Bà Lâm và ông Hà đăng ký kết hôn vào đầu những năm 1970. Sau khi chung sống, mâu thuẫn gia đình liên tục nảy sinh, bà Lâm có mối quan hệ căng thẳng với bố chồng, nhưng lại hòa thuận với mẹ chồng. Chính sự gắn bó giữa mẹ chồng và nàng dâu đã giúp duy trì cuộc hôn nhân gần 30 năm, nhưng cuối cùng họ vẫn thỏa thuận ly dị do tình cảm rạn nứt.
Nhiều năm sau, bà Lâm biết tin bố mẹ chồng cũ lần lượt qua đời, nhưng vì cuộc hôn nhân đã chấm dứt từ lâu nên bà chưa từng đến viếng mộ. Mãi đến khi con gái bà Lâm đi thăm mộ, vô tình phát hiện tên bà Lâm được khắc trên bia mộ của bố mẹ chồng với tư cách là “con dâu”.
Bà Lâm cho rằng, kể từ khi cuộc hôn nhân giữa hai bên kết thúc, bà không còn là con dâu của gia đình họ Hà nữa, việc ông Hà khắc tên bà mà không được phép đã xâm phạm quyền sử dụng tên họ của bà và gây tổn thương tinh thần nghiêm trọng. Do đó, bà Lâm đệ đơn kiện lên tòa án, yêu cầu ông Hà lập tức xóa bỏ tên mình trên bia mộ và bồi thường thiệt hại tinh thần tương ứng.
Ông Hà cho rằng dù hai bên đã ly dị từ lâu, nhưng vì khi còn sống, mẹ ông luôn thân thiết với bà Lâm và bà Lâm cũng thường xuyên đến thăm hỏi nên ông đã khắc tên bà Lâm lên bia mộ theo di nguyện của mẹ. Đến nay, mẹ ông đã được chôn cất hơn 20 năm, ông không muốn sửa bia mộ quấy nhiễu người đã khuất.
TAND quận Dương Phố (Thượng Hải) nhận thấy vụ việc không chỉ là tranh chấp về quyền nhân thân, mà còn gây chia rẽ tình cảm giữa hai gia đình.
Từ góc độ pháp lý, yêu cầu của bà Lâm về việc xóa tên khỏi bia mộ là có cơ sở. Theo Bộ luật Dân sự của Trung Quốc, cá nhân có quyền đối với tên họ của mình, có quyền quyết định, sử dụng, thay đổi hoặc cho phép người khác sử dụng tên họ của mình. Vì quan hệ pháp lý giữa hai bên đã chấm dứt sau khi ly hôn, không bên nào có quyền tự ý khắc tên của bên kia lên bia mộ.
Tuy nhiên, mối bận tâm của ông Hà cũng rất thực tế. Việc cưỡng chế xóa bỏ dòng chữ khắc trên bia mộ vừa trái phong tục truyền thống vừa có thể gây bất mãn cho các thành viên khác trong gia đình.
Tòa án đứng ra hòa giải theo phương châm: “Vấn đề không đơn giản là ai đúng ai sai, mà là làm thế nào để quá khứ không tổn hại hiện tại, để người đã khuất được an nghỉ và người còn sống tìm thấy sự bình yên”.
Tại phiên tòa, thẩm phán nhấn mạnh “xóa tên” không có nghĩa là “xóa bỏ quá khứ”, và “bồi thường” có thể thay thế cho “đối đầu”.
Bà Lâm bày tỏ chỉ cần xóa tên, bà sẵn sàng nhượng bộ về khoản bồi thường tổn thương tinh thần. Ông Hà cũng đã hiểu được suy nghĩ của vợ cũ và hứa sẽ bàn bạc với các thành viên khác, sẵn sàng xóa tên bà Lâm và bồi thường.
Cuối cùng, hai bên đạt được thỏa thuận dàn xếp “xóa tên kèm bồi thường”. Ông Hà sẽ hoàn tất việc xóa tên bà Lâm trên bia mộ trong vòng một tháng, tự nguyện bồi thường kinh tế cho bà Lâm để “bày tỏ xin lỗi và khép lại quá khứ”. Hai bên xác nhận rằng một khi tên được xóa khỏi bia mộ sẽ không còn tranh chấp.
Theo Bộ luật Dân sự, cha mẹ, vợ/chồng, con cái và những người thân trực hệ có quyền hợp pháp được khắc tên lên bia mộ. Nếu các thành viên khác trong gia đình loại trừ quyền này của họ với lý do như “đi lấy chồng”, “bất hiếu” hoặc “mâu thuẫn gia đình”, có thể cấu thành hành vi xâm phạm quyền nhân thân.
Các tranh chấp phát sinh từ việc khắc tên lên bia mộ, tương tự trường hợp này, thường là sự mở rộng của các xung đột gia đình. Sau khi ly hôn, quan hệ hôn nhân chấm dứt, không bên nào có quyền tùy tiện khắc tên của bên kia lên bia mộ. Người nắm giữ quyền có quyền yêu cầu xóa bỏ tên, đòi xin lỗi và bồi thường tổn thương tinh thần.
