Một số nước trên thế giới đã có quy định cấm dùng mạng xã hội với người từ 16 tuổi trở xuống hoặc dùng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế.
Từ trong nước, nhiều câu chuyện, vụ việc đau lòng xuất phát do mâu thuẫn từ mạng xã hội bước ra đời thực cho thấy đến lúc chúng ta phải có cách nhìn và xử lý đúng vấn nạn này. Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Nguyễn Thị Mai Thoa – đại biểu Quốc hội chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội – chia sẻ thêm một số góc nhìn.
* Thưa bà, thời gian qua tình trạng trẻ em bị xâm hại trên mạng với nhiều hình thức tinh vi như bắt cóc online, bạo lực, bắt nạt và bị lôi kéo vào nhiều hội/nhóm xấu… khiến dư luận lo ngại, bức xúc. Từ thực tế theo dõi, bà đánh giá thế nào về thực trạng này?
– Khi công nghệ phát triển và có sức hút lớn thì việc trẻ em tiếp cận mạng xã hội từ rất sớm như là một xu hướng của sự phát triển. Không thể phủ nhận Internet mang lại rất nhiều lợi ích và trở thành một phần không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của trẻ em.
Tuy nhiên thời gian qua tình trạng trẻ em bị xâm hại trên mạng như đã nêu diễn ra khá thường xuyên, phức tạp.
Đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất, tâm thần cũng như cuộc sống và sự phát triển bình thường của trẻ em, hơn thế với các hình thức tinh vi dẫn đến khó quản lý và điều chỉnh.
Các số liệu từ cơ quan chức năng cho thấy các tội phạm công nghệ đang tập trung nhằm vào giới trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên, những người thiếu kỹ năng sống và dễ bị thao túng tâm lý, đặt ra yêu cầu cấp bách về tăng cường công tác quản lý nhà nước với việc bảo vệ trẻ em trên mạng.
Vấn đề này cũng đã được Việt Nam khởi xướng tại lễ mở ký Công ước Hà Nội về phòng chống tội phạm mạng tại Hà Nội vào tháng 10-2025.
Ngay sau đó, ngày 23-3-2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 468 phê duyệt chương trình “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026 – 2030”, tiếp tục khẳng định cam kết và nỗ lực của Việt Nam trong công tác bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
* Khi thảo luận tổ, bà đã đề nghị cần nghiên cứu giải pháp hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội. Xin bà chia sẻ thêm về lý do đưa ra đề xuất này?
– Như tôi đã nêu ở trên, những năm gần đây trẻ em Việt Nam sử dụng mạng xã hội có xu hướng tăng mạnh, trong đó có một bộ phận đáng kể dành nhiều thời gian mỗi ngày cho các nền tảng trực tuyến, thậm chí “nghiện”.
Điều này khiến trẻ em dễ trở thành mục tiêu của những nguy cơ mới trên môi trường số, đặc biệt là xâm hại tình dục, lừa đảo, tống tiền, bạo lực, bắt cóc trực tuyến. Thực tế không phải trẻ em nào cũng được hướng dẫn sử dụng mạng an toàn, cách thức báo cáo nguy cơ hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp những rủi ro trực tuyến.
Bên cạnh đó nhiều cha mẹ chưa có nhận thức đầy đủ về nguy cơ, rủi ro trên mạng nên điện thoại hay máy tính bảng được xem như một công cụ trông trẻ, cứ “giao” trẻ cho mạng xã hội, tạo nên sự lệ thuộc của trẻ em vào thiết bị và mạng xã hội ngay từ khi còn nhỏ.
Phần lớn cha mẹ không nắm rõ các quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em trên mạng, chưa biết cách sử dụng các công cụ phù hợp thiết lập chế độ an toàn, giới hạn nội dung, quản lý thời gian… với trẻ em khi sử dụng mạng xã hội.
Hiện nay nội dung giáo dục an toàn mạng và kỹ năng số đã được đưa vào một số chương trình ngoại khóa. Đã có những trường học hạn chế hoặc cấm học sinh sử dụng điện thoại trong giờ học.
