Suốt 18 năm làm mẹ, điều khiến tôi bị phản đối nhiều nhất là quy định gần như “cấm tiệt” điện thoại, game và mạng xã hội trong suốt ba tháng nghỉ hè. Nhiều người từng nói tôi quá khắt khe. Có người bảo “thời đại này mà hạn chế con dùng điện thoại chẳng khác nào bắt chúng sống tách biệt với thế giới”. Chính tôi cũng từng tự hỏi liệu mình có cực đoan hay không khi thấy con người ta nghỉ hè được cầm điện thoại thoải mái, còn con mình thì gần như không được động vào thiết bị điện tử ngoài lúc học tập hoặc liên lạc cần thiết.
Nhưng ai làm mẹ rồi mới hiểu, có những điều nếu không đủ cứng rắn hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn cơ hội sửa sai. Con trai lớn của tôi năm nay gần 18 tuổi, con gái út 12 tuổi. Hai đứa trẻ với tính cách khác nhau nhưng cùng lớn lên trong một nguyên tắc: nghỉ hè không phải là ba tháng để chìm vào game hay mạng xã hội, mà là khoảng thời gian để cơ thể nghỉ ngơi, trí não phát triển theo một cách khác và học những kỹ năng mà trường lớp không dạy.
Từ khi các con còn nhỏ, mỗi dịp hè đến, tôi luôn cất bớt iPad, giới hạn điện thoại và gần như không cho con chơi game. Thay vào đó, các con tôi phải ôn lại kiến thức cũ, học trước một phần chương trình mới, đọc sách, tập thể dục và làm việc nhà cùng ba mẹ.
Những ngày đầu luôn là “cuộc chiến”. Con trai tôi từng phụng phịu vì thấy bạn bè ai cũng được chơi game còn mình thì không. Có lần con nói: “Mẹ là người mẹ nghiêm khắc nhất lớp”. Nhưng tôi vẫn kiên định giữ nguyên lập trường cứng rắn với con, bởi tôi biết những thứ đó đang giành mất tuổi thơ của con với cha mẹ. Chỉ cần buông tay vài tháng, thói quen sống của một đứa trẻ có thể thay đổi hoàn toàn.
>> Ông bà kiệt sức vì trông cháu suốt mấy tháng nghỉ hè
Một người bạn của tôi từng kể chuyện con cái thức đến 2-3 giờ sáng để chơi game trong hè, ssau đó mất kiểm soát hoàn toàn. Đến khi vào năm học mới, đứa trẻ không thể tập trung học quá 15 phút, thường xuyên cáu gắt, mất ngủ và lười giao tiếp với gia đình. Người mẹ ấy từng khóc và nói với tôi: “Giá như chị nghiêm khắc sớm hơn”. Tôi không muốn đợi đến lúc hối hận muộn màng rồi mới bắt đầu sửa sai.
Nhiều người nghĩ rằng cấm điện thoại là lấy đi niềm vui của con. Nhưng thật ra, điều tôi muốn lấy đi là sự lệ thuộc. Tôi không chống lại công nghệ. Các con tôi vẫn học online khi cần, vẫn biết sử dụng máy tính, tìm kiếm thông tin và không hề tụt hậu. Điều tôi lo là trẻ bị nuốt chửng bởi màn hình quá sớm, đến mức đánh mất khả năng sống chậm, đọc sâu và kết nối với cuộc sống thật.
Mỗi mùa hè trong nhà tôi thường có một thời gian biểu khá rõ ràng. Buổi sáng các con dậy sớm, tập thể dục, ăn sáng rồi học vài tiếng để ôn kiến thức cũ và chuẩn bị cho năm học mới. Buổi chiều phụ giúp việc nhà, đọc sách hoặc tham gia hoạt động ngoài trời. Buổi tối cả nhà ăn cơm, trò chuyện cùng nhau. Nghe có vẻ nhàm chán với nhiều người, nhưng chính những điều giản dị ấy lại tạo nên những ký ức đẹp nhất.
Tôi còn nhớ có năm mất điện cả buổi tối. Nếu là một đứa trẻ quen với điện thoại, có lẽ đó sẽ là “thảm họa”. Nhưng hôm ấy, hai con tôi ngồi chơi cờ cùng ba, rồi cả nhà kể chuyện cười trong ánh nến. Khoảnh khắc đó khiến tôi nhận ra trẻ con không thực sự cần quá nhiều thiết bị hiện đại để hạnh phúc.
