Với những cơ chế, chính sách đặc thù được nêu rõ, hàng ngàn dự án bất động sản (BĐS) đang tồn đọng trên cả nước sẽ được tháo gỡ trong thời gian tới. Thực tế, chỉ riêng tại 3 tỉnh thành gồm TP.HCM, Đà Nẵng và Khánh Hòa, ngay từ cuối năm 2024, theo Nghị quyết số 170/2024 của Quốc hội, đã có 64 dự án và 1.313 trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được tháo gỡ bằng những cơ chế chưa từng có. Chẳng hạn, tại TP.HCM có 4 trường hợp cần xử lý về giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất gồm dự án chung cư 1.330 căn hộ (tên thương mại là New City, thuộc khu đất 38,4 ha P.Bình Khánh – TP.Thủ Đức cũ); khu đất 30,2 ha tại Bình Khánh và khu đất 30,1 ha tại Nam Rạch Chiếc; dự án số 39 – 39B Bến Vân Đồn (Q.4 cũ).
Đây đều là những dự án đã bị “treo” hàng chục năm qua, không chỉ khiến nhà nước thất thu, doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng nặng nề mà người dân cũng khốn khổ vì bị “treo” sổ hồng, phải nộp đơn khiếu kiện khắp nơi. Trong đó, dự án số 39 – 39B Bến Vân Đồn bị vướng vào vụ án, theo kết luận của cơ quan thanh tra, quá trình giao đất cho khu đất này có sai phạm. Vì vậy, các căn hộ đã bàn giao 6 năm, nhưng cư dân vẫn chưa được cấp sổ đỏ. Với chính sách đặc thù, nhà đầu tư được tiếp tục sử dụng đất để thực hiện dự án sau khi đã xử lý về hành chính, hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, sai phạm, khắc phục hậu quả các vi phạm về kinh tế, thu hồi lợi ích vật chất do hành vi vi phạm theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tương tự, 11 dự án BĐS tại Khánh Hòa bị vướng mắc như vi phạm về quy định cho thuê đất không qua đấu giá, đấu thầu hay Đà Nẵng với 49 dự án có vi phạm đều được tháo gỡ liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận; giá đất tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…
Đáng chú ý, Nghị định 147/2026 (NĐ147) áp dụng chung trên cả nước, đồng thời cho phép mở rộng áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết 170/2024 để tháo gỡ cho các dự án BĐS tại 3 địa phương nói trên. Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM (HoREA), thời gian qua khi có Nghị quyết 170/2024, tại TP.HCM, Khánh Hòa và Đà Nẵng đã giải quyết được nhiều dự án BĐS tồn đọng. Vì vậy với Nghị quyết 29/2026 của Quốc hội và NĐ147 hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các địa phương trên cả nước sẽ tiếp tục tháo gỡ được hàng ngàn dự án vướng mắc, tồn đọng tương tự. “Nghị quyết 29 của Quốc hội đã tạo ra cơ chế, chính sách công bằng cho tất cả dự án BĐS bị vướng mắc, tồn đọng lâu nay trên cả nước, trong đó tập trung nhiều ở các đô thị lớn. Theo thống kê của Bộ NN-MT, cả nước vẫn còn 3.338 dự án, đất đai còn tồn đọng. Khi được tháo gỡ vướng mắc khó khăn thì nguồn lực đất đai và vốn rất lớn sẽ được giải phóng, tạo động lực góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cao”, ông Lê Hoàng Châu nhìn nhận.
Theo phân tích của ông Lê Hoàng Châu, điều 12 quy định xử lý tiếp tục giao đất, cho thuê đất với dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất sẽ có tác động rất lớn với các DN, chủ đầu tư dự án BĐS. Khi được gỡ vướng, các DN sẽ tiếp tục đổ thêm vốn vào thực hiện dự án. Thậm chí, để phù hợp trong tình hình mới, các chủ đầu tư có thể đề xuất điều chỉnh mở rộng quy mô hay điều chỉnh quy hoạch với hệ số sử dụng đất thay đổi nhằm hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn. Khi đó nguồn thu ngân sách nhà nước bổ sung sẽ gia tăng. Tương tự, điều 13 quy định xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi theo quy định thì các DN sẽ có quỹ đất để tiếp tục thực hiện.