Tuy nhiên nội dung giáo dục an toàn mạng chưa mang tính bắt buộc, đồng thời thiếu cơ chế phối hợp thường xuyên giữa nhà trường với gia đình trong việc giám sát và hỗ trợ trẻ em khi phát hiện dấu hiệu nguy cơ đối với trẻ em trên môi trường mạng.
Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng nhằm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, ban hành nhiều quy định mới về bảo vệ trẻ em khi sử dụng mạng xã hội.
Tuy nhiên môi trường số thay đổi nhanh chóng và phức tạp, rất cần sự chủ động, tích cực, trách nhiệm của cơ quan quản lý, tổ chức, gia đình, cá nhân và chính trẻ em trong việc bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Trên thế giới, một số nước cũng đã áp dụng biện pháp cấm hoặc hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội.
Xem xét, tính toán giữa được và mất khi trẻ em dùng mạng xã hội, tôi đã đề nghị nghiên cứu giải pháp cấm hoặc hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội với một số nền tảng mạng xã hội phổ biến kèm theo những điều kiện, giải pháp cụ thể liên quan khác.
* Để có thể thực hiện được đề xuất đưa ra, theo bà đâu sẽ là các điều kiện và giải pháp quan trọng nhất?
– Từ thực tế nghiên cứu sơ bộ, tôi thấy cần chú trọng một số điểm. Đầu tiên là phải có nền tảng pháp lý cần thiết để các chủ thể liên quan bắt buộc tuân thủ, cũng như có chế tài nếu vi phạm.
Trường hợp chỉ quy định “hạn chế thời gian sử dụng mạng xã hội” cần thiết lập, vận hành công cụ lọc, tắt các tính năng có nội dung độc hại đối với trẻ em, kiểm soát thời gian, báo cáo tình hình trẻ em sử dụng Internet, mạng xã hội thông qua thiết lập chế độ tự động giới hạn thời gian. Kèm theo đó có các giải pháp để chặn truy cập vào ban đêm, vô hiệu hóa các chức năng trò chuyện với người lạ, tham gia nhóm kín… để giúp quản lý, giám sát trẻ em sử dụng mạng xã hội.
Bên cạnh đó cần phát triển, phổ cập các giải pháp an ninh mạng hỗ trợ bảo vệ trẻ em trên mạng và giải pháp giáo dục kỹ năng số cho trẻ em, cha mẹ, giáo viên. Từ đó hướng tới hình thành hệ sinh thái, kho ứng dụng số chọn lọc dành cho trẻ em Việt Nam. Đồng thời tăng cường rà soát, truy quét, xóa gỡ các hội/nhóm, video độc hại, không phù hợp với trẻ em trên các nền tảng mạng xã hội.
Một nội dung khác là phải tiếp tục tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức xã hội về trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Nâng cao năng lực cho lực lượng chuyên trách, phòng ngừa, ngăn chặn các mối nguy hại, rủi ro và đấu tranh, tăng chế tài, xử lý nghiêm minh các hành vi xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.
* Thực tế nhiều phụ huynh băn khoăn khi giáo viên giao bài qua nhóm Facebook, Zalo…, việc này liệu có bị ảnh hưởng nếu cấm, hạn chế dùng mạng xã hội với trẻ em?
– Tôi nghĩ vấn đề vẫn là nên hướng tới việc dạy trẻ cách sử dụng Internet như một công cụ học tập, giải trí và nghiên cứu lành mạnh, đồng thời thống nhất sử dụng các kênh liên lạc chính thống. Theo tôi, quan trọng nhất là chúng ta xây dựng một môi trường số an toàn, bao trùm và phù hợp với sự phát triển của trẻ như thế nào.
Cần phát huy tốt hơn công cụ sổ liên lạc điện tử đang được sử dụng khá phổ biến nhưng chưa thực sự hiệu quả hiện nay, mở rộng sử dụng nhóm thảo luận trong các công cụ này thay thế cho các mạng xã hội dùng chung. Có thể cho phép học sinh sử dụng một hoặc một số ứng dụng của sổ liên lạc điện tử để trao đổi với thầy cô giáo và bạn bè…
Tiến sĩ tâm lý học Mark Travers (ĐH Cornell, Mỹ) chỉ ra hai biểu hiện của người thông minh thường bị hiểu lầm trong cuộc sống hàng ngày.