Điều làm tôi vui nhất là các con dần hình thành tính tự giác và khả năng kiểm soát bản thân. Con trai lớn giờ đã biết tự cân bằng thời gian sử dụng điện thoại. Có hôm con chủ động đặt điện thoại sang một bên để đọc sách hoặc tập đàn. Theo tôi, đó mới là điều quan trọng cha mẹ cần dạy con trong thời đại số: làm chủ công nghệ thay vì để công nghệ điều khiển mình.
Nhiều phụ huynh than phiền rằng con cái giờ không thích nói chuyện với bố mẹ, chỉ ôm điện thoại cả ngày. Nhưng thật khó trách trẻ nếu ngay từ nhỏ người lớn đã dùng màn hình như một cách để giữ con ngoan. Một chiếc điện thoại có thể khiến đứa trẻ im lặng hàng giờ, nhưng cũng âm thầm lấy đi khả năng quan sát cuộc sống xung quanh. Khi mọi niềm vui đều đến quá nhanh chỉ bằng một cú chạm, trẻ sẽ khó còn đủ kiên nhẫn với sách vở, học tập hay những giá trị cần thời gian vun đắp.
Suốt 18 năm làm mẹ, tôi chưa bao giờ nghĩ mình hoàn hảo. Có lúc tôi cũng mệt mỏi vì phải nghiêm khắc nhắc nhở các con từng chút một. Nhưng nếu được chọn lại, tôi vẫn giữ nguyên tắc ấy trong mỗi mùa hè. Rồi một ngày nào đó, các con tôi sẽ trưởng thành, bước vào đời với vô vàn cám dỗ và lựa chọn. Tôi không thể đi theo để bảo vệ con mãi. Nhưng tôi hy vọng những mùa hè hạn chế điện thoại năm nào sẽ trở thành nền móng để các con đủ bản lĩnh làm chủ cuộc đời mình.
Hà Nội những ngày này nóng đỉnh điểm. Nhiệt độ ngoài trời vượt 40 độ C, chỉ cần bước ra đường vài phút đã thấy người rát như bị lửa đốt. Vậy mà người bạn thời đại học của tôi vẫn phơi mình dưới nắng ngoài đường mỗi ngày. Thực ra, sau khi ra trường, bạn từng có hai tháng thử việc ở một công ty trong nước. Nhưng rồi bạn bỏ ngang vì thấy lương thấp (khoảng 3,5 triệu đồng), công việc áp lực và vất vả.
Trong lúc chán nản, bạn nghe nhiều người đi trước khuyên rằng chạy xe công nghệ "dễ kiếm tiền", "tự do", "không bị gò bó", nên quyết định chuyển hướng. Hồi mới bắt đầu, bạn hào hứng khoe có ngày chạy nhiều, thu nhập thậm chí còn cao hơn lương văn phòng của tôi. Lúc đó, tôi cũng không phản đối vì nghĩ mỗi người có lựa chọn riêng. Nhưng mấy ngày nắng đỉnh điểm vừa rồi, gặp lại bạn, tôi thật sự thấy xót.
Bạn kể mỗi ngày phải chạy ngoài đường 12-15 tiếng mỗi ngày để duy trì thu nhập. Dù đã mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang, bịt kín mít từ đầu đến chân, uống nước liên tục, nhưng về đến nhà lúc nào bạn cũng trong trạng thái mệt mỏi, kiệt sức. Cuối cùng, bạn buộc phải giảm số cuốc chạy mỗi ngày để giữ sức. Thay vì chạy xuyên trưa như trước, giờ bạn nhận đơn từ sáng sớm, đến gần trưa thì về nghỉ, chiều muộn mới lại chạy tiếp đến khuya.
>> Cử nhân quản trị kinh doanh làm shipper sau ba tháng thất nghiệp
Những ngày thời tiết khắc nghiệt như thế này mới thấy rõ mặt trái của nghề shipper hay xe ôm công nghệ. Người ngoài nhìn vào thường chỉ thấy sự tự do, chủ động thời gian hoặc những câu chuyện thu nhập vài chục triệu mỗi tháng. Nhưng phía sau đó là những giờ chạy xe liên tục ngoài đường, ăn uống thất thường, phơi nắng, dầm mưa và gần như đánh đổi sức khỏe để kiếm tiền.
Tôi không hề coi thường nghề chạy xe công nghệ. Đó cũng là công việc chân chính. Nhưng nhìn bạn mình phơ mặt ngoài trời nắng hơn 40 độ C, tôi vẫn thấy tiếc vì bạn bỏ phí bốn năm đại học với một chuyên ngành có thể phát triển lâu dài hơn nếu đủ kiên trì. Tiếc vì chỉ sau vài tháng chật vật tìm việc đúng ngành, bạn đã vội vàng cất tấm bằng cử nhân vào ngăn kéo để chạy theo cảm giác "kiếm tiền nhanh".
Ra trường ai cũng áp lực tài chính, muốn sớm tự lập, muốn có thu nhập ngay thay vì chấp nhận mức lương khởi điểm thấp. Trong khi đó, công việc shipper, xe ôm công nghệ lại cho cảm giác làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, không gò bó giờ giấc hay áp lực KPI, deadline như việc văn phòng. Nhưng vấn đề là không phải ai cũng đủ sức theo công việc đó lâu dài.
Nghề nghiệp chuyên môn thường cần thời gian tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng mới có cơ hội thăng tiến, thu nhập vài năm sau có thể rất khác. Ở tuổi đôi mươi, nhiều người nghĩ mình còn trẻ thì chịu cực được. Nhưng chạy xe ngoài đường 12-15 tiếng mỗi ngày, nhiều năm liên tục, trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, không phải chuyện đơn giản. Đó là công việc ăn mòn trực tiếp vào sức khỏe.
Nhìn bạn mình, tôi càng tin rằng không gì bằng một công việc chuyên môn ổn định, nơi sức lao động trí óc có thể giúp con người đi đường dài mà không phải đánh đổi quá nhiều sức khỏe mỗi ngày.
Nhiều năm qua, người Việt vẫn có một "thước đo giá trị" rất đặc biệt với vàng. Từ giá nhà, giá đất, xe cộ cho đến một chiếc tivi hay chiếc nhẫn cưới, tất cả đều có thể được quy đổi thành "mấy chỉ", "mấy cây".
Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy nhiều người có một chiếc tivi mua bằng hai cây vàng ba mươi năm trước được đem ra tiếc nuối, dù ngày nay một chiếc tivi hiện đại hơn gấp nhiều lần còn chưa tới một chỉ vàng. Cách tư duy ấy đang âm thầm tạo ra một xã hội mà nhiều người dành cả đời để giữ tài sản nhưng lại không dám "sống".
Tôi nghĩ có lẽ đã đến lúc cần nghiên cứu một thước đo giá trị khác hiện đại hơn, nhân văn hơn, thay vì để vàng và đất trở thành chuẩn mực cao nhất của thành công. Đó phải là thước đo về chất lượng sống, khả năng sống khỏe, học tập tốt, được trải nghiệm, được sáng tạo và được tận hưởng thành quả lao động của chính mình.
Bởi nếu nhìn kỹ, nhiều người hiện nay tuy sở hữu hàng chục, hàng trăm lượng vàng nhưng cuộc sống lại rất nghèo nàn. Họ không dám chi tiêu cho sức khỏe, không dám đi du lịch, không dám đầu tư học hành cho bản thân hay con cái, không dám mở rộng kinh doanh vì sợ "mất vốn".
Họ vui khi vàng tăng giá nhưng lại không nhận ra rằng thứ quý nhất của đời người là thời gian thì đang hao hụt từng ngày. Đó chẳng khác nào hình ảnh "lão hà tiện" trong những câu chuyện ngụ ngôn ngày xưa, ôm hũ vàng đến cuối đời mà chưa từng thực sự sống.
Đáng nói hơn, tâm lý lấy vàng làm chuẩn giá trị còn tạo ra những méo mó. Người ta không còn nhìn đất như nơi để ở, để sản xuất hay tạo ra giá trị, mà chỉ nhìn xem "một mét vuông đổi được mấy chỉ vàng". Câu nói "tấc đất tấc vàng" của cha ông vốn mang ý nghĩa phải quý trọng đất đai vì đó là nơi nuôi sống con người, là nền tảng cư trú và sản xuất, nay lại bị hiểu lệch thành chuyện quy đổi đất sang vàng.
