“Tôi đang làm cha. Có thể tôi may mắn khi hai đứa con trai của mình đều có hai bằng đại học, có việc làm ổn định, rất ngoan và hiếu thảo. Từ nhỏ đến giờ, tôi luôn nhỏ nhẹ tâm sự cùng con, chưa bao giờ la mắng hay dùng đòn roi với các con. Lúc nhỏ, có khi con bị điểm hơi thấp, tôi và vợ chỉ động viên và nói ‘không sao đâu, lần sau sẽ tốt hơn’ thế là chúng tự biết phấn đấu.
Tôi rất hiểu, đồng cảm và chia sẻ những khó xử của các bậc làm cha mẹ khi có con ‘nổi loạn’. Tuy nhiên, tôi phản đối việc sử dụng biện pháp lắp camera để theo dõi con vì sẽ làm trẻ dễ bị ức chế và đôi khi cấp độ nổi loạn sẽ càng tăng lên.
Tại sao không thể dùng tình cảm cha mẹ để cảm hóa chúng? Nếu không thể trực tiếp nói chuyện với con được thì có thể viết thư, lời nhắn. Việc cảm hóa con không gì bằng tình cảm chân thành của cha mẹ. Chỉ có những người bất lực trong việc dạy con mới phải dùng đến biện pháp lắp camera để theo dõi, giám sát con mình”.
Đó là chia sẻ của độc giả Phtqyt xung quanh câu chuyện cha mẹ dạy con bằng cách lắp camera giám sát. Trong các gia đình châu Á, việc kiểm soát con cái từ lâu được xem như một “chuẩn mực nuôi dạy”, kỳ vọng con phải vâng lời và tuân theo định hướng của cha mẹ. Nghiên cứu” Mối quan hệ giữa sự kiểm soát tâm lý từ cha mẹ và bản sắc cá nhân của thanh niên” của tác giả Vũ Huyền Châu (Đại học Eötvös Loránd Budapest, Hungary) cho thấy không ít phụ huynh châu Á đặt nặng sự phục tùng, coi đó như biểu hiện của lòng biết ơn và đạo hiếu.
Nghiên cứu năm 2021 của Đại học Stanford (Mỹ) chỉ ra, trẻ em có cha mẹ giám sát quá mức thường dễ lo âu, trầm cảm và mất tự tin. Chúng có xu hướng tin rằng mình không thể đối mặt với các thách thức trong cuộc sống mà không có sự giúp đỡ từ cha mẹ.
>> ‘Steve Jobs của Việt Nam’ bị bố mắng vì tháo tung đồ chơi
Cũng phản đối việc lắp camera giám sát con trẻ, bạn đọc Nguoixala bình luận: “Con trai tôi 18 tuổi, sống ở Đức. Nhà tôi không có camera. Phòng của con tôi là một thế giới riêng. Chỉ có tôi thỉnh thoảng vào để thu gom quần áo mang đi giặt. Đứa em út muốn vào phòng anh cũng phải xin phép trước (theo văn hóa ở Đức). Khi con đóng cửa phòng, tôi phải gõ cửa hỏi ý kiến chứ không tự ý đẩy cửa vào.
Không chỉ là việc phòng ốc, tất cả vấn đề khác từ ăn uống, sở thích, học hành, quần áo… cha mẹ cũng phải tôn trọng ý con. Đó là cách dạy con tính tự lập: tự quyết định và chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Con tôi tự lập hết mọi việc. 14 tuổi con đã tự xách vali ra sân bay về Việt Nam thăm ông bà ngoại. 15 tuổi con tự lên thành phố lớn để tham quan trường chuyên, tự nộp đơn vào cấp ba lớp chuyên Toán. 16 tuổi con tự đi tàu đến trường mỗi ngày từ 5h30 dù mùa đông ngập tuyết.
17 tuổi con tự đến Sở Ngoại kiều ở thành phố khác để nộp đơn xin nhập quốc tịch, làm hồ sơ học lái xe, đạt học bổng Tiếng Anh đi Ba Lan một tuần. 18 tuổi con thi đậu bằng lái xe, đạt thủ khoa Toán lớp chuyên, đạt học bổng Tiếng Anh lần hai, tự đăng ký vào trường Đại học Quân Đội, học Sĩ quan ngành Hải quân, tự đến buổi phỏng vấn một mình, sẽ tự đến Hà Lan tham dự sự kiện vào tháng sau…
Tóm lại, mọi thứ của con tôi không can thiệp hay kiểm soát. Tôi chỉ đứng sau ủng hộ tinh thần và con cũng chỉ cần có vậy. Con tôi nói: ‘Con cái tự biết đường bơi ra biển nếu được cha mẹ đứng sau ủng hộ'”.