Khó buông vấn đề khi chưa hiểu rõ
Trong quá trình làm việc, tiến sĩ Travers thường gặp những người không thể ngừng nghĩ về một cuộc trò chuyện đã kết thúc. Trong tâm lý học, hiện tượng này gọi là "nhu cầu nhận thức" (need for cognition) - xu hướng muốn tìm lời giải thích đầy đủ và thấy khó chịu khi vấn đề dang dở.
Khái niệm này do nhà tâm lý học Arthur Cohen (Mỹ) cùng cộng sự xây dựng. Theo họ, con người có nhu cầu tạo ra sự hiểu biết nhất quán về những gì diễn ra xung quanh. Khi quá trình này bị gián đoạn, não bộ tiếp tục xử lý thông tin cho đến khi tìm được lời giải hợp lý.
Một phân tích tổng hợp năm 2025 trên tạp chí Intelligence với hơn 25.000 người cho thấy "nhu cầu nhận thức" có mối liên hệ với trí thông minh linh hoạt và trí thông minh tổng quát. Theo đó, người có năng lực nhận thức cao thường không dừng lại cho đến khi hiểu trọn vẹn vấn đề.
Các nhà nghiên cứu cho biết đây là một xu hướng nhận thức của não bộ, không đơn thuần là tính cầu toàn.
Mất nhiều thời gian cho quyết định nhỏ
Biểu hiện thứ hai là mất nhiều thời gian cho các quyết định đơn giản như chọn phim, gọi món ăn hoặc thời điểm trả lời tin nhắn. Điều này dễ khiến họ bị đánh giá là thiếu quyết đoán.
Tiến sĩ Mark Travers cho biết hiện tượng này liên quan đến khuynh hướng "tối đa hóa" (maximizing) - luôn tìm phương án tốt nhất thay vì chấp nhận một lựa chọn "đủ tốt".
Người có khả năng phân tích thường hình dung nhiều kịch bản, cân nhắc ưu nhược điểm và dự đoán rủi ro trước khi quyết định. Ở những lựa chọn quan trọng như nghề nghiệp, đây là lợi thế. Tuy nhiên, cơ chế não bộ không phải lúc nào cũng phân biệt được quyết định lớn và lựa chọn nhỏ hàng ngày.
Các nghiên cứu cho thấy người luôn tìm phương án tốt nhất trong quyết định quan trọng cũng làm điều tương tự với các lựa chọn nhỏ. Họ không phải người ra quyết định kém, mà do phân tích tốt nhưng khó xác định thời điểm dừng lại.
Xiao Liu (Trung Quốc) là một người nghiện điện thoại. Cô thường xuyên sử dụng thiết bị trong bóng tối trước khi ngủ. Một ngày nọ, khi đang lướt điện thoại, mắt cô bất ngờ tối sầm lại.
Ban đầu, Xiao Liu nghĩ chỉ là do mệt mỏi. Tuy nhiên, sau khi nghỉ ngơi, thị lực vẫn không hồi phục. Kết quả thăm khám cho thấy cô bị tắc nghẽn động mạch võng mạc trung tâm – thường được gọi là "đột quỵ mắt". Nguyên nhân chính được xác định là thói quen sử dụng điện thoại quá lâu trong môi trường thiếu sáng.
Trường hợp này khiến nhiều người thắc mắc, liệu việc dùng điện thoại trước khi ngủ có thực sự nguy hiểm như nhiều tin đồn, thậm chí liên quan đến ung thư?
