tế, thu hồi lợi ích vật chất do hành vi vi phạm theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tương tự, 11 dự án BĐS tại Khánh Hòa bị vướng mắc như vi phạm về quy định cho thuê đất không qua đấu giá, đấu thầu hay Đà Nẵng với 49 dự án có vi phạm đều được tháo gỡ liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận; giá đất tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…
Đáng chú ý, Nghị định 147/2026 (NĐ147) áp dụng chung trên cả nước, đồng thời cho phép mở rộng áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết 170/2024 để tháo gỡ cho các dự án BĐS tại 3 địa phương nói trên. Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM (HoREA), thời gian qua khi có Nghị quyết 170/2024, tại TP.HCM, Khánh Hòa và Đà Nẵng đã giải quyết được nhiều dự án BĐS tồn đọng. Vì vậy với Nghị quyết 29/2026 của Quốc hội và NĐ147 hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các địa phương trên cả nước sẽ tiếp tục tháo gỡ được hàng ngàn dự án vướng mắc, tồn đọng tương tự. “Nghị quyết 29 của Quốc hội đã tạo ra cơ chế, chính sách công bằng cho tất cả dự án BĐS bị vướng mắc, tồn đọng lâu nay trên cả nước, trong đó tập trung nhiều ở các đô thị lớn. Theo thống kê của Bộ NN-MT, cả nước vẫn còn 3.338 dự án, đất đai còn tồn đọng. Khi được tháo gỡ vướng mắc khó khăn thì nguồn lực đất đai và vốn rất lớn sẽ được giải phóng, tạo động lực góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cao”, ông Lê Hoàng Châu nhìn nhận.
Theo phân tích của ông Lê Hoàng Châu, điều 12 quy định xử lý tiếp tục giao đất, cho thuê đất với dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất sẽ có tác động rất lớn với các DN, chủ đầu tư dự án BĐS. Khi được gỡ vướng, các DN sẽ tiếp tục đổ thêm vốn vào thực hiện dự án. Thậm chí, để phù hợp trong tình hình mới, các chủ đầu tư có thể đề xuất điều chỉnh mở rộng quy mô hay điều chỉnh quy hoạch với hệ số sử dụng đất thay đổi nhằm hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn. Khi đó nguồn thu ngân sách nhà nước bổ sung sẽ gia tăng. Tương tự, điều 13 quy định xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi theo quy định thì các DN sẽ có quỹ đất để tiếp tục thực hiện.
Ông Châu nhấn mạnh: điều 12 và điều 13 tại NĐ147 sẽ có tác động rất lớn với các DN, chủ đầu tư dự án BĐS. Trong số 3.338 dự án còn tồn đọng trên cả nước, sẽ có rất nhiều dự án có thể được điều chỉnh về quy mô, quy hoạch lại sau rất nhiều năm nằm im. Nguồn lực đất đai được giải phóng, đưa vào sử dụng, không để tiếp tục tình trạng lãng phí. Đồng thời, nguồn vốn đầu tư đã đổ vào các dự án này cũng được khơi thông. Khai thác hiệu quả nguồn lực này sẽ đóng góp nhiều cho mục tiêu đưa kinh tế tăng trưởng 2 chữ số. Ngoài ra, điều 11 của nghị định quy định xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định sẽ tác động đến nhiều nhà đầu tư, khách hàng khi mua sản phẩm BĐS có vi phạm. Ở đây chủ yếu là các sản phẩm căn hộ du lịch (condotel) theo nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người dân, ổn định về mặt xã hội.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Văn Đính, Chủ tịch Hội Môi giới BĐS VN, cho rằng theo Bộ NN-MT, tính đến ngày 30.3.2025, cả nước có 4.489 dự án, quỹ đất gặp khó khăn, vướng mắc với tổng diện tích lên tới 198.428,1 ha và tổng mức đầu tư hơn 3,3 triệu tỉ đồng, tương đương khoảng gấp 3 lần tổng vốn đầu tư công năm 2026 (dự kiến 1,1 triệu tỉ đồng). Nếu được khơi thông, đây sẽ là động lực rất lớn thúc đẩy tăng trưởng GDP, đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số trong giai đoạn tới. Điểm đáng chú ý là Nghị quyết 29 của Quốc hội không chỉ tập trung vào xử lý trách nhiệm, mà còn cho phép triển khai đồng thời các giải pháp để đưa dự án trở lại hoạt động. Đây là sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy chính sách, từ “đóng băng để xử lý” sang “xử lý để vận hành”, qua đó mở ra khả năng kích hoạt lại một lượng lớn nguồn cung và dòng vốn đang bị tắc nghẽn.