Sau đề thi Văn tốt nghiệp THPT năm nay, con trai tôi - một học sinh lớp 10 - đã dành cả buổi để tìm hiểu về Steve Jobs. Năm ngoái, khi bước vào lớp 10, con tôi cũng phải chọn tổ hợp môn học. Giống như nhiều học sinh khác, ở tuổi 15, con chưa biết tương lai mình sẽ làm nghề gì, cũng chưa thực sự hiểu bản thân thích gì nhất? Cuối cùng, con chọn tổ hợp thiên về các môn khoa học tự nhiên vì nghĩ rằng đây là lựa chọn an toàn và có nhiều cơ hội nghề nghiệp sau này.
Thế nhưng, chỉ sau một kỳ học, tôi nhận ra con mình có những năng lực và sở thích khác với lựa chọn ban đầu. Con viết văn tốt dần lên, thích xem chương trình Thời sự, tìm hiểu các vấn đề kinh tế, chính trị, công nghệ và thường xuyên đặt câu hỏi về những thay đổi của xã hội. Điều đáng tiếc là nhiều nội dung con quan tâm lại không nằm trong tổ hợp môn học mình đang lựa chọn.
Từ học kỳ hai lớp 10, tôi khuyến khích con tự học thêm các lĩnh vực yêu thích. Con tìm các bài giảng trực tuyến, mượn sách của bạn bè và dành thời gian đọc những lĩnh vực mình quan tâm. Tôi chỉ mong con có cơ hội khám phá bản thân trước khi quyết định con đường tương lai.
Chính quá trình con tìm hiểu về Steve Jobs càng khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn về chương trình giáo dục phổ thông. Steve Jobs không nổi tiếng vì học giỏi theo nghĩa thông thường. Ông từng bỏ chương trình đại học nhưng vẫn tiếp tục học những môn mình thấy cần thiết, trong đó có cả thư pháp. Những kiến thức tưởng như rời rạc đó lại góp phần tạo nên các sản phẩm làm thay đổi thế giới sau này. Điều làm tôi ấn tượng không phải là việc ông bỏ học, mà là khả năng kết nối những lĩnh vực rất khác nhau để tạo ra sáng tạo mới.
Cuộc đời của Steve Jobs cũng không hề bằng phẳng. Ông sáng lập Apple, đưa công ty phát triển mạnh mẽ, rồi lại bị chính công ty mình xây dựng đẩy ra ngoài. Sau đó, ông tiếp tục gây dựng những dự án mới, đầu tư vào lĩnh vực phim hoạt hình và cuối cùng quay trở lại Apple để tạo nên một giai đoạn phát triển rực rỡ hơn nữa. Để có thể thích ứng với những biến động lớn như vậy, theo tôi, điều quan trọng không chỉ là kiến thức chuyên môn mà còn là nền tảng hiểu biết rộng và khả năng học hỏi không ngừng.
>> Đứa trẻ tháo tung đồ chơi bị bố mắng - 'chôn vùi' những Steve Jobs của Việt Nam
Nhìn lại cách học hiện nay ở bậc THPT ở ta, tôi cho rằng việc phân chia tổ hợp môn học đang có phần quá cứng nhắc, đôi khi khiến học sinh bị giới hạn cơ hội khám phá bản thân. Một học sinh chọn tổ hợp tự nhiên có thể phát hiện mình yêu thích kinh tế pháp luật, nghệ thuật. Một học sinh theo tổ hợp xã hội có thể đam mê công nghệ, sinh học, vật lý. Nhưng khi chương trình đã được đóng khung từ sớm, các em thường phải tự xoay xở để tìm kiếm kiến thức ngoài nhà trường.
Tôi tự hỏi: nếu Steve Jobs phải lựa chọn tổ hợp môn học lớp 10 như học sinh Việt Nam, ông sẽ chọn thế nào? Tôi không nói phải xóa bỏ hoàn toàn các tổ hợp môn học. Tuy nhiên, chúng ta nên nghiên cứu mô hình dạy học theo tín chỉ đối với các môn học tự chọn. Học sinh có nhu cầu có thể đăng ký học thêm những môn ngoài tổ hợp chính, thậm chí chấp nhận đóng thêm học phí để được tiếp cận kiến thức mình yêu thích.
Khi đó, một học sinh học tổ hợp khoa học tự nhiên vẫn có thể đăng ký thêm môn Giáo dục kinh tế, Pháp luật, Mỹ thuật, Âm nhạc... Hay một học sinh theo tổ hợp khoa học xã hội vẫn có thể học thêm Sinh học, Vật lý, Tin học... Khi được quyền lựa chọn nhiều hơn, các em sẽ chủ động hơn trong việc xây dựng hành trang cho tương lai, cũng định hướng rõ ràng hơn cho bước tiếp theo của mình.