Một nghiên cứu đăng trên tạp chí CANCER theo dõi hơn 464.000 người trong suốt 12,8 năm cho thấy: việc tiếp xúc với ánh sáng vào ban đêm có thể liên quan đến nguy cơ ung thư tuyến giáp cao hơn. Cụ thể, nhóm có mức phơi nhiễm ánh sáng ban đêm cao nhất có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 55% so với nhóm thấp nhất, và mối liên hệ này rõ rệt hơn ở nữ giới.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng đây chỉ là nghiên cứu quan sát. Mối quan hệ nhân quả giữa ánh sáng ban đêm và ung thư vẫn chưa được chứng minh rõ ràng, và cần thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu để xác nhận.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu khác về bức xạ điện thoại cho thấy khả năng gây ung thư não chưa có cơ sở khoa học vững chắc. Bức xạ từ điện thoại chỉ được xếp vào nhóm "có thể gây ung thư", cần thêm nghiên cứu để khẳng định.
Dù vậy, một mối liên hệ rõ ràng hơn đã được ghi nhận: tiếp xúc ánh sáng ban đêm kéo dài dễ gây thức khuya, làm rối loạn đồng hồ sinh học, từ đó ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và gián tiếp làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Theo bài viết của BGR, ánh sáng xanh đúng là có thể ảnh hưởng đến nhịp sinh học và làm giảm melatonin - hormone hỗ trợ giấc ngủ. Cụ thể, dẫn nguồn nghiên cứu từ Đại học Washington (Mỹ), bài viết cho thấy những người dùng màn hình trước khi ngủ có nguy cơ ngủ kém cao hơn 33% so với nhóm tránh thiết bị điện tử vào ban đêm.
Mặc dù vậy, cường độ ánh sáng từ điện thoại thường thấp hơn nhiều so với ánh sáng ban ngày tự nhiên, có nghĩa đó không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến giấc ngủ. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, thay vì chỉ riêng ánh sáng xanh, nguyên nhân lớn hơn nằm ở thói quen sử dụng điện thoại trước giờ ngủ.
Cụ thể, việc lướt mạng xã hội, đọc tin tức căng thẳng hay xem nội dung kích thích có thể khiến não bộ khó thư giãn và làm người dùng thức khuya hơn dự định. Ngay cả khi chế độ Night Mode hoặc kính lọc ánh sáng xanh có thể giúp giảm ánh sáng bước sóng ngắn, hiệu quả cải thiện giấc ngủ vẫn còn gây tranh cãi.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng ánh sáng xanh không hoàn toàn xấu. Ban ngày, ánh sáng xanh từ mặt trời giúp cơ thể tỉnh táo và đồng bộ đồng hồ sinh học. Vấn đề xuất hiện khi con người tiếp xúc với ánh sáng mạnh hoặc dùng điện thoại quá lâu vào ban đêm.
Ngoài ánh sáng, nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến giấc ngủ như độ sáng màn hình, thời gian sử dụng, nội dung đang xem và thói quen sinh hoạt. Một số chuyên gia cho rằng việc trì hoãn giờ ngủ do mải dùng điện thoại còn gây hại nhiều hơn chính ánh sáng xanh.
Để cải thiện chất lượng giấc ngủ, các chuyên gia khuyên nên:
-Giảm dùng điện thoại ít nhất 30 phút trước khi ngủ.
Từng là sinh viên xuất sắc trúng tuyển chương trình tiến sĩ của Đại học Nhân dân Trung Quốc, Shen Guangling (đã đổi tên) hiện sống khép kín tại quê nhà ở Hồ Nam. Mọi sinh hoạt của anh do cha mẹ chu cấp từ tiền lương hưu.
Ông Shen Xiaojie, cha của Guangling, cho biết con trai từng được địa phương gọi là "thần đồng". Sau khi đỗ chương trình tiến sĩ tại Đại học Nhân dân Trung Quốc, anh theo học một giáo sư hướng dẫn danh tiếng. Tuy nhiên, khi chuyển sang làm việc với giáo sư hướng dẫn mới, Guangling gặp bế tắc trong giai đoạn làm luận văn.
Ông Shen Xiaojie, cha của Guangling, cho biết phát hiện tình hình con không ổn nên đưa đến bệnh viện kiểm tra. "Bác sĩ chẩn đoán nó mắc chứng rối loạn lo âu", ông nói.