Ông Châu nhấn mạnh: điều 12 và điều 13 tại NĐ147 sẽ có tác động rất lớn với các DN, chủ đầu tư dự án BĐS. Trong số 3.338 dự án còn tồn đọng trên cả nước, sẽ có rất nhiều dự án có thể được điều chỉnh về quy mô, quy hoạch lại sau rất nhiều năm nằm im. Nguồn lực đất đai được giải phóng, đưa vào sử dụng, không để tiếp tục tình trạng lãng phí. Đồng thời, nguồn vốn đầu tư đã đổ vào các dự án này cũng được khơi thông. Khai thác hiệu quả nguồn lực này sẽ đóng góp nhiều cho mục tiêu đưa kinh tế tăng trưởng 2 chữ số. Ngoài ra, điều 11 của nghị định quy định xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định sẽ tác động đến nhiều nhà đầu tư, khách hàng khi mua sản phẩm BĐS có vi phạm. Ở đây chủ yếu là các sản phẩm căn hộ du lịch (condotel) theo nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người dân, ổn định về mặt xã hội.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Văn Đính, Chủ tịch Hội Môi giới BĐS VN, cho rằng theo Bộ NN-MT, tính đến ngày 30.3.2025, cả nước có 4.489 dự án, quỹ đất gặp khó khăn, vướng mắc với tổng diện tích lên tới 198.428,1 ha và tổng mức đầu tư hơn 3,3 triệu tỉ đồng, tương đương khoảng gấp 3 lần tổng vốn đầu tư công năm 2026 (dự kiến 1,1 triệu tỉ đồng). Nếu được khơi thông, đây sẽ là động lực rất lớn thúc đẩy tăng trưởng GDP, đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số trong giai đoạn tới. Điểm đáng chú ý là Nghị quyết 29 của Quốc hội không chỉ tập trung vào xử lý trách nhiệm, mà còn cho phép triển khai đồng thời các giải pháp để đưa dự án trở lại hoạt động. Đây là sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy chính sách, từ “đóng băng để xử lý” sang “xử lý để vận hành”, qua đó mở ra khả năng kích hoạt lại một lượng lớn nguồn cung và dòng vốn đang bị tắc nghẽn.
Tác động từ cơ chế đặc thù này đối với thị trường BĐS được kỳ vọng sẽ diễn ra trên nhiều chiều. Trước hết, việc tháo gỡ pháp lý cho các dự án tồn đọng sẽ góp phần thúc đẩy nguồn cung. Khi các dự án được “giải phóng”, thị trường không chỉ có thêm nguồn cung, mà còn gia tăng mức độ cạnh tranh, giảm áp lực tăng giá cục bộ. Đặc biệt, Nghị quyết 29 có ý nghĩa quan trọng trong việc tháo gỡ nút thắt pháp lý cho phân khúc BĐS du lịch – nghỉ dưỡng, vốn đã gặp khó khăn kéo dài do thiếu hành lang pháp lý rõ ràng. Việc đưa ra cơ chế xử lý đối với các trường hợp đã được cấp sổ hồng nhưng chưa đúng quy định được xem là bước đi đầu tiên nhằm “mở khóa” tâm lý thị trường, góp phần khôi phục niềm tin của nhà đầu tư. Ngoài ra còn có tác động lan tỏa tới hệ thống tài chính, ngân hàng. “Trong thời gian qua, việc hàng loạt dự án bị đình trệ đã khiến dòng tiền bị tắc nghẽn, DN mất khả năng thanh toán và gia tăng áp lực nợ xấu. Khi các dự án được tháo gỡ và tái khởi động, dòng tiền sẽ dần được khơi thông, giúp DN cải thiện năng lực tài chính, đồng thời giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng”, TS Nguyễn Văn Đính giải thích.
TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhận xét điều đáng chú ý nhất của Nghị quyết 29 và NĐ147 không chỉ nằm ở việc tháo gỡ cho các dự án tồn đọng, mà nằm ở một thay đổi rất lớn trong tư duy điều hành. Đó là không để nền kinh tế tiếp tục bị “kẹt” vì những tồn đọng của quá khứ. Bởi trong nhiều năm qua, hàng loạt dự án BĐS bị “treo” không hẳn vì không có nhu cầu thị trường, mà chủ yếu do quy định chồng chéo, sai phạm xảy ra qua nhiều giai đoạn, khó xác định nghĩa vụ tài chính. Hệ quả là hàng triệu tỉ đồng tài sản bị “đóng băng”, đất đai không được khai thác, DN chết vốn, ngân hàng mắc kẹt dư nợ và nền kinh tế mất đi động lực tăng trưởng.
Một ví dụ rất điển hình là KCN Lê Minh Xuân 2. Đây là KCN nằm ở vị trí chiến lược của cửa ngõ phía tây TP.HCM, từng được kỳ vọng trở thành trung tâm sản xuất và logistics quan trọng. Tuy nhiên, do vướng mắc pháp lý kéo dài nhiều năm, quỹ đất lớn này không thể được khai thác đúng tiềm năng. Khi một dự án công nghiệp bị “đứng hình”, thiệt hại không chỉ là câu chuyện của một DN, mà kéo theo cả dòng vốn bị chôn, ngân hàng có thể bị kẹt tín dụng, DN sản xuất lại thiếu mặt bằng, ngân sách thất thu, hàng nghìn việc làm bị bỏ lỡ. Hay như tại Thủ Thiêm, nhiều dự án từng ách tắc nhiều năm vì chưa xác định được nghĩa vụ tài chính đất đai thì nay đã có lối ra. Chỉ cần tháo gỡ được vài dự án lớn như vậy, dòng vốn quay lại thị trường có thể lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng.
Một điểm đáng chú ý khác của NĐ147 là quy định DN phải nộp bổ sung tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tính theo chênh lệch giữa thời điểm cũ và thời điểm điều chỉnh hiện tại. Đây là cơ chế khá hợp lý vì nhà nước không thất thu ngân sách, DN có cơ hội tiếp tục dự án, thị trường được giải phóng nguồn cung, còn người dân có thêm nhiều sản phẩm để lựa chọn mua để an cư hay đầu tư. “Ý nghĩa lớn nhất của các chính sách cơ chế đặc thù tháo gỡ các dự án BĐS tồn đọng là đánh thức những tài sản đang ngủ quên trong nền kinh tế. Khi một dự án được tháo gỡ, ngân hàng có thể tái cấp tín dụng, nhà đầu tư có thể chuyển nhượng, địa phương có thêm nguồn thu, hàng nghìn lao động quay lại công trường, vật liệu xây dựng, logistics, thương mại, dịch vụ cùng được kích hoạt. Điều này là bước đi rất quan trọng để chuyển từ trạng thái đóng băng nguồn lực sang khơi thông nguồn lực cho phát triển”, TS Trần Việt Anh đánh giá.
Bên cạnh đó, chuyên gia kinh tế, TS Huỳnh Thanh Điền nhận định: Đảng và Chính phủ đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao không chỉ là một năm mà là trong nhiều năm tới để đưa VN trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Muốn đạt mục tiêu đó thì tất cả nguồn lực của đất nước phải được huy động và sử dụng hiệu quả. Những nguồn lực nào đang bị kẹt thì phải khơi thông. Cụ thể là việc tháo gỡ hàng ngàn dự án BĐS đang bị tồn đọng. Khi đất đai được đưa vào khai thác, sử dụng thì không còn tình trạng lãng phí mà sẽ tạo ra giá trị cho nền kinh tế, nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ gia tăng.