Tác động từ cơ chế đặc thù này đối với thị trường BĐS được kỳ vọng sẽ diễn ra trên nhiều chiều. Trước hết, việc tháo gỡ pháp lý cho các dự án tồn đọng sẽ góp phần thúc đẩy nguồn cung. Khi các dự án được “giải phóng”, thị trường không chỉ có thêm nguồn cung, mà còn gia tăng mức độ cạnh tranh, giảm áp lực tăng giá cục bộ. Đặc biệt, Nghị quyết 29 có ý nghĩa quan trọng trong việc tháo gỡ nút thắt pháp lý cho phân khúc BĐS du lịch – nghỉ dưỡng, vốn đã gặp khó khăn kéo dài do thiếu hành lang pháp lý rõ ràng. Việc đưa ra cơ chế xử lý đối với các trường hợp đã được cấp sổ hồng nhưng chưa đúng quy định được xem là bước đi đầu tiên nhằm “mở khóa” tâm lý thị trường, góp phần khôi phục niềm tin của nhà đầu tư. Ngoài ra còn có tác động lan tỏa tới hệ thống tài chính, ngân hàng. “Trong thời gian qua, việc hàng loạt dự án bị đình trệ đã khiến dòng tiền bị tắc nghẽn, DN mất khả năng thanh toán và gia tăng áp lực nợ xấu. Khi các dự án được tháo gỡ và tái khởi động, dòng tiền sẽ dần được khơi thông, giúp DN cải thiện năng lực tài chính, đồng thời giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng”, TS Nguyễn Văn Đính giải thích.
TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhận xét điều đáng chú ý nhất của Nghị quyết 29 và NĐ147 không chỉ nằm ở việc tháo gỡ cho các dự án tồn đọng, mà nằm ở một thay đổi rất lớn trong tư duy điều hành. Đó là không để nền kinh tế tiếp tục bị “kẹt” vì những tồn đọng của quá khứ. Bởi trong nhiều năm qua, hàng loạt dự án BĐS bị “treo” không hẳn vì không có nhu cầu thị trường, mà chủ yếu do quy định chồng chéo, sai phạm xảy ra qua nhiều giai đoạn, khó xác định nghĩa vụ tài chính. Hệ quả là hàng triệu tỉ đồng tài sản bị “đóng băng”, đất đai không được khai thác, DN chết vốn, ngân hàng mắc kẹt dư nợ và nền kinh tế mất đi động lực tăng trưởng.
Một ví dụ rất điển hình là KCN Lê Minh Xuân 2. Đây là KCN nằm ở vị trí chiến lược của cửa ngõ phía tây TP.HCM, từng được kỳ vọng trở thành trung tâm sản xuất và logistics quan trọng. Tuy nhiên, do vướng mắc pháp lý kéo dài nhiều năm, quỹ đất lớn này không thể được khai thác đúng tiềm năng. Khi một dự án công nghiệp bị “đứng hình”, thiệt hại không chỉ là câu chuyện của một DN, mà kéo theo cả dòng vốn bị chôn, ngân hàng có thể bị kẹt tín dụng, DN sản xuất lại thiếu mặt bằng, ngân sách thất thu, hàng nghìn việc làm bị bỏ lỡ. Hay như tại Thủ Thiêm, nhiều dự án từng ách tắc nhiều năm vì chưa xác định được nghĩa vụ tài chính đất đai thì nay đã có lối ra. Chỉ cần tháo gỡ được vài dự án lớn như vậy, dòng vốn quay lại thị trường có thể lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng.