Guangling sau đó bỏ học về quê và được gia đình xin cho làm trợ lý giám đốc tại một công ty. Dù vậy, anh nhanh chóng nghỉ việc. "Nó chê đồng nghiệp học vấn thấp nên không hòa thuận", ông Shen kể.
Suốt 6 năm qua, Guangling cắt đứt quan hệ xã hội. Dù ở cùng phòng, hai cha con hiếm khi trò chuyện. Khi gia đình đề cập đến khó khăn, Guangling nói bản thân vẫn "cống hiến cho xã hội" bằng cách dùng kiến thức viết các đề xuất gửi chính quyền địa phương. Mẹ anh, bà Han Xue, cho biết gia đình đã hết cách khuyên bảo.
Câu chuyện của Shen Guangling đang thu hút sự chú ý từ dư luận Trung Quốc sau khi kênh truyền hình Đô thị Hồ Nam ghi nhận cuộc sống của anh vào cuối tháng 6.
Bình luận về sự việc, tờ Dương Thành Vãn Báo và Phong Mang Tân Văn cho rằng bi kịch của Shen Guangling phản ánh thực tế áp lực tâm lý khắc nghiệt trong đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là khối khoa học xã hội ở Trung Quốc. Các nghiên cứu sinh phải đối mặt với tiêu chuẩn kiểm duyệt tạp chí nâng cao qua từng năm, cơ chế phản biện kín khắt khe cùng sự hoài nghi bản thân kéo dài. Khi tâm lý sụp đổ, sự hụt hẫng do học vấn mang lại khiến họ chọn cách trốn tránh thực tại để tự bảo vệ mình.
Con đường học tập kết thúc. Guangling trở về quê và được gia đình sắp xếp cho vào làm trợ lý tổng giám đốc tại một công ty ở Trường Sa (tỉnh Hồ Nam). Tuy nhiên, công việc này nhanh chóng kết thúc. "Con tôi cho rằng học vấn của người khác không cao, làm sao nó có thể làm việc chung được, quan hệ với đồng nghiệp không mấy hòa thuận", ông Shen nói.
Suốt 6 năm qua, anh gần như cắt đứt kết nối với xã hội. Dù ở chung một nhà và thậm chí ở cùng phòng với cha, hai người hầu như không trò chuyện. Khi ông Shen Xiaojie chia sẻ về sự bất lực của mình, Guangling tỏ ra thờ ơ, cho rằng bản thân vẫn đang "cống hiến cho xã hội" bằng việc dùng kiến thức chuyên môn viết các đề xuất gửi chính quyền địa phương. Ngồi cạnh con trai, người mẹ Han Xue bật khóc thừa nhận sự bế tắc của gia đình.
Bình luận về sự việc, tờ Dương Thành Vãn Báo và Phong Mang Tân Văn nhận định bi kịch của Shen Guangling bóc trần áp lực tâm lý khắc nghiệt trong đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là khối khoa học xã hội. Các nghiên cứu sinh phải đối mặt với tiêu chuẩn kiểm duyệt tạp chí nâng cao qua từng năm, cơ chế phản biện kín khắt khe cùng sự hoài nghi bản thân kéo dài. Khi tâm lý sụp đổ, sự hụt hẫng do học vấn mang lại khiến họ chọn cách trốn tránh thực tại để tự bảo vệ mình.
Vụ việc cũng tạo ra hai luồng ý kiến về phương pháp giáo dục gia đình. Một bộ phận dư luận bày tỏ sự cảm thông, kêu gọi các bậc phụ huynh giảm bớt kỳ vọng để con cái được "hạ cánh" an toàn. Luồng ý kiến khác nhìn nhận đây là hệ quả của mô hình giáo dục chỉ tập trung vào điểm số, nơi cha mẹ bao bọc con như "gà công nghiệp", khiến những học sinh ưu tú thiếu hụt kỹ năng sống và khả năng đối diện thất bại.
Sau cuộc trò chuyện với phóng viên, Shen Guangling đồng ý đến Bệnh viện Nhân dân số 2 tỉnh Hồ Nam tiếp nhận điều trị, với cam kết "sẽ làm lại để cha mẹ có cuộc sống tốt hơn".