Không chỉ thế, việc Chính phủ ban hành hàng loạt nghị quyết để cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính mới đây cũng là một trong những hành động quyết liệt để tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng. Khi môi trường pháp lý rõ ràng, thủ tục điều kiện đơn giản hơn thì DN, người dân cũng mạnh dạn đầu tư kinh doanh. Đồng thời, chi phí tuân thủ pháp lý của DN cũng giảm, tạo ra nguồn lực cho phát triển. “Lịch sử cho thấy sau những giai đoạn tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế sẽ tạo ra các cú hích lớn, đưa kinh tế phát triển mạnh hơn. Với hàng loạt chính sách quan trọng gần đây cho thấy Chính phủ đã xác định đúng trọng tâm, quyết tâm huy động tất cả nguồn lực của đất nước để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao mà Đảng đã đề ra”, TS Huỳnh Thanh Điền nhấn mạnh.
Tại buổi họp báo quý 1/2026 của Ngân hàng Nhà nước chiều 14.4, ông Đào Xuân Tuấn, Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối (Ngân hàng Nhà nước), cho biết, đến hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đã nhận được 11 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép sản xuất vàng miếng của doanh nghiệp, ngân hàng thương mại.
Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan liên quan xem xét cấp phép sản xuất vàng miếng cho các đơn vị đủ điều kiện.
Con số 11 đơn vị này tăng thêm 2 đơn vị so với thông tin được Ngân hàng Nhà nước đưa ra cuối năm trước.
3 tháng đầu năm nay, giá vàng trong nước biến động ở mức cao. Điều này gắn liền với những tác động từ tình hình căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược gia tăng trên phạm vi toàn cầu.
Thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tục theo dõi sát diễn biến thị trường vàng trong nước và quốc tế, triển khai quy định tại Nghị định số 24/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 232/2025/NĐ-CP), phối hợp với các cơ quan hữu quan để tăng cường công tác quản lý và có biện pháp ổn định thị trường vàng theo thẩm quyền.
Ở khía cạnh tín dụng, lãi suất, theo Ngân hàng Nhà nước, cập nhật đến ngày 31.3, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỉ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Ngày 30.3, Ngân hàng Nhà nước có công văn yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tập trung triển khai các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất thị trường, góp phần ổn định thị trường tiền tệ, thực hiện nghiêm các quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất.
Đáng chú ý, sau cuộc họp do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chủ trì triển khai công tác ngân hàng ngày 9.4, các ngân hàng thương mại cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay.
Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), thông tin, đến nay, có khoảng 26 ngân hàng thương mại đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết với mức điều chỉnh giảm khoảng 0,1 - 0,5%/năm, chủ yếu là các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, từ đó có cơ sở giảm lãi suất cho vay hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước khẳng định tiếp tục yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm việc công khai lãi suất cho vay; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng...
Thời điểm đó, người dân các bản ở Sơn La quen xen canh cà phê với những cây truyền thống như sắn, ngô, lúa. Đến vụ thu hoạch, quả cà phê được thu hoạch xanh chín lẫn lộn, chất lượng quả chưa được quan tâm, giá cả thì phụ thuộc vào thương lái. Thu nhập bấp bênh từ loại cây này khiến nhiều hộ dân quyết định chặt bỏ để trồng thay thế bằng cây cam, bưởi, mận, xoài, nhãn.
Giữa bối cảnh đó, chị Cầm Thị Mòn (bản Mảy, xã Chiềng Chung cũ) cũng không khỏi đắn đo. Thế rồi, sau một chuyến tham quan Đắk Lắk, thấy người dân nơi đây có thu nhập cao từ việc trồng, chăm sóc cây cà phê, nhiều hộ đã thoát nghèo và làm giàu, chị Mòn quyết định giữ lại nương cà phê của gia đình. Chị bắt tay vào cải tạo đất, cắt tỉa, chăm bón phân theo đúng thời điểm sinh trưởng phát triển của cây.
Hành trình "thoát nghèo" của chị Mòn không đơn độc. Năm 2020, chị vận động 14 thành viên khác trong xã, lập nên Hợp tác xã (HTX) Ara-Tay Coffee, là tên ghép của giống cà phê Arabica nổi tiếng thơm ngon vùng Tây Bắc và "Tay" - tức là "người Thái".