Một điểm đáng chú ý khác của NĐ147 là quy định DN phải nộp bổ sung tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tính theo chênh lệch giữa thời điểm cũ và thời điểm điều chỉnh hiện tại. Đây là cơ chế khá hợp lý vì nhà nước không thất thu ngân sách, DN có cơ hội tiếp tục dự án, thị trường được giải phóng nguồn cung, còn người dân có thêm nhiều sản phẩm để lựa chọn mua để an cư hay đầu tư. “Ý nghĩa lớn nhất của các chính sách cơ chế đặc thù tháo gỡ các dự án BĐS tồn đọng là đánh thức những tài sản đang ngủ quên trong nền kinh tế. Khi một dự án được tháo gỡ, ngân hàng có thể tái cấp tín dụng, nhà đầu tư có thể chuyển nhượng, địa phương có thêm nguồn thu, hàng nghìn lao động quay lại công trường, vật liệu xây dựng, logistics, thương mại, dịch vụ cùng được kích hoạt. Điều này là bước đi rất quan trọng để chuyển từ trạng thái đóng băng nguồn lực sang khơi thông nguồn lực cho phát triển”, TS Trần Việt Anh đánh giá.
Bên cạnh đó, chuyên gia kinh tế, TS Huỳnh Thanh Điền nhận định: Đảng và Chính phủ đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao không chỉ là một năm mà là trong nhiều năm tới để đưa VN trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Muốn đạt mục tiêu đó thì tất cả nguồn lực của đất nước phải được huy động và sử dụng hiệu quả. Những nguồn lực nào đang bị kẹt thì phải khơi thông. Cụ thể là việc tháo gỡ hàng ngàn dự án BĐS đang bị tồn đọng. Khi đất đai được đưa vào khai thác, sử dụng thì không còn tình trạng lãng phí mà sẽ tạo ra giá trị cho nền kinh tế, nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ gia tăng.
Không chỉ thế, việc Chính phủ ban hành hàng loạt nghị quyết để cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính mới đây cũng là một trong những hành động quyết liệt để tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng. Khi môi trường pháp lý rõ ràng, thủ tục điều kiện đơn giản hơn thì DN, người dân cũng mạnh dạn đầu tư kinh doanh. Đồng thời, chi phí tuân thủ pháp lý của DN cũng giảm, tạo ra nguồn lực cho phát triển. “Lịch sử cho thấy sau những giai đoạn tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế sẽ tạo ra các cú hích lớn, đưa kinh tế phát triển mạnh hơn. Với hàng loạt chính sách quan trọng gần đây cho thấy Chính phủ đã xác định đúng trọng tâm, quyết tâm huy động tất cả nguồn lực của đất nước để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao mà Đảng đã đề ra”, TS Huỳnh Thanh Điền nhấn mạnh.
Trong nhiều năm qua, Đồng Nai luôn nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư. Với lợi thế vị trí chiến lược ở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, hệ thống khu công nghiệp phát triển mạnh và hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện, địa phương này đang đứng trước cơ hội lớn để tạo bước nhảy vọt về tăng trưởng.
Trong bối cảnh cạnh tranh mới đặt ra yêu cầu cao hơn. Đồng Nai không chỉ cần tăng trưởng nhanh mà còn phải phát triển bền vững, có chiều sâu và nâng cao chất lượng nền kinh tế.
Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Đặng Văn Điềm - Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp Thành phố Đồng Nai nhận định, để Đồng Nai đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong những năm tới, khu vực doanh nghiệp tư nhân chắc chắn sẽ là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế nội sinh.
Theo ông Điềm, nếu khu vực FDI là động lực tăng trưởng theo chiều rộng thì doanh nghiệp tư nhân chính là lực kéo tăng trưởng theo chiều sâu bởi đây là khu vực tạo việc làm trực tiếp lớn nhất, có sức lan tỏa mạnh nhất và có khả năng hình thành chuỗi giá trị nội địa bền vững nhất.
"Riêng năm 2025, thu ngân sách từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước của Đồng Nai đạt khoảng 11.577 tỷ đồng, tăng gần 29% so với cùng kỳ. Điều đó cho thấy khu vực tư nhân đang tăng trưởng rất nhanh và ngày càng đóng vai trò lớn hơn trong cấu trúc kinh tế địa phương", ông Điềm nói.
