Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường vừa có công văn gửi Thủ tướng kiến nghị nhiều giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh cá thể, trong đó có nội dung nghiên cứu cho thực hiện chính sách thuế khoán đối với hộ kinh doanh có doanh thu năm dưới 5 tỉ đồng.
Sau đó, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đã chỉ đạo Bộ Tài chính theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, nghiên cứu các kiến nghị.
Trái ngược với đề xuất của Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường, luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cho rằng: “Không nên vì những khó khăn bước đầu mà vội vàng điều chỉnh theo hướng quay trở lại cơ chế thuế khoán dù với bất kỳ ngưỡng doanh thu nào”.
Xóa bỏ thuế khoán để minh bạch hóa nghĩa vụ thuế là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, sau gần nửa năm áp dụng, không ít hộ kinh doanh còn tâm lý hoang mang, chờ đợi những điều chỉnh chính sách tiếp theo khi đối diện các khó khăn, vướng mắc.
Cần thêm khoảng 3 – 6 tháng nữa để các hộ kinh doanh cá thể và nền kinh tế nói chung dần quen với phương thức quản lý mới.
Hiện tại, mấu chốt là phải làm rõ vì sao nhiều hộ kinh doanh vẫn muốn áp dụng thuế khoán. Nguyên nhân chủ yếu là họ không muốn sử dụng hóa đơn, chứng từ, lập sổ sách kế toán, phải chứng minh đầu vào. Đối với các hộ kinh doanh cá thể, việc thu thập hóa đơn đầu vào thường gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, hộ kinh doanh còn có tâm lý e ngại, sợ sai, sợ bị xử phạt.
“Thời gian tới, để tháo gỡ những nút thắt, giải pháp phù hợp là tiếp tục cải cách thủ tục, mở rộng các trường hợp được áp dụng cơ chế đơn giản hóa, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và hỗ trợ hộ kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế thuận lợi hơn. Khi thanh toán được số hóa và dữ liệu giao dịch minh bạch hơn, nhu cầu phải quay lại thuế khoán sẽ tự nhiên giảm đi”, ông Được nói.
Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, mấu chốt hiện nay là lộ trình thích nghi khi thực hiện chính sách thuế mới. Thông thường, giai đoạn thích nghi và chuyển tiếp diễn ra trong khoảng 1,5 – 2 năm. Tuy nhiên, hiện thời gian thích nghi đối với hộ kinh doanh quá ngắn.
“Thuế khoán không còn phù hợp, song để việc thay đổi diễn ra thuận lợi, giảm thiểu ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, cần xác định điều kiện cho việc áp dụng chính sách thuế khoán cũng như lộ trình xóa bỏ thuế khoán”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Điều kiện xác định cho phép áp dụng thuế khoán theo lộ trình căn cứ theo ngưỡng doanh thu và ngành nghề. Ngưỡng doanh thu áp dụng thuế khoán 5 tỉ đồng có thể được cân nhắc.
Về ngành nghề được áp dụng thuế khoán, phương án ông Tuấn đề xuất là một số ngành nghề đặc thù như bán hàng rong, tiểu thương bán ở chợ cá, chợ rau, chợ dân sinh, tạp hóa gia đình…
Khi thỏa mãn cả 2 điều kiện nêu trên, có thể cân nhắc cho phép hộ kinh doanh được áp dụng thuế khoán.
Khi điều kiện thuận lợi hơn (tỷ lệ người dân sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và tỷ lệ sử dụng hóa đơn điện tử cao trong nền kinh tế), sẽ siết chặt điều kiện áp dụng thuế khoán bằng cách hạ ngưỡng doanh thu và thu hẹp phạm vi ngành nghề áp dụng.
Với các nhóm ngành nghề còn lại, theo ông Tuấn, có thể thực hiện chính sách thuế kê khai, song cũng cần có giai đoạn thích nghi cho hộ, cá nhân kinh doanh.
Cụ thể như, năm 2026, thậm chí là năm 2027, hộ kinh doanh có thể tự lựa chọn tính thuế theo phần trăm doanh thu hoặc phần trăm lợi nhuận, trước khi bắt buộc áp dụng tính thuế theo lợi nhuận đối với hộ kinh doanh có doanh thu từ 3 tỉ đồng trở lên.
“Về lâu dài, cần xây dựng chính sách để hộ kinh doanh tự nguyện chuyển đổi lên doanh nghiệp, thay vì khuyến khích như hiện nay; nên cân nhắc áp dụng giảm trừ gia cảnh cho hộ kinh doanh và lợi nhuận tạo ra thực hiện tính thuế theo bậc lũy tiến từng phần 5 – 35%”, vị chuyên gia đề xuất.
Tại họp báo thường kỳ quý 2 của Bộ Tài chính mới đây, Phó cục trưởng Cục Thuế Mai Sơn cho biết, khi có những đề xuất thực sự giúp tạo thuận lợi hơn cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp, cơ quan thuế ghi nhận, sẽ tiếp tục nghiên cứu, tham mưu Bộ Tài chính và các cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Thời gian tới, ngành thuế sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định tại nghị định, thông tư hướng dẫn và cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi hơn cho hộ kinh doanh.