Nhờ sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự đồng hành của Sở Nông nghiệp - Môi trường tỉnh Sơn La và tổ chức CARE, các thành viên HTX được tập huấn kiến thức từ trồng, chăm sóc, thu hái, bảo quản đến rửa, phơi, rang xay và đóng gói cà phê. Say mê học hỏi, các thành viên của HTX hiểu rằng đây là cơ hội đổi đời của họ.
Nâng niu từng quả cà phê thơm ngọt phơi dưới cái nắng vàng như mật ong, chị Cầm Thị Mòn tâm sự: "Chúng tôi không chỉ trồng cà phê, chúng tôi dành cho quả cà phê trên nương nhà mình cả trái tim và tâm huyết của những người làm vườn. Chúng tôi muốn kể câu chuyện để mọi người thưởng thức cà phê không chỉ biết đến đây là một loại thức uống, mà còn là câu chuyện của tình yêu và sự chăm sóc tận tình".
Với tâm huyết dành cho cây cà phê, chị Cầm Thị Mòn khẳng định, Ara-Tay Coffee cam kết mang lại những gói cà phê "tử tế đến từng hạt".
Để đảm bảo thực hiện lời hứa này, các thành viên HTX quyết tâm từ bỏ thói quen canh tác cũ, có hại cho đất và chất lượng quả cà phê.
Họ thay đổi thói quen "hái xô" quả xanh lẫn quả chín sang "hái chọn", tức là chỉ hái quả chín. Mỗi hạt cà phê được chọn lọc kỹ càng, từ những quả chín đỏ nhất, đạt độ đường, để đảm bảo rằng mỗi ly cà phê đều chứa đựng hương vị ngọt ngào, đậm đà và tinh tế. Cùng việc áp dụng những kinh nghiệm quý học hỏi được, họ tin rằng đã đến lúc người Sơn La mang những "hạt cà phê tử tế" đến với người tiêu dùng.
Chị Lò Thị Thủy, thành viên trẻ của Ara-Tay Coffee, cho hay, bằng việc canh tác thân thiện với môi trường, không dùng hóa chất độc hại, bà con nhận thấy họ đang bảo vệ sức khỏe của chính người trồng cà phê và giữ gìn thiên nhiên tươi đẹp nơi đây.
Mường Chanh là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu mát mẻ quanh năm, những nương đồi nằm ở độ cao trên 1.000 m so với mực nước biển, nhiệt độ chênh lệch trung bình trong ngày lên tới hơn 10 độ C. Đây là những điều kiện lý tưởng để hương vị và độ ngon của quả cà phê nơi đây đặc biệt hơn hẳn những nơi khác.
Từ chỗ diện tích ban đầu của 14 thành viên có khoảng 14 ha, đến nay, tổng diện tích vùng nguyên liệu của HTX Ara-Tay Coffee đã lên tới trên 70 ha. Hiện sản phẩm của HTX được bao tiêu ổn định theo đơn đặt hàng của các khách hàng trong nước và bước đầu tiến ra thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản. Vụ sản xuất năm 2025, HTX đạt khoảng 90 tấn cà phê quả tươi, cho khoảng 7 tấn cà phê nhân xanh và sản phẩm khác.
Thương hiệu cà phê bột Honey và Natural, trà cascara từ vỏ quả cà phê đã và đang được người tiêu dùng đón nhận và đánh giá cao, nhiều năm liền được công nhận sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của tỉnh Sơn La.
Đáng chú ý, bên cạnh ấn tượng mà cà phê Arabica Sơn La tạo ra được trên thị trường trong nước và quốc tế, cùng ưu tiên thúc đẩy canh tác bền vững, Ara-Tay Coffe tuy là "tân binh" song đã dần khẳng định được tên tuổi và vị trí, được biết đến như một điểm sáng chuyên sản xuất cà phê Arabica chất lượng cao do người Thái trồng tại tỉnh Sơn La.