Đến cuối năm 2025, Đồng Nai có khoảng 2.485 dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 593.200 tỷ đồng. Đây được xem là nguồn lực rất lớn cho đầu tư xã hội, thương mại, xây dựng, logistics và công nghiệp hỗ trợ.
Dù giữ vai trò quan trọng, doanh nghiệp tư nhân tại Đồng Nai vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn kéo dài. Theo ông Đặng Văn Điềm, hiện doanh nghiệp tư nhân Đồng Nai không thiếu cơ hội, nhưng đang bị chậm nhịp bởi 3 điểm nghẽn lớn.
"Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thiếu lao động chất lượng cao. Doanh nghiệp muốn chuyển từ gia công sang sản xuất có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao nhưng lại thiếu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu", ông Điềm phân tích.
Không chỉ thiếu lao động kỹ thuật, nhiều doanh nghiệp còn gặp khó trong tuyển dụng đội ngũ quản trị, kỹ sư và nhân lực có kỹ năng chuyên môn cao.
Điểm nghẽn thứ hai là khó tiếp cận vốn. Theo cộng đồng doanh nghiệp, phần lớn doanh nghiệp tư nhân tại Đồng Nai là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên rất khó tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn, đặc biệt là vốn phục vụ đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.
"Nhiều doanh nghiệp có đơn hàng, có nhu cầu mở rộng sản xuất nhưng không thể triển khai do thiếu nguồn vốn phù hợp", ông Điềm cho biết thêm.
Điểm nghẽn thứ ba là chi phí thủ tục và mặt bằng sản xuất. Hiện nhiều khu công nghiệp tại Đồng Nai đã gần như lấp đầy, trong khi giá thuê đất và chi phí logistics ngày càng tăng. Bên cạnh đó, một số thủ tục hành chính vẫn còn kéo dài, làm mất cơ hội đầu tư và tăng chi phí cho doanh nghiệp.
"Nhiều doanh nghiệp có đơn hàng nhưng không thể mở rộng vì thiếu đất sản xuất phù hợp hoặc mất quá nhiều thời gian cho thủ tục", ông Điềm nói.
Một thực tế đáng chú ý là dù Đồng Nai hiện có hơn 2.230 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 42,88 tỷ USD, phần lớn doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng của khối này.
Theo ông Điềm, nguyên nhân không phải do thiếu nhu cầu hợp tác mà do doanh nghiệp nội địa chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực quản trị và tính ổn định trong sản xuất.
"Đây là khoảng trống phát triển rất lớn. Nếu Đồng Nai có chính sách kết nối cung – cầu công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nội tiêu chuẩn hóa sản xuất thì dư địa tăng trưởng của khu vực tư nhân sẽ còn rất lớn", ông Điềm nhấn mạnh.
Một trong những lợi thế lớn nhất của Đồng Nai trong giai đoạn tới là hệ thống hạ tầng chiến lược đang được đầu tư mạnh mẽ.
Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Kim Long - Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Đồng Nai cho rằng, việc xây dựng Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ là mục tiêu hành chính mà là yêu cầu tất yếu từ thực tiễn phát triển.
Theo ông Long, với quy mô kinh tế lớn, dân số gần 4,5 triệu người và vị trí là giao điểm chiến lược của vùng phía Nam, Đồng Nai đã hội tụ đầy đủ điều kiện để chuyển sang mô hình phát triển ở tầm cao hơn.
Đặc biệt, sự hiện diện của Cảng hàng không quốc tế Long Thành sẽ mở ra không gian tăng trưởng mới, tạo động lực mạnh cho công nghiệp, logistics, đô thị và dịch vụ.
"Khi các dự án hạ tầng trọng điểm được kết nối đồng bộ, Đồng Nai không chỉ giữ vai trò vệ tinh mà sẽ cùng Tp.HCM hình thành trục động lực phát triển của toàn vùng", ông Long nhấn mạnh.
Theo lãnh đạo tỉnh, việc nâng tầm Đồng Nai lên thành phố trực thuộc Trung ương sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, phát huy tối đa vai trò động lực tăng trưởng nhanh và bền vững.
Không chỉ chờ đợi chính sách hỗ trợ, nhiều doanh nghiệp tại Đồng Nai cũng đang chủ động tái cấu trúc để thích ứng với bối cảnh mới.
Ông Nguyễn Hoàng Đạt - Giám đốc Công ty TNHH Vinahe cho biết, để đạt tăng trưởng hai con số bền vững, doanh nghiệp cần tập trung vào 3 trụ cột: Nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và chuyển đổi số.
"Muốn đi cùng doanh nghiệp FDI, chúng tôi buộc phải nâng cấp từ quản trị, tiêu chuẩn sản phẩm đến tính minh bạch. Nếu không tự lớn lên thì cơ hội sẽ không chờ mình", ông Đạt chia sẻ.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đầu tư mạnh cho chuyển đổi số, ứng dụng phần mềm quản trị nhằm tối ưu vận hành, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, theo doanh nghiệp, khó khăn lớn hiện nay vẫn là biến động giá nguyên liệu, áp lực cạnh tranh quốc tế và hạn chế về nguồn vốn cho đầu tư công nghệ.
Song song với việc thúc đẩy kinh tế tư nhân, Đồng Nai cũng đang định hướng lại chiến lược thu hút FDI theo hướng chất lượng cao.
Ông Nguyễn Văn Út - Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai khẳng định, Đồng Nai sẽ giảm dần các ngành thâm dụng lao động và có nguy cơ gây ô nhiễm, thay vào đó ưu tiên công nghệ cao, công nghiệp xanh và các dự án có giá trị gia tăng lớn.
"Nâng tầm Đồng Nai không chỉ dừng lại ở tiêu chí hành chính mà còn là sự chuyển biến toàn diện về chất lượng sống, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế", ông Út nhấn mạnh.
Theo cộng đồng doanh nghiệp, cuộc cạnh tranh thu hút FDI hiện nay không còn nằm ở ưu đãi thuế hay giá thuê đất, mà nằm ở chất lượng điều hành và trải nghiệm thực tế của nhà đầu tư.
Ông Elephant Fu - đại diện Công ty TNHH New Apparel Far Eastern Việt Nam đánh giá Đồng Nai đang sở hữu "bộ 3 lợi thế" gồm vị trí địa lý, hạ tầng và môi trường đầu tư.
"Từ góc nhìn doanh nghiệp, yếu tố quan trọng nhất hiện nay không chỉ là ưu đãi mà là khả năng đồng hành lâu dài của địa phương, từ tốc độ xử lý thủ tục đến chất lượng nhân lực kỹ thuật và hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ", ông Elephant Fu chia sẻ.
Mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Đồng Nai được xem là tham vọng lớn, bởi Đồng Nai đang sở hữu nhiều lợi thế chiến lược như vị trí trung tâm vùng kinh tế phía Nam, hệ thống công nghiệp phát triển, hạ tầng logistics quy mô lớn và khả năng thu hút đầu tư mạnh mẽ.
Bà Thúy Ái chia sẻ, để cho ra đời một quả trứng gà đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp phải gánh chịu áp lực chi phí đè nặng từ mọi phía. Chi phí thức ăn chăn nuôi, logistics, vắc-xin, thuốc thú y, cùng các chính sách thuế, phí và bảo hiểm cho người lao động liên tục tăng cao, đẩy giá thành sản xuất chung tăng khoảng 35% so với trước đó.
Tính toán thực tế tại chuồng, một con gà đẻ trứng tiêu thụ trung bình từ 110 - 115g cám mỗi ngày. Với giá thức ăn chăn nuôi dao động khoảng 11.000 đồng/kg, cộng với tỷ lệ đẻ trứng bình quân trong vòng đời của đàn gà chỉ đạt khoảng 80%, giá thành của một quả trứng ngay tại đầu chuồng (chưa qua sơ chế) đã chạm mức 1.700 - 1.800 đồng.
Khi vận chuyển về nhà máy để thực hiện các quy trình sơ chế, kiểm nghiệm và đóng gói một cách tiết kiệm nhất, chi phí sẽ đội thêm từ 500 - 600 đồng/quả. Như vậy, giá thành thực tế của một quả trứng gà sạch rơi vào khoảng 2.200 - 2.400 đồng.