Chính vì vậy, mỗi khi giá vàng tăng thì nhiều người mặc định đất cũng phải tăng theo, bất kể khả năng khai thác thực tế hay thu nhập của xã hội ra sao. Khi tư duy ấy lan rộng, bất động sản sẽ rất khó giảm về giá trị hợp lý.
Kết quả là nguồn lực bị "đóng băng" thay vì chảy vào sản xuất, công nghệ, giáo dục hay các ngành tạo ra năng suất thực sự cho nền kinh tế. Một xã hội mà người ta kiếm lời từ việc ôm đất, ôm vàng dễ hơn từ lao động và sáng tạo thì rất khó.
Tôi nghĩ chúng ta nên kể nhiều hơn về những con người dám bán vàng để mở xưởng, mở công ty, học nghề, đầu tư công nghệ và cuối cùng tạo ra doanh nghiệp, công ăn việc làm và của cải cho xã hội. Xã hội cần tôn vinh những người làm cho đồng vốn quay vòng qua sản xuất và lao động, thay vì chỉ ca ngợi khả năng "giữ của".
Tôi cho rằng việc ôm vàng, ôm đất rồi sống kham khổ không còn là sự khôn ngoan của thời hiện đại mà nhiều khi chỉ là nỗi sợ hãi được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Một người có hàng chục lượng vàng nhưng không dám chăm sóc sức khỏe, không dám học thêm, không dám trải nghiệm cuộc sống thì chưa chắc đã giàu hơn người biết tạo ra giá trị mới và tận hưởng thành quả lao động của mình.
Đặc biệt, cần bao dung hơn với những người trẻ dám chi tiêu cho bản thân để học tập, du lịch, mở rộng hiểu biết hay thử sức kinh doanh. Với nhiều gia đình đã tích lũy được tài sản lớn, việc tiêu dùng hợp lý không còn chỉ là chuyện cá nhân mà còn là cách giúp dòng tiền lưu thông, tạo việc làm và thúc đẩy kinh tế.
Một người dám đầu tư vào tri thức, sức khỏe và năng lực lao động của bản thân thường tạo ra giá trị lâu dài lớn hơn nhiều so với người chỉ biết cất giữ vàng.
Nhiều người xung quanh nghĩ công việc này ổn định, có tương lai, nhưng chỉ bản thân tôi mới hiểu cảm giác ngày càng mất tự tin với chính công việc mình đang làm.
Khả năng phân tích của tôi không tốt như người khác. Rất nhiều lúc tôi phải đứng xem nhân viên may mẫu thao tác xong mới có thể hiểu để viết lại quy trình.
Có những kiểu dáng từng làm qua, từng xuống chuyền xem rồi nhưng sau một thời gian lại quên cách làm. Điều đó khiến tôi luôn cảm thấy mình bị động và không đủ năng lực.
Công ty hiện tại đang muốn cho tôi đi công tác, học tập ở Trung Quốc hai tháng. Với nhiều người, đó chắc là một cơ hội rất tốt. Nhưng với tôi, nó giống một áp lực lớn hơn là niềm vui.
Tôi biết vấn đề cũng nằm ở bản thân mình. Tôi không phải người tâm lý vững vàng. Mỗi khi gặp áp lực hoặc thấy việc gì quá khó, tôi thường chùn bước trước. Tôi cũng không đủ chủ động trong công việc như người khác.
Điều khiến tôi dằn vặt nhất là cảm giác bản thân đang phụ lòng những cơ hội mà cuộc đời mang đến. Tôi biết nhiều người muốn mà không có được cơ hội như tôi hiện tại. Nhưng càng gần ngày quyết định chuyện đi công tác, tôi càng mất ngủ, càng hoang mang.
Tôi muốn xin hoãn hoặc từ chối chuyến đi này vì cảm thấy kiến thức chuyên môn của mình chưa đủ vững, sợ không theo kịp, sợ học không hiệu quả. Nhưng tôi cũng sợ nếu nói ra thì sếp sẽ đánh giá không tốt về mình, thậm chí ảnh hưởng đến công việc sau này.
Có những đêm tôi trằn trọc không ngủ được chỉ vì nghĩ về chuyện đó. Tôi không biết mình đang hèn nhát, yếu đuối hay chỉ là thật sự không phù hợp với công việc hiện tại nữa.
Không biết có ai từng ở tuổi 30 mà cảm thấy bản thân vừa áp lực, vừa hoang mang, vừa không biết nên tiếp tục cố gắng giống tôi không?