Và họ, những "người kể câu chuyện về cà phê Sơn La", vẫn đang ngày ngày cần mẫn đưa cà phê Ara-Tay đến người tiêu dùng bằng cả tấm lòng. Không chỉ sản xuất cà phê, họ còn vun đắp niềm tự hào của người Thái Sơn La, hướng tới xây dựng một thương hiệu, một tương lai bền vững cho thế hệ mai sau.
Ngày 18/5, nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), tỉnh Nghệ An chính thức tổ chức Lễ công bố và khởi công hạ tầng kỹ thuật Dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập với tổng vốn đầu tư gần 2,2 tỷ USD. Đây là một trong những dự án năng lượng quy mô lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ hiện nay.
Theo đó, dự án do liên danh Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power), Công ty SK Innovation (Hàn Quốc) và Công ty TNHH Mía đường Nghệ An (NASU) cùng đầu tư. Theo kế hoạch, nhà máy sẽ hoàn thành, đưa vào vận hành trong giai đoạn 2026 - 2030, trở thành một trong những trung tâm điện khí LNG quan trọng của khu vực Bắc Trung Bộ. Địa điểm thực hiện tại phường Tân Mai với tổng diện tích đất và mặt biển gần 153ha (chưa bao gồm vùng biển sử dụng làm đê chắn sóng chung cho Khu bến Đông Hồi).
Đây là dự án trọng điểm, có ý nghĩa chiến lược trong phát triển năng lượng quốc gia, góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 70 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; đồng thời là dự án động lực quan trọng trong Quy hoạch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Trong thời gian qua, với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao nhất, tỉnh Nghệ An đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, phối hợp chặt chẽ với các Ban, Bộ, ngành Trung ương và nhà đầu tư để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hoàn thiện đầy đủ hồ sơ, thủ tục và các điều kiện cần thiết, bảo đảm dự án được triển khai đúng tiến độ.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Võ Trọng Hải - Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An - khẳng định, việc các nhà đầu tư lựa chọn tỉnh Nghệ An để triển khai dự án quy mô lớn, công nghệ hiện đại là minh chứng cho niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào môi trường đầu tư ngày càng minh bạch, thuận lợi và năng động của tỉnh; đồng thời thể hiện vai trò, vị thế ngày càng quan trọng của tỉnh Nghệ An trong liên kết vùng và phát triển kinh tế vùng Bắc Trung Bộ.
Dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Quỳnh Lập không chỉ góp phần bổ sung nguồn điện ổn định, hiện đại, thân thiện môi trường cho hệ thống điện quốc gia, mà còn mở ra không gian phát triển mới cho khu vực phía Bắc tỉnh Nghệ An, trở thành động lực tăng trưởng mới của tỉnh Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ.
Với định hướng sử dụng LNG - nguồn nhiên liệu chuyển tiếp có mức phát thải thấp hơn so với các nguồn điện truyền thống, dự án còn góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch năng lượng, phát triển xanh và cam kết Net Zero của Việt Nam.
Khi đi vào hoạt động, dự án sẽ tạo động lực mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ, logistics, hạ tầng cảng biển; tạo việc làm, tăng thu ngân sách và nâng cao năng lực thu hút đầu tư của tỉnh trong thời gian tới.
Đây cũng là dấu mốc quan trọng khẳng định quyết tâm của tỉnh Nghệ An trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hiện đại, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.
Để Dự án triển khai đúng tiến độ, đạt hiệu quả cao, ông Võ Trọng Hải - Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An đề nghị Liên danh nhà đầu tư tập trung tối đa nguồn lực tài chính, nhân lực, công nghệ để triển khai dự án khoa học, bài bản, đồng thời, khẩn trương hoàn thiện các hồ sơ, thủ tục liên quan; bảo đảm đưa nhà máy vào vận hành phát điện trong năm 2030. Chỉ đạo các nhà thầu thi công tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; bảo đảm chất lượng, an toàn công trình, an toàn lao động; thực hiện nghiêm các quy định về môi trường, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sinh hoạt của Nhân dân trong khu vực.