Khu tập thể Thanh Xuân Bắc (phường Thanh Xuân, Tp.Hà Nội) gồm 60 tòa chung cư cao 5 tầng, xây dựng trong giai đoạn 1978-1987. Theo danh mục cải tạo chung cư cũ của Hà Nội công bố tháng 3/2026, hơn một nửa số tòa đã được kiểm định; trong đó, 9 tòa xếp loại C (kết cấu hư hỏng đáng kể), 30 tòa xếp loại B (xuống cấp).
Sau hơn bốn thập kỷ, nhiều hạng mục tại khu tập thể đã xuống cấp nghiêm trọng, đặt ra yêu cầu cấp bách phải cải tạo, xây dựng lại.
Vừa qua ngày 7/4, Chủ đầu tư Phú Mỹ Hưng (Tập đoàn CT&D) đã kiến nghị tham gia cải tạo khu tập thể Thanh Xuân Bắc để tái thiết hạ tầng và cải thiện đời sống dân sinh.
Theo bà Lý Kim Chi, ai cũng từng nhiều lần ăn uống ở các hàng, quán ngoài đường nên đều có nguy cơ ăn phải thịt heo nái bị phù phép thành thịt bò. Đây không phải là lần đầu tiên mà trong thời gian qua, nhiều lần các cơ quan chức năng đã phát hiện thực phẩm bẩn, giả, kém chất lượng.
"Tôi với tư cách Chủ tịch FFA, có thể vui mừng thông báo là trong thời gian qua tất cả hội viên chúng tôi chưa liên quan tới tình trạng hàng giả, bẩn, kém chất lượng. Nhưng cũng phải tâm sự thật, cái khó nhất với cộng đồng doanh nghiệp không phải làm sao sản xuất ra sản phẩm tốt, sản phẩm có chất lượng cao mà làm sao giữ vững niềm tin người tiêu dùng trong bối cảnh hàng gian, hàng giả tràn lan. Cộng đồng doanh nghiệp chịu rất nhiều áp lực về chi phí đầu vào, giá cả nguyên vật liệu tăng nhanh, thuế, phí… Với gánh nặng như vậy, làm sao những doanh nghiệp chân chính có thể cạnh tranh với hàng giả, nhái, kém chất lượng. Thêm vào đó là thời gian gần đây, những mặt hàng kém chất lượng, giả nhái phát triển mạnh trên kênh online. Chúng ta phải có biện pháp làm sao giải quyết bất cập này, tạo môi trường cạnh tranh công bằng giữa các thành phần kinh tế", bà Chi nói.
Người đứng đầu FFA tâm huyết: "Tôi ở trong ngành này và xin nói thật, một mình ngành quản lý thị trường không thể nào quản được. Cần phải có chế tài nghiêm khắc với những đối tượng này sản xuất hàng giả, nhái kém chất lượng". Trên cơ sở đó, bà Chi nêu 3 giải pháp chính. Thứ nhất, mạnh tay chống hàng gian, giả, gian lận thương mại. Tăng cường xử lý nghiêm, chế tài mạnh với hàng giả, nhái và hàng không rõ nguồn gốc, đặc biệt là hàng bán trên kênh online. Hiện tại, kênh này đang phát triển mạnh, có quy mô lớn và ẩn chứa nhiều nguy cơ. Phải làm mạnh ngay tại thời điểm này để kích cầu tiêu dùng, củng cố niềm tin người tiêu dùng.
Thứ 2, cần đổi mới cách tiếp cận chính sách quản lý an toàn thực phẩm. Nguyên nhân vì luật an toàn thực phẩm đã ra đời nhiều năm và rất rất lạc hậu nên có nhiều điều phát sinh. Hiện tại, chúng ta đang xây dựng luật mới, việc sửa đổi luật đang được chuẩn bị thông qua. Luật mới phải được xây dựng theo hướng hiện đại minh bạch và giảm rủi ro.
Thứ 3, Nhà nước cần tiếp tục thúc đẩy các chương trình thúc đẩy tiêu dùng gắn với hàng Việt Nam chất lượng cao, chương trình "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Đặc biệt là cần tăng cường hỗ trợ những doanh nghiệp gắn bó lâu năm.
Doanh nghiệp tư nhân không còn đứng ở cuối chuỗi giá trị với vai trò nhà đầu tư, mà đang tham gia từ giai đoạn nghiên cứu, kết nối nguồn lực và chuẩn bị nền tảng cho những động lực tăng trưởng mới. Câu chuyện của KITA Group tại FTZ Đà Nẵng 2026 là một ví dụ điển hình cho xu hướng đó.
Một FTZ thành công cần nhiều hơn một bản quy hoạch
Tại Hội thảo "Mô hình phát triển Khu kinh tế tự do (FTZ) - Kinh nghiệm thế giới và bối cảnh Việt Nam", các chuyên gia trong nước và quốc tế đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm về quá trình hình thành và phát triển các FTZ thành công trên thế giới. Điểm chung được nhắc đến là thành công của một FTZ không chỉ nằm ở quy hoạch hay hạ tầng, mà còn phụ thuộc vào khả năng hình thành một hệ sinh thái phát triển đồng bộ, nơi logistics, công nghiệp, thương mại, công nghệ và đô thị được kết nối trong cùng một chiến lược dài hạn.
Hội thảo "Mô hình phát triển Khu kinh tế tự do (FTZ) - Kinh nghiệm thế giới và bối cảnh Việt Nam đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm về quá trình hình thành và phát triển các FTZ thành công trên thế giới.
Nếu FTZ được xem là bài toán về xây dựng một hệ sinh thái tăng trưởng mới, thì đây cũng chính là góc nhìn mà KITA Group lựa chọn khi tham gia vào quá trình nghiên cứu và phát triển FTZ Đà Nẵng.
Theo nội dung thống nhất tại Hội thảo, KITA Group sẽ tham gia nghiên cứu, đề xuất định hướng phát triển, xúc tiến và chuẩn bị đầu tư đối với Phân khu số 6 (VT6) và Phân khu số 7 (VT7) thuộc Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Trong đó, VT6 có quy mô khoảng 154ha, được định hướng phát triển thương mại, dịch vụ và logistics, đóng vai trò trung tâm dịch vụ - hậu cần hỗ trợ FTZ. VT7 có quy mô khoảng 401ha, được định vị triển khoa học công nghệ, kinh tế số và đổi mới sáng tạo, trở thành động lực tăng trưởng dài hạn của FTZ Đà Nẵng.
Trong quá trình này, KITA Group sẽ đảm nhận vai trò đầu mối nghiên cứu chiến lược, kết nối các đối tác và đơn vị tư vấn trong nước, quốc tế để đề xuất mô hình phát triển phù hợp cho FTZ Đà Nẵng. Định hướng của doanh nghiệp không chỉ tập trung vào từng phân khu riêng lẻ mà hướng tới việc kết nối VT6 và VT7 với hệ sinh thái cảng Liên Chiểu, logistics, công nghiệp, thương mại - dịch vụ và không gian đô thị phía Tây Bắc thành phố, trong đó có khu đô thị Golden Hills, góp phần hình thành một cấu trúc kinh tế - đô thị tích hợp, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của FTZ Đà Nẵng trong tương lai.
Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Duy Kiên - Chủ tịch Hội đồng sáng lập KITA Group cho biết sau khi mở rộng không gian phát triển, Đà Nẵng đang sở hữu những điều kiện hiếm có để trở thành trung tâm kinh tế biển, logistics, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo của khu vực miền Trung.
"Chúng tôi đánh giá cao tầm nhìn của Đà Nẵng và mong muốn là nhà đầu tư đồng hành cùng thành phố, DSEZA và các đối tác quốc tế trong nghiên cứu, phát triển và thu hút đầu tư vào FTZ, góp phần hình thành một hệ sinh thái kinh tế hiện đại, kết nối cảng biển, logistics, công nghệ và đô thị", ông Nguyễn Duy Kiên chia sẻ.
Khi doanh nghiệp không còn đứng ở cuối chuỗi phát triển
Nếu trước đây doanh nghiệp thường xuất hiện khi quy hoạch đã hoàn thiện và cơ hội đầu tư đã hình thành, thì ngày nay khu vực tư nhân đang tham gia ngày càng sâu hơn vào quá trình nghiên cứu, chuẩn bị và kết nối nguồn lực cho các mô hình phát triển mới.
Với KITA Group, việc tham gia nghiên cứu FTZ Đà Nẵng không đơn thuần xuất phát từ một cơ hội đầu tư. Điều đáng chú ý hơn là cấu trúc phát triển của FTZ có nhiều điểm tương đồng với định hướng xây dựng hệ sinh thái mà doanh nghiệp đang theo đuổi.
Đại diện Tập đoàn KITA Group và Ban Quản lý Khu công nghệ cao & các khu công nghiệp Đà Nẵng cùng các đối tác kí kết thỏa thuận hợp tác về việc nghiên cứu các vị trí thuộc Khu thương mại tự do tại thành phố Đà Nẵng.
Về bản chất, FTZ là mô hình phát triển dựa trên khả năng kết nối. Đây cũng là cách KITA Group tiếp cận chiến lược phát triển của mình trong nhiều năm qua. Lợi thế của KITA Group không chỉ nằm ở quy mô quỹ đất hay kinh nghiệm phát triển đô thị. Điều đáng chú ý hơn là quá trình mở rộng hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều năm qua đang tạo ra một cấu trúc tương đối gần với những thành tố cốt lõi của một FTZ hiện đại: Đô thị, hạ tầng, logistics, thương mại, kết nối quốc tế và các dịch vụ hỗ trợ phát triển.
Trong nhiều năm, doanh nghiệp thường được nhắc đến như những chủ thể tham gia vào tăng trưởng. Nhưng từ câu chuyện FTZ Đà Nẵng, có thể thấy một vai trò mới đang dần hình thành. Doanh nghiệp không chỉ đầu tư vào các động lực tăng trưởng, mà đang tham gia vào quá trình kiến tạo những động lực đó ngay từ giai đoạn đầu.