Ngày 12-6, UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức buổi làm việc với các sở, ngành và 59 đơn vị đã trúng đấu giá, hiện đang làm thủ tục cấp phép trong lĩnh vực khoáng sản nhằm tháo gỡ các khó khăn.
Tại cuộc họp, nhiều vấn đề vướng mắc được mang ra mổ xẻ nhằm sớm đưa các mỏ vào hoạt động, cung ứng cho thị trường, giải “cơn khát” vật liệu đất san lấp đang ảnh hưởng đến nhiều dự án xây dựng.
Kiến nghị với thành phố, hầu hết các đơn vị cho rằng hiện nay có quá nhiều quy trình, thủ tục để đưa mỏ vào hoạt động.
Ông Trương Quốc Sỹ, Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Khoáng sản công nghiệp 6666, điểm ra hơn 10 bước thủ tục mà doanh nghiệp vẫn đang “tìm đường” để đưa khoáng sản ra khỏi mỏ. Đại diện doanh nghiệp này cho rằng cần tập trung đầu mối để rút ngắn các bước thủ tục.
“Để hoàn thiện một thủ tục phải lấy ý kiến của rất nhiều cơ quan, đơn vị. Mỗi lần hồ sơ quay vòng lại mất vài tháng. Chỉ riêng giai đoạn từ khi trúng đấu giá đến khi được khai thác đã phải trải qua 10-12 bước, tùy từng loại khoáng sản, cũng đủ gây sức ép cho doanh nghiệp” – ông Sỹ nói.
Theo ông, thành phố muốn hỗ trợ doanh nghiệp đưa mỏ vào khai thác nhanh thì cần rút ngắn thủ tục, nhất là các nội dung liên quan đến Thông tư 40.
Ví dụ các yêu cầu về dữ liệu quan trắc. Thực tế nhiều mỏ được cấp phép khai thác tại khu vực suối nhỏ, không có trạm quan trắc, không có dữ liệu nên đơn vị tư vấn không thể lập hồ sơ.
Tại cuộc họp, nhiều lãnh đạo sở, ngành cũng thừa nhận trình tự, thủ tục mà doanh nghiệp phải thực hiện sau khi trúng đấu giá vẫn còn “dài miên man”.
Nhấn mạnh vai trò của khoáng sản trong mục tiêu tăng trưởng hai con số, ông Trần Nam Hưng, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, yêu cầu xác định tinh thần năm 2026 là năm bùng nổ khoáng sản của Đà Nẵng.
Khoáng sản vừa phục vụ mục tiêu tăng thu ngân sách, vừa bảo đảm nguồn vật liệu cho các công trình xây dựng. Vì vậy lãnh đạo thành phố yêu cầu tất cả các loại khoáng sản trên địa bàn phải được đưa ra thị trường để phục vụ phát triển kinh tế và nhu cầu của người dân.
Ông Hưng yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng quy trình nội bộ rõ ràng về các bước, trách nhiệm và thời gian xử lý hồ sơ để hỗ trợ doanh nghiệp.
Đồng thời thực hiện song song các thủ tục như bến bãi, đánh giá tác động môi trường, thăm dò… thay vì làm tuần tự nhằm rút ngắn thời gian.
Đối với các mỏ đã trúng đấu giá phải đưa vào khai thác ngay, không được để kéo dài tình trạng chờ đợi nhiều năm như trước đây. Đối với các mỏ đã có trong quy hoạch, trong năm 2026 yêu cầu toàn bộ phải được đưa ra đấu giá.
Đối với các doanh nghiệp trúng đấu giá, ông Hưng yêu cầu cam kết thời gian đưa các mỏ vào khai thác sau khi được tháo gỡ khó khăn.
Theo lãnh đạo Đà Nẵng, có tình trạng doanh nghiệp làm ăn thiếu trách nhiệm, cố ý kéo dài thời gian không đưa mỏ vào hoạt động nhằm găm hàng, đầu cơ.
Thậm chí có trường hợp cố tình đấu giá cao rồi bỏ thầu nhằm “làm giá” để bán lại các mỏ đang khai thác, hoặc kéo dài thời gian để hưởng lợi từ các mỏ hiện có.
“Ai không khai thác được, thấy mình không làm được thì báo cáo xin trả lại Nhà nước. Còn không trả lại thì phải cam kết thời gian. Không thể chấp nhận việc mình nằm trên bồ lúa mà thiếu gạo ăn. Trữ lượng khoáng sản như thế, điều kiện như thế mà các dự án lớn tìm không ra vật liệu để mua là không chấp nhận được”, ông Hưng nhấn mạnh.
Đây là phiên đối thoại đầu tiên của VPSF 2026 tại khu vực miền núi phía Bắc. Chương trình do Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Điện Biên đăng cai tổ chức.
Ông Đặng Hồng Anh - Phó chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 - khẳng định kinh tế tư nhân không chỉ là động lực quan trọng mà phải là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, VPSF 2026 không chỉ dừng lại ở việc nêu khó khăn mà là nơi cùng Chính phủ và chính quyền địa phương "đồng kiến tạo" các giải pháp.
Với tỉnh Điện Biên, có đầy đủ điều kiện để trở thành cực tăng trưởng mới của khu vực Tây Bắc, ông Hồng Anh cho rằng tỉnh cần có những cơ chế đặc thù, ưu tiên khơi thông nguồn lực đất đai và tín dụng để hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế số.
Theo đó, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam cam kết sẽ đóng vai trò cầu nối, trực tiếp tổng hợp và kiến nghị các giải pháp đột phá về thể chế từ thực tiễn Điện Biên lên các bộ, ngành Trung ương để tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi nhất cho doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Văn Đoạt - Phó chủ tịch UBND tỉnh - khẳng định Điện Biên đang chuyển mình mạnh mẽ với khát vọng trở thành cực tăng trưởng mới của vùng Tây Bắc, lấy kinh tế tư nhân làm động lực chiến lược cho phát triển nhanh và bền vững.
Tỉnh xác định ba trụ cột phát triển gồm nông nghiệp xanh công nghệ cao, du lịch lịch sử - sinh thái - nghỉ dưỡng và năng lượng tái tạo gắn với hạ tầng chiến lược. Đồng thời, cam kết tiếp tục đồng hành thực chất cùng doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp theo tinh thần “nhanh hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn”.
Ông nói thêm tỉnh Điện Biên mong muốn cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục quan tâm, đồng hành, đầu tư lâu dài tại Điện Biên; cùng tỉnh khai thác hiệu quả các tiềm năng khác biệt, biến khó khăn thành cơ hội, biến khát vọng thành động lực phát triển.
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Nguyễn Thị Linh - Giám đốc Công ty TNHH Hương Linh - nói Nghị quyết 68 khơi thông nguồn lực kinh tế tư nhân, song để rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và thực tế, cần tháo gỡ các điểm nghẽn đang làm rào cản phát triển.
Trước hết là hạ tầng giao thông và gánh nặng chi phí logistics, chi phí vận tải chiếm tỉ trọng quá lớn trong giá thành, làm giảm năng lực cạnh tranh của các sản phẩm địa phương. Tháo gỡ vấn đề tín dụng và nguồn lực đất đai gồm quỹ đất công.
"Các doanh nghiệp khởi nghiệp rơi vào một vòng xoáy là muốn vay vốn thì phải có doanh thu và tài sản thế chấp. Nếu không đủ vốn đầu tư ban đầu thì lại không thể tạo ra doanh thu và có những sản phẩm chất lượng được. Vì vậy chúng tôi mong có hành lang pháp lý, được vay tín chấp dựa trên tính khả thi của dự án" - bà Linh nói.
Một vấn đề nữa là tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn đất công dôi dư sau khi sáp nhập để làm cơ sở sản xuất kinh doanh. Gắn với thúc đẩy đổi mới và chuyển đổi số, khơi thông các nguồn nhân lực và cơ chế đặc thù.
Từ thực tiễn của Điện Biên, doanh nghiệp kiến nghị các sáng kiến, nổi bật là chiến lược “Trận chiến ba mặt trận” với tinh thần kế thừa ý chí Điện Biên Phủ để tạo đột phá trên ba lĩnh vực trọng tâm gồm kinh tế, công nghệ và thị trường.
Trong đó nhấn mạnh việc mở rộng quy mô doanh nghiệp, làm chủ các công nghệ AI, IoT và thúc đẩy thương mại điện tử, xuất khẩu. Thúc đẩy chuyển đổi số nông nghiệp thông qua mô hình quản lý chuỗi giá trị cây cà phê và mắc ca trên nền tảng số, hướng tới mục tiêu số hóa 100% vùng trồng...
Đăng ký bảo hộ thương hiệu ở Ý: một tháng có chứng chỉ, Nhà nước hoàn lại gần như toàn bộ phí. Ở Việt Nam: đóng tiền trước, chờ đến một năm, kết quả vẫn là ẩn số. Khoảng cách đó không chỉ là thủ tục - đó là khoảng cách tư duy mà doanh nghiệp Việt cần đối mặt thực sự.
Thương hiệu là tài sản lớn nhất của doanh nghiệp, nhưng cũng là thứ dễ mất nhất nếu thiếu "tấm khiên" pháp lý. Nghịch lý là nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chi hàng trăm triệu cho marketing, nhưng lại ngần ngại hoặc chưa biết cách bảo vệ chính cái tên mình đang quảng bá.
Bài viết dưới đây là góc nhìn từ thực chiến của một doanh nhân với 21 năm kinh nghiệm quản trị tại các tập đoàn lớn ở Mỹ, Úc, Nhật và gần 8 năm điều hành doanh nghiệp tại cả Ý lẫn Việt Nam - người đã trực tiếp đăng ký bảo hộ hơn 10 thương hiệu ở hai thị trường này.
Tại Ý và khối EU, quy trình bảo hộ thương hiệu được tối ưu hóa để triệt tiêu rủi ro ngay từ bước phác thảo. Ngay trong giai đoạn thiết kế bộ nhận diện, các đơn vị sáng tạo đã có thể truy cập hệ thống dữ liệu mở để kiểm tra khả năng trùng lặp - giúp doanh nghiệp tránh đầu tư hàng trăm triệu vào marketing cho một cái tên hay logo không thể bảo hộ.
Sau khi nộp hồ sơ, chỉ khoảng một tháng là doanh nghiệp nhận được chứng chỉ kèm mã QR bảo hộ. Điểm đặc biệt: chứng chỉ được cấp trước, doanh nghiệp mới thanh toán phí sau - hoàn toàn đảo ngược so với cách tiếp cận thông thường. Minh bạch đến vậy, doanh nghiệp đủ tự tin tung sản phẩm ra thị trường mà không lo tranh chấp.
Thêm vào đó, trong 2 - 3 năm gần đây, Chính phủ Ý gần như hoàn lại 100% phí bảo hộ cho thương hiệu mới. Đây là thông điệp rõ ràng: Nhà nước đồng hành cùng giá trị trí tuệ của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, bức tranh khác hẳn. Doanh nghiệp phải đóng toàn bộ phí ngay từ đầu, khoảng 4 - 10 triệu đồng tùy số nhóm ngành, rồi bước vào giai đoạn chờ đợi kéo dài từ bốn tháng đến hơn một năm mà không biết kết quả. Rủi ro lớn nhất không chỉ là tiền, mà là chi phí cơ hội và sự mông lung trong suốt thời gian thẩm định.
Để rút ngắn khoảng cách, các nhà hoạch định chính sách cần những bước đi quyết liệt hơn. Trước hết là mở kho dữ liệu trực tuyến đồng bộ, cập nhật thời gian thực và công khai hoàn toàn. Khi dữ liệu minh bạch, các đơn vị thiết kế và doanh nghiệp có thể chủ động rà soát, giảm tải hồ sơ lỗi cho cơ quan quản lý.
Song song đó, cần lộ trình ưu tiên theo giai đoạn: giai đoạn đầu tập trung vào các ngành thế mạnh xuất khẩu như nông sản, thực phẩm, công nghệ; giai đoạn tiếp theo áp dụng cơ chế cấp chứng chỉ tạm thời bằng mã QR trong 1 - 3 tháng đầu để doanh nghiệp kịp thời triển khai kinh doanh; cuối cùng là xây dựng quỹ hoàn phí hoặc hỗ trợ tài chính cho các start-up xây dựng thương hiệu bài bản.
Nhưng trong khi chờ chính sách thay đổi, doanh nghiệp cũng cần tự thay đổi tư duy trước. Đừng vì quy trình chậm mà chọn cách buôn nhanh bán nhanh - vượt qua tư duy "ăn xổi" chính là điểm phân biệt giữa doanh nghiệp tồn tại và doanh nghiệp trường tồn.
Hãy dùng thời gian chờ đợi pháp lý để mài giũa sản phẩm, hoàn thiện quy trình. Một thương hiệu mạnh không nằm ở tờ giấy chứng nhận, mà nằm ở chất lượng sản phẩm và niềm tin khách hàng.
Nhìn cách các doanh nghiệp châu Âu bền bỉ xây dựng di sản hàng trăm năm, ta thấy họ luôn bắt đầu từ những bước đi pháp lý chặt chẽ nhất. Để thoát khỏi cái mác "gia công", doanh nghiệp Việt phải lấy đầu tư vào sản xuất và bảo hộ trí tuệ làm kim chỉ nam.
Chính sách có thể còn độ trễ, nhưng tư duy của người dẫn đầu không thể chậm trễ. Sự chuyên nghiệp trong cách ta bảo vệ thương hiệu chính là thước đo cho tầm vóc của doanh nghiệp trong tương lai.
Trước đó vào ngày 2-4, Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HoSE) công bố danh sách chứng khoán không đủ điều kiện giao dịch ký quỹ (margin) quý 2-2026. Đáng chú ý, cổ phiếu NVL của Novaland đã không còn xuất hiện trong danh sách này.
Trước đó, lần gần nhất mã này bị cắt margin là do chậm nộp báo cáo tài chính soát xét bán niên 2024, và sau đó vẫn chưa khắc phục được tình trạng này do lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ trên các báo cáo tài chính hợp nhất soát xét/kiểm toán từ bán niên 2024 đến bán niên 2025 vẫn ở mức lỗ. Tuy nhiên với kết quả lợi nhuận dương trên báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán năm 2025 vừa công bố, cổ phiếu NVL đã được cấp margin trở lại.
Cụ thể, năm 2025, tổng doanh thu thuần hợp nhất từ bán hàng và cung cấp dịch vụ của Novaland đạt 6.966 tỉ đồng.
Lợi nhuận hợp nhất sau thuế năm 2025 đạt 1.861 tỉ đồng, trong đó lợi nhuận hợp nhất sau thuế của cổ đông công ty mẹ là 1.743 tỉ đồng, chuyển từ lỗ ở kỳ trước sang lãi ở kỳ này, đủ điều kiện đưa cổ phiếu NVL ra khỏi danh sách không được giao dịch ký quỹ.
Trong tháng 3-2026, cổ phiếu NVL đã có nhiều phiên tăng trần, thanh khoản cao. Novaland cũng vừa có những ký kết quan trọng với các đơn vị đầu ngành về tài chính, y tế (LPBank, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM) và xúc tiến chuyển đổi số mạnh mẽ với đối tác tư vấn chiến lược Tập đoàn FPT.
Ở góc độ dự án, Novaland có nhiều diễn biến đáng chú ý gần đây như tăng tốc thi công hoàn thiện tại The Grand Manhattan, hơn 1.000 khách hàng dự án Victoria Village tiến hành ký hợp đồng mua bán. Cùng đó, tuyến Hương Lộ 2 - tuyến giao thông huyết mạch nối từ quốc lộ 51 qua đô thị Aqua City đến cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây đã chính thức khởi động...
Được biết Đại hội cổ đông thường niên năm 2026 của Novaland sẽ tổ chức vào ngày 23-4, dự kiến sẽ thông qua nhiều nội dung quan trọng, cũng như cập nhật tình hình mới nhất về nỗ lực tái cấu trúc của tập đoàn.