Với mức chênh lệch tăng chi phí như hiện nay, một trang trại quy mô 1 triệu con gà (cho ra khoảng 1 triệu quả trứng/ngày) đang phải chịu mức lỗ khổng lồ từ 800 triệu đến 1 tỉ đồng mỗi ngày.
Thế nhưng, trong khi các doanh nghiệp đang lỗ ròng trên từng quả trứng, thì tại cổng các khu công nghiệp, các chợ đầu mối hay vỉa hè, trứng gà trôi nổi lại được bày bán tràn lan với mức giá siêu rẻ: 1.000 đồng/quả hoặc 10.000 đồng/chục.
"Vậy trên thị trường đang bán tràn lan trứng 1.000 đồng/quả ở đâu ra? Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, đây thực chất là các loại "trứng gà dạt" từ các trang trại lớn không kịp tiêu thụ, hoặc hàng đã cận hạn/quá hạn sử dụng. Thông thường, trứng gà an toàn chỉ có chất lượng sử dụng tốt nhất trong vòng 30 ngày kể từ khi gà đẻ. Khi bước sang ngày thứ 31 trở đi, do không thể đưa vào các kênh phân phối chính thống như siêu thị, các loại trứng cận date hoặc hết date này bị tuồn ra ngoài đường, bán đổ bán tháo" - bà Thúy Ái chỉ rõ.
Cũng theo bà Ái, giữa thời điểm kinh tế khó khăn, người tiêu dùng - đặc biệt là công nhân và những người có thu nhập thấp - dễ dàng bị thu hút bởi mức chênh lệch giá cả. Họ thấy một hộp trứng ngoài đường rẻ hơn trong siêu thị tới 18.000 đồng nên sẵn sàng lựa chọn mà không hề hay biết về những nguy cơ mất an toàn thực phẩm tiềm ẩn. Điều này vô tình bóp nghẹt các sản phẩm sạch, khiến hệ thống siêu thị cũng gặp khó khăn khi phải tiêu hủy hàng cận date chứ không thể đưa ra vỉa hè bán giảm giá.
Không chỉ chịu áp lực về tài chính, các nhà sản xuất thực phẩm sạch còn phải đối mặt với rủi ro pháp lý và áp lực truyền thông cực kỳ khắt khe. Doanh nghiệp đã đổ hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng để xây dựng trang trại đạt chuẩn chuẩn ESG, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về môi trường và chất lượng. Họ không bao giờ dám cắt giảm hàm lượng chất lượng xuống dưới 70% để giảm chi phí, bởi chỉ cần một sơ suất nhỏ bị cơ quan chức năng kiểm tra, làn sóng khủng hoảng sẽ ập đến.
"Hệ quả tất yếu của làn sóng thua lỗ kéo dài là nhiều chủ trang trại lâm vào khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng, không còn tâm trí để họp hành hay bàn tính chuyện tương lai. Nhiều nơi đã chọn giải pháp tiêu hủy, xả bán tháo luôn cả đàn gà đẻ chưa hết chu kỳ để cắt lỗ, chấp nhận bán nhà, bán đất, bán xác nhà xưởng phế liệu để trả nợ ngân hàng và giải nghệ" - bà Thúy Ái xót xa chia sẻ.
Trước nỗi khổ của những người sản xuất thực phẩm sạch trên thị trường, Tổng giám đốc Công ty CP Mebi Farm đề xuất các cơ quan chức năng vào cuộc quyết liệt hơn để thiết lập lại trật tự thị trường. Cần có biện pháp kiểm soát, truy xuất nguồn gốc rõ ràng đối với các mặt hàng thực phẩm, trứng gà đang được bán tràn lan không ai quản lý tại các khu chợ tự phát và vỉa hè.
Đồng thời, doanh nghiệp mong muốn Chính phủ có các chính sách hỗ trợ trực tiếp, giảm bớt gánh nặng cho nhà sản xuất thông qua việc miễn giảm thuế, phí và đặc biệt là chi phí kiểm nghiệm sản phẩm. Hiện nay, mỗi lô hàng xuất xưởng đều phải cõng thêm chi phí kiểm nghiệm để đủ điều kiện đưa vào các kênh bán lẻ, và khoản chi phí này đang đè nặng lên vai doanh nghiệp mà không có sự trợ lực nào.