Tuệ Anh (theo Shanghai Morning Post, Shanghai Observer)
Sau hơn 2 tuần tòa sơ thẩm tuyên án, đã có 3 người gửi đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt trong vụ giám đốc Công ty Hoàng Dân chi 40 tỉ đồng hối lộ nhóm cựu lãnh đạo, cán bộ thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cũ).
Tòa án nhân dân TP Hà Nội nhận được đơn kháng cáo của các ông Nguyễn Văn Dân, Vũ Đình Thịnh là Giám đốc và Phó giám đốc Công ty Hoàng Dân.
Ông Trần Văn Lăng, cựu Giám đốc Ban 2, Cục Quản lý xây dựng công trình (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cũng gửi đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Riêng ông Thịnh, ngoài xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, còn đề nghị tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xem lại phần trách nhiệm dân sự đối với mình.
Theo bản án sơ thẩm, ông Nguyễn Văn Dân, Giám đốc Công ty Hoàng Dân bị tòa tuyên 3 năm tù về tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng, 9 năm tù về tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, 2 năm tù về tội đưa hối lộ.
Tổng hợp hình phạt ông Dân lãnh 14 năm tù. Phó giám đốc công ty là bị cáo Vũ Đình Thịnh bị tòa sơ thẩm tuyên 7 năm tù.
Ông Trần Văn Lăng bị cáo buộc nhận hối lộ nhiều nhất trong nhóm cựu quan chức của bộ, tổng số tiền lên đến 13,4 tỉ đồng và bị tòa sơ thẩm tuyên 13 năm tù.
Theo cáo buộc, ông Dân bị xác định có hành vi đưa hối lộ với số tiền hơn 40 tỉ đồng.
Hành vi gian dối về năng lực, kinh nghiệm trong hồ sơ dự thầu của giám đốc Dân cùng nhân viên đã gây thiệt hại cho Nhà nước tổng số tiền hơn 251 tỉ đồng.
Giám đốc Dân còn sử dụng hai hệ thống sổ sách kế toán để hợp thức các khoản chi, vi phạm quy định về kế toán khiến thiệt hại tài sản cho Nhà nước gần 100 tỉ đồng.
Khi dự án hồ chứa nước Bản Mồng (tỉnh Nghệ An) do bộ triển khai, khoảng năm 2017 giám đốc doanh nghiệp này gọi điện cho ông Hoàng Văn Thắng, khi đó là thứ trưởng, để xin đến nhà riêng. Tại cuộc gặp, ông Dân "ngỏ ý" nhờ ông Thắng tác động tạo điều kiện cho công ty được trúng thầu.
"Trong cuộc gặp, bị cáo có gửi quà cho bác Thắng là 200.000 USD. Tự bị cáo đưa ra số tiền này để nhờ bác giúp đỡ trúng gói thầu Bản Mồng. Số tiền 200.000 USD để trong túi xách, bị cáo đặt bên cạnh bàn uống nước rồi ra về", ông Dân khai tại tòa và cho biết chỉ nói với thứ trưởng là "có gói quà biếu anh". Sau khi ra về không thấy ông Thắng phản ánh gì về số tiền này.
Ông Dân khai thêm trong thời gian Thứ trưởng Thắng đương chức còn nhiều lần tặng quà vào các dịp lễ, Tết, mỗi lần đưa 100 triệu đồng, tổng 500 triệu đồng.
Người nhận hối lộ nhiều thứ hai, sau ông Lăng là cựu Cục trưởng Trần Tố Nghị.
Trong đó, với riêng dự án Bản Mồng, giám đốc Dân đến phòng làm việc của ông Nghị đề nghị được tạo điều kiện tham gia gói thầu và được đồng ý. Về tỉ lệ phần trăm "hoa hồng", ông Nghị đưa ra mức "lãnh đạo bộ là 5% và Ban 4 là 3%".
Sau khi trúng thầu, tháng 3-2018, ông Dân đến gặp ông Nghị tại nhà riêng, xách theo túi có 10 tỉ đồng, loại mệnh giá 500.000 đồng. Ông Dân đặt túi tiền sau cánh cửa, lối vào phòng khách nhà quyền cục trưởng.
"Em biếu anh quà của dự án Bản Mồng", ông Dân nói và để lại túi tiền mà không vào nhà. Ông Nghị đáp ngắn gọi "anh cảm ơn em" rồi hai bên chào nhau để ông Dân ra về. Cuộc gặp diễn ra chớp nhoáng và túi quà 10 tỉ đồng được để lại sau cánh cửa nhà quyền cục trưởng.
Ngày 26-4, Công an tỉnh Đồng Tháp cho biết Công an xã Vĩnh Kim (tỉnh Đồng Tháp) đã thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam với ông Trương Ngọc Hoàng (55 tuổi, ngụ TP.HCM) theo quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp để điều tra về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Theo kết quả điều tra ban đầu, khoảng tháng 5-2023, Đỗ Ngọc Thạch trong dịp về dự đám giỗ tại ấp Vĩnh Quí, xã Vĩnh Kim đã quen biết ông Hoàng. Ông Hoàng tự giới thiệu đang công tác tại ngành giáo dục TP.HCM.
Khi biết Thạch thi vào Trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM nhưng không đậu, ông Hoàng hứa hẹn có thể "lo" cho vào học nếu đưa tiền để "chạy" cho hội đồng tuyển sinh và một số cán bộ liên quan.
Tin lời, từ tháng 7 đến 12-2023, Thạch nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản do ông Hoàng cung cấp với tổng số tiền hơn 134 triệu đồng. Tuy nhiên sau khi nhận tiền, ông Hoàng không thực hiện như cam kết, cũng không trả lại tiền dù nhiều lần hứa hẹn.
Đến ngày 27-11-2025, Thạch đã làm đơn trình báo Công an xã Vĩnh Kim. Làm việc với công an, ông Hoàng thừa nhận hành vi gian dối để chiếm đoạt số tiền trên.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 11-4-2026, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp đã ra quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối với ông Hoàng theo khoản 2, điều 174 Bộ luật Hình sự.
Sau khi thi hành lệnh bắt, lực lượng chức năng đã dẫn giải bị can đến nơi tạm giam để phục vụ công tác điều tra. Hiện vụ án đang được Công an tỉnh Đồng Tháp tiếp tục điều tra.
Quyết định đưa ra nhiều chính sách giúp người sau cai nghiện được tiếp cận được nguồn tín dụng để học nghề, làm ăn; đồng thời có nhiều ưu đãi vay vốn cho cả cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng lao động là người sau cai nghiện.
Tối đa 200 triệu đồng, lãi suất như với hộ nghèo
Diện được vay vốn là người sau cai nghiện ma túy đủ 12 tuổi trở lên, được chính quyền cấp xã xác nhận đủ điều kiện đã hoàn thành cai nghiện cách thời điểm vay vốn không quá 10 năm. Số tiền được vay phụ thuộc mục đích sử dụng.
Cụ thể, nếu công dân cần vốn để đào tạo nghề sẽ được cho vay một khoản bằng chương trình tín dụng với học sinh, sinh viên. Mức tối đa hiện tại áp dụng là 4 triệu đồng/tháng/người. Nếu để sản xuất, kinh doanh, người sau cai nghiện có thể được vay tối đa tới 200 triệu đồng.
Sự linh hoạt trong mục đích sử dụng vốn đảm bảo rằng người sau cai nghiện có thể lựa chọn con đường phù hợp nhất với năng lực và hoàn cảnh của mình, dù là bắt đầu từ việc học một nghề hay trực tiếp khởi nghiệp sản xuất.
Trong các trường hợp này, cá nhân người sau nghiện không được tự đứng ra vay vốn mà phải thực hiện cho vay thông qua hộ gia đình hoặc người giám hộ- những người sẽ đứng tên vay vốn và giao dịch với Ngân hàng Chính sách xã hội.
Nếu không có người giám hộ thì người sau cai nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên được trực tiếp đứng tên vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội.
Lãi suất và thời hạn vay cũng được thiết kế hết sức ưu đãi nhằm giảm bớt áp lực tài chính cho người hoàn lương. Lãi suất cho vay được ấn định bằng với lãi suất cho vay đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ (hiện là 6,24%). Nếu có nợ quá hạn thì lãi suất sẽ bằng 130% lãi suất cho vay
Cá nhân vay vốn không phải thực hiện bảo đảm tiền vay, thời hạn cho vay tối đa được kéo dài lên đến 120 tháng.
Công ty được vay tới 2 tỷ đồng nếu sử dụng lao động là người sau cai nghiện
Bên cạnh các cá nhân, chính sách còn khuyến khích các tổ chức kinh tế tham gia vào quá trình tạo việc làm cho đối tượng này.
Theo đó, các cơ sở sản xuất kinh doanh, bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ kinh doanh, nếu có tối thiểu 10% tổng số lao động là người sau cai nghiện ma túy và có hợp đồng lao động hợp pháp thì sẽ thuộc diện được vay vốn ưu đãi.
Tiền phải được sử dụng để chi trả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm mà pháp luật không cấm.
Việc quy định rõ các điều kiện này, theo Bộ Công an, sẽ giúp việc xét duyệt hồ sơ vay vốn trở nên minh bạch và dễ dàng hơn, đồng thời đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục đích.
Lãi suất và thời hạn cho vay tương tự như với cá nhân, tức tối đa 120 tháng, lãi suất như áp dụng với hộ nghèo.
Đây là động thái tích cực nhằm tạo ra một hệ sinh thái hỗ trợ khép kín, nơi người sau cai nghiện không chỉ được vay vốn cá nhân mà còn được làm việc trong những môi trường doanh nghiệp có sự hỗ trợ về tài chính từ Chính phủ.