Tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội), ở một góc trưng bày, có cuốn sổ tay nhỏ đã ngả màu nằm mở trong tủ kính. Trên trang giấy cũ, dưới hai chữ “Ước mơ” là những dòng chữ viết tay ngay ngắn của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Lê Thị Riêng.
Giữa những năm tháng chiến tranh, người cán bộ cách mạng đã gửi vào trang giấy nỗi nhớ 2 con đang sống xa mẹ: “Tôi ước mơ một ngày xuân thống nhất, được gặp con, được ôm ấp vỗ về…”
Không phải báo cáo công tác hay những dòng ghi chép về hoạt động cách mạng, trang sổ mở đầu bằng ước mong rất đỗi bình dị: một ngày được đến Hà Nội, gặp hai con, ôm cả hai vào lòng.
Nỗi nhớ ấy đã “chất chứa” qua nhiều năm, khi hình bóng các con luôn “lãng vãng đêm ngày” trong tâm trí người mẹ.
Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia: Bà Lê Thị Riêng sinh năm 1925 tại xã Vĩnh Mỹ, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu cũ. Mùa thu năm 1945, bà tham gia Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Bạc Liêu. Sau đó, bà lần lượt phụ trách phong trào phụ nữ tại Rạch Giá, miền Đông Nam bộ và tham gia công tác Phụ vận Xứ ủy Nam bộ.
Năm 1953, bà kết hôn với cán bộ cách mạng Lê Văn Ba, còn gọi là Lê Trọng Tam, có hai con trai tên Lê Minh Chánh và Lê Chí Công. Để cha mẹ tiếp tục hoạt động bí mật, hai con được tổ chức đưa ra miền Bắc học tập.
Khoảng cách giữa hai miền khiến những cuộc đoàn tụ chỉ còn hiện diện trong ước mơ. Bà nhớ ánh mắt trẻ thơ, khao khát được ôm ấp, vỗ về các con nhưng vẫn tự nhắc mình về trách nhiệm với đất nước.
Năm 1960, chồng bà hy sinh trong một chuyến công tác. Sau nỗi đau mất chồng, hai người con sống xa mẹ trở thành nguồn động viên để bà tiếp tục chiến đấu. Trong sổ tay, bà viết về mong ước một ngày không còn cảnh gia đình ly tán, các con sớm được gần mẹ.
Khát vọng đoàn tụ của người mẹ vì thế gắn liền với khát vọng thống nhất đất nước. Bà chọn tiếp tục chiến đấu để những đứa trẻ không còn phải xa cha mẹ, những gia đình không còn chịu cảnh tang tóc, chia lìa.
Năm 1965, bà được phân công làm Trưởng ban Phụ vận Khu ủy Sài Gòn – Gia Định. Bà tham gia xây dựng phong trào phụ nữ trong nội thành, đóng góp cho sự ra đời của Báo Phụ Nữ Giải Phóng, viết xã luận và tổng kết kinh nghiệm vận động phụ nữ miền Nam.
Ngày 9.5.1967, trong một chuyến công tác tại khu vực Đa Kao, bà bị chỉ điểm, bắt giữ. Trải qua nhiều hình thức tra tấn, bà vẫn không khai báo.
Đêm mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, bà bị đưa đi thủ tiêu cùng liệt sĩ Trần Văn Kiểu và một số chiến sĩ cách mạng. Theo lời kể của bà Phùng Ngọc Anh, khi lực lượng áp giải nổ súng, bà Lê Thị Riêng đã lấy thân mình che đạn cho đồng đội. Bà Ngọc Anh sống sót và giữ lại chiếc kẹp tóc nhỏ của người đồng đội.
Ngày đất nước thống nhất rồi cũng đến, nhưng người mẹ không còn cơ hội thực hiện ước mơ ôm hai con vào lòng. Cuốn sổ tay và chiếc kẹp tóc trở thành những kỷ vật nối hai phần cuộc đời của bà: một người mẹ nặng lòng thương con và một nữ chiến sĩ kiên trung.
Gần 60 năm sau, tại công viên mang tên Lê Thị Riêng, cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ mở ra một niềm hy vọng mới cho gia đình.