Theo tôi, chương trình giáo dục phổ thông có vai trò đặc biệt quan trọng vì đó là phần móng của cả cuộc đời học tập. Móng càng vững chắc và đa dạng thì ngôi nhà tri thức sau này càng có thể xây cao hơn. Chúng ta không thể biết trước một học sinh sẽ trở thành kỹ sư, doanh nhân, nhà khoa học hay nhà quản lý. Nhưng chúng ta có thể "tạo điều kiện cho các em được tiếp cận nhiều lĩnh vực khác nhau để có các quyết định phù hợp trong những bước ngoặt của cuộc đời".
Điều chúng ta cần là một nền giáo dục giúp mỗi học sinh phát hiện được giá trị riêng của bản thân, phát huy được trí tuệ và sự sáng tạo của mình. Biết đâu, từ những lớp học cho phép học sinh tự do lựa chọn và kết nối kiến thức đa ngành đó, chúng ta sẽ có những doanh nhân, nhà khoa học hay nhà sáng tạo mang dấu ấn Việt Nam trong tương lai.
Sáng nay (12/6), hơn một triệu thí sinh bước vào ngày thi thứ hai của kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 với các môn tự chọn. Điều gây chú ý là trong nhóm các môn khoa học xã hội, Lịch sử trở thành môn có số lượng đăng ký cao nhất với hơn 570.800 thí sinh, tăng hơn 71.000 thí sinh so với năm trước.
Con số này khiến nhiều người bất ngờ. Bởi không lâu trước đây, Lịch sử từng được xem là môn học "kém hấp dẫn" trong nhà trường. Nhiều năm liền, dư luận liên tục bàn về tình trạng học sinh ngại học Sử, điểm thi thấp, thậm chí có những kỳ thi ghi nhận hàng nghìn bài thi dưới trung bình. Thậm chí, không ít người lo ngại giới trẻ ngày càng thờ ơ với lịch sử dân tộc.
>> 5 lý do khiến học sinh không thích môn lịch sử
Vậy điều gì đã thay đổi? Phải chăng những cải cách trong chương trình giáo dục mới đã giúp môn Lịch sử trở nên gần gũi và dễ tiếp cận hơn? Hay đơn giản đây là lựa chọn mang tính chiến lược của thí sinh khi đánh giá môn học này có lợi thế hơn trong việc giành điểm xét tốt nghiệp và tuyển sinh? Hay do xu hướng lựa chọn ngành nghề đang thay đổi, khiến các tổ hợp liên quan đến khoa học xã hội thu hút nhiều học sinh hơn trước? Nếu vậy, liệu sự gia tăng này có thực sự cho thấy vị thế của môn Lịch sử đang được cải thiện?
Suốt 18 năm làm mẹ, điều khiến tôi bị phản đối nhiều nhất là quy định gần như "cấm tiệt" điện thoại, game và mạng xã hội trong suốt ba tháng nghỉ hè. Nhiều người từng nói tôi quá khắt khe. Có người bảo "thời đại này mà hạn chế con dùng điện thoại chẳng khác nào bắt chúng sống tách biệt với thế giới". Chính tôi cũng từng tự hỏi liệu mình có cực đoan hay không khi thấy con người ta nghỉ hè được cầm điện thoại thoải mái, còn con mình thì gần như không được động vào thiết bị điện tử ngoài lúc học tập hoặc liên lạc cần thiết.
Nhưng ai làm mẹ rồi mới hiểu, có những điều nếu không đủ cứng rắn hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn cơ hội sửa sai. Con trai lớn của tôi năm nay gần 18 tuổi, con gái út 12 tuổi. Hai đứa trẻ với tính cách khác nhau nhưng cùng lớn lên trong một nguyên tắc: nghỉ hè không phải là ba tháng để chìm vào game hay mạng xã hội, mà là khoảng thời gian để cơ thể nghỉ ngơi, trí não phát triển theo một cách khác và học những kỹ năng mà trường lớp không dạy.
Từ khi các con còn nhỏ, mỗi dịp hè đến, tôi luôn cất bớt iPad, giới hạn điện thoại và gần như không cho con chơi game. Thay vào đó, các con tôi phải ôn lại kiến thức cũ, học trước một phần chương trình mới, đọc sách, tập thể dục và làm việc nhà cùng ba mẹ.
Những ngày đầu luôn là "cuộc chiến". Con trai tôi từng phụng phịu vì thấy bạn bè ai cũng được chơi game còn mình thì không. Có lần con nói: "Mẹ là người mẹ nghiêm khắc nhất lớp". Nhưng tôi vẫn kiên định giữ nguyên lập trường cứng rắn với con, bởi tôi biết những thứ đó đang giành mất tuổi thơ của con với cha mẹ. Chỉ cần buông tay vài tháng, thói quen sống của một đứa trẻ có thể thay đổi hoàn toàn.
>> Ông bà kiệt sức vì trông cháu suốt mấy tháng nghỉ hè
Một người bạn của tôi từng kể chuyện con cái thức đến 2-3 giờ sáng để chơi game trong hè, ssau đó mất kiểm soát hoàn toàn. Đến khi vào năm học mới, đứa trẻ không thể tập trung học quá 15 phút, thường xuyên cáu gắt, mất ngủ và lười giao tiếp với gia đình. Người mẹ ấy từng khóc và nói với tôi: "Giá như chị nghiêm khắc sớm hơn". Tôi không muốn đợi đến lúc hối hận muộn màng rồi mới bắt đầu sửa sai.
Nhiều người nghĩ rằng cấm điện thoại là lấy đi niềm vui của con. Nhưng thật ra, điều tôi muốn lấy đi là sự lệ thuộc. Tôi không chống lại công nghệ. Các con tôi vẫn học online khi cần, vẫn biết sử dụng máy tính, tìm kiếm thông tin và không hề tụt hậu. Điều tôi lo là trẻ bị nuốt chửng bởi màn hình quá sớm, đến mức đánh mất khả năng sống chậm, đọc sâu và kết nối với cuộc sống thật.
Mỗi mùa hè trong nhà tôi thường có một thời gian biểu khá rõ ràng. Buổi sáng các con dậy sớm, tập thể dục, ăn sáng rồi học vài tiếng để ôn kiến thức cũ và chuẩn bị cho năm học mới. Buổi chiều phụ giúp việc nhà, đọc sách hoặc tham gia hoạt động ngoài trời. Buổi tối cả nhà ăn cơm, trò chuyện cùng nhau. Nghe có vẻ nhàm chán với nhiều người, nhưng chính những điều giản dị ấy lại tạo nên những ký ức đẹp nhất.
Tôi còn nhớ có năm mất điện cả buổi tối. Nếu là một đứa trẻ quen với điện thoại, có lẽ đó sẽ là "thảm họa". Nhưng hôm ấy, hai con tôi ngồi chơi cờ cùng ba, rồi cả nhà kể chuyện cười trong ánh nến. Khoảnh khắc đó khiến tôi nhận ra trẻ con không thực sự cần quá nhiều thiết bị hiện đại để hạnh phúc.
Điều làm tôi vui nhất là các con dần hình thành tính tự giác và khả năng kiểm soát bản thân. Con trai lớn giờ đã biết tự cân bằng thời gian sử dụng điện thoại. Có hôm con chủ động đặt điện thoại sang một bên để đọc sách hoặc tập đàn. Theo tôi, đó mới là điều quan trọng cha mẹ cần dạy con trong thời đại số: làm chủ công nghệ thay vì để công nghệ điều khiển mình.
Nhiều phụ huynh than phiền rằng con cái giờ không thích nói chuyện với bố mẹ, chỉ ôm điện thoại cả ngày. Nhưng thật khó trách trẻ nếu ngay từ nhỏ người lớn đã dùng màn hình như một cách để giữ con ngoan. Một chiếc điện thoại có thể khiến đứa trẻ im lặng hàng giờ, nhưng cũng âm thầm lấy đi khả năng quan sát cuộc sống xung quanh. Khi mọi niềm vui đều đến quá nhanh chỉ bằng một cú chạm, trẻ sẽ khó còn đủ kiên nhẫn với sách vở, học tập hay những giá trị cần thời gian vun đắp.
Suốt 18 năm làm mẹ, tôi chưa bao giờ nghĩ mình hoàn hảo. Có lúc tôi cũng mệt mỏi vì phải nghiêm khắc nhắc nhở các con từng chút một. Nhưng nếu được chọn lại, tôi vẫn giữ nguyên tắc ấy trong mỗi mùa hè. Rồi một ngày nào đó, các con tôi sẽ trưởng thành, bước vào đời với vô vàn cám dỗ và lựa chọn. Tôi không thể đi theo để bảo vệ con mãi. Nhưng tôi hy vọng những mùa hè hạn chế điện thoại năm nào sẽ trở thành nền móng để các con đủ bản lĩnh làm chủ cuộc đời mình.