"Nếu không có những giải pháp căn cơ và sự bảo vệ kịp thời từ phía nhà nước, thị trường thực phẩm sạch Việt Nam nguy cơ sẽ mất đi những nhà sản xuất chân chính, đẩy người tiêu dùng vào một ma trận thực phẩm trôi nổi, kém chất lượng" - bà Lâm Thúy Ái lo ngại.
CTCP Cao su Bến Thành (HoSE: BRC) vừa công bố đơn xin từ nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Minh Đoan cùng dự thảo tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026. Đại hội dự kiến diễn ra ngày 17/6 tới.
Theo thông tin công bố, ông Nguyễn Minh Đoan (sinh ngày 30/7/1970) đã có đơn xin thôi tham gia Hội đồng quản trị và thôi giữ chức vụ Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Cao su Bến Thành nhiệm kỳ 2022-2027.
Lý do từ nhiệm được nêu là ông Nguyễn Minh Đoan chuyển công tác đến đơn vị khác và không còn là người đại diện phần vốn của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam tại Cao su Bến Thành. Thời gian xin từ nhiệm có hiệu lực từ ngày 17/6/2026.
Cùng với biến động nhân sự cấp cao, Cao su Bến Thành cũng công bố kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hướng thận trọng.
Theo tài liệu dự thảo trình Đại hội đồng cổ đông, công ty đặt mục tiêu tổng doanh thu đạt 412 tỷ đồng, bằng 93,57% so với thực hiện năm 2025, tương ứng giảm khoảng 6,5%. Chỉ tiêu lợi nhuận dự kiến đạt 26,5 tỷ đồng, tăng khoảng 1,7% so với thực hiện năm trước.
Trước đó, năm 2025, Cao su Bến Thành ghi nhận tổng doanh thu đạt hơn 440 tỷ đồng, vượt 25% kế hoạch đề ra và tăng hơn 4% so với cùng kỳ năm 2024. Lợi nhuận đạt 26 tỷ đồng, vượt 2,4% kế hoạch năm nhưng giảm 4% so với thực hiện năm 2024.
Theo doanh nghiệp, kế hoạch kinh doanh năm nay được xây dựng trên cơ sở đánh giá thận trọng tình hình hoạt động của các nhóm khách hàng chính như than, xi măng và phân bón.
Trong đó, ngành than khoáng sản tiếp tục gặp khó khăn do điều kiện khai thác ngày càng sâu hơn, làm gia tăng áp lực chi phí. Ngành xi măng trong nước vẫn đối mặt bài toán dư cung kéo dài.
Đáng chú ý, Cao su Bến Thành cho biết những biến động chính trị trên thế giới thời gian qua đã đẩy chi phí đầu vào tăng cao, trong khi giá bán sản phẩm chưa thể điều chỉnh tương ứng, qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận và sản lượng tiêu thụ.
BRC cũng nhận định bối cảnh khó khăn có thể tiếp diễn, đặc biệt khi chiến sự tại eo biển Hormuz chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, tiếp tục tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Về chiến lược sản phẩm, Cao su Bến Thành cho biết sẽ chủ động tìm kiếm và thu thập thông tin nhằm mở rộng mạng lưới khách hàng, tập trung vào các ngành công nghiệp trọng điểm như than, xi măng, luyện kim để gia tăng cơ hội tiếp cận các dự án mới.
Doanh nghiệp xác định tiếp tục đẩy mạnh sản lượng và doanh thu đối với các dòng sản phẩm chủ lực gồm băng tải lõi thép và băng tải lõi vải. Đồng thời, công ty sẽ chú trọng đầu tư, mở rộng và đa dạng hóa các sản phẩm cao su kỹ thuật.
Ở chiều tích cực, ngành phân bón được dự báo bước vào giai đoạn ổn định hơn trong năm 2026 nhờ nhu cầu thế giới duy trì ở mức cao, với giá phân bón dao động quanh vùng 400-450 USD/tấn. Cùng với đó, chính sách áp thuế VAT đầu ra 5% tiếp tục phát huy tác động tích cực, qua đó hỗ trợ sản lượng tiêu thụ băng tải trong ngành này duy trì ổn định.