Chị Lê Ngọc Mai Uyên, cháu nội liệt sĩ Lê Thị Riêng, cho biết cha chị là ông Lê Minh Chánh đã qua đời, không kịp chứng kiến những nỗ lực tìm kiếm được triển khai tại công viên. Thay mặt gia đình và người chú là ông Lê Chí Công, chị Uyên gửi gắm mong mỏi một ngày tìm được hài cốt của bà nội.
Gia đình hiểu rằng công việc tìm kiếm và xác định danh tính rất khó khăn. Tuy nhiên, sự vào cuộc của các cơ quan chức năng, lực lượng quy tập, nhà khoa học và nhân chứng giúp họ có thêm niềm tin.
“Gia đình mong bằng sự nỗ lực của tất cả lực lượng tìm kiếm và sự chỉ đạo quyết liệt của các cơ quan, có thể tìm được hài cốt của bà nội, ông Trần Văn Kiểu cùng các liệt sĩ còn nằm lại dưới mảnh đất này”, chị Uyên chia sẻ.
Nhắc lại giây phút bà nội lấy thân mình che đạn cho đồng đội, chị Uyên nhìn thấy một sự kết nối đặc biệt với công viên hôm nay. Nơi mang tên bà đang lưu giữ ký ức về nhiều liệt sĩ chưa được xác định danh tính.
“Ngày ấy, bà nội đã dùng thân mình che chở cho đồng đội. Hôm nay, trong công viên mang tên bà, tôi có cảm giác bà vẫn đang che chở, bao bọc cho rất nhiều liệt sĩ chưa tìm lại được tên”, chị Uyên nói.
Bia tưởng niệm liệt sĩ Lê Thị Riêng và liệt sĩ Trần Văn Kiểu được dựng tại nơi hai cán bộ bị sát hại, nằm trên đường Hồng Bàng (phường Chợ Lớn, TP.HCM)
Trước đó, ngày 18.7, ông Lê Chí Công, con trai út của liệt sĩ Lê Thị Riêng, cũng đến công viên thắp hương trước bia tưởng niệm mẹ và liệt sĩ Trần Văn Kiểu.
Theo thông tin gia đình có được, sau khi hy sinh, bà Lê Thị Riêng được chôn trong một ngôi mộ tập thể tại Nghĩa địa Chí Hòa trước đây. Nghĩa địa sau đó được giải tỏa để xây dựng công viên, còn vị trí phần mộ cụ thể của bà đến nay chưa được xác định.
Vì vậy, khi lực lượng chức năng triển khai tìm kiếm, ông Công mong trước hết có thể quy tập nhiều hài cốt, đưa các liệt sĩ trở về với quê hương, gia đình. Trong niềm mong mỏi chung ấy là ước nguyện riêng đã kéo dài 58 năm: tìm được mẹ.
“Nếu may mắn tìm được hài cốt của mẹ, đó sẽ là niềm vui vô cùng lớn đối với gia đình tôi”, ông Công chia sẻ trong bài viết 58 năm, con trai anh hùng liệt sĩ Lê Thị Riêng mong đón mẹ trở về.
Cùng chờ đợi với gia đình liệt sĩ Lê Thị Riêng là bà Trần Thị Lệ Thu, con gái liệt sĩ Trần Văn Kiểu. Suốt nhiều năm, gia đình vẫn đến công viên thắp hương vào ngày giỗ, dịp Tết và Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27.7, nhưng trong lòng luôn thấp thỏm không biết người cha có thực sự nằm dưới mảnh đất này.
Trước khi qua đời, mẹ bà Thu từng mong được an táng cạnh chồng. Ước nguyện ấy chưa thể thực hiện bởi hài cốt liệt sĩ Trần Văn Kiểu vẫn chưa được tìm thấy.
Gần sáu thập kỷ trước, bà Lê Thị Riêng viết ước mơ được đi về phía các con, ôm hai con sau những năm dài xa cách. Hôm nay, con cháu bà lại chờ một hành trình theo chiều ngược lại: tìm được bà trong số những hài cốt đang được quy tập, xác định danh tính và đón người mẹ, người bà trở về với gia đình.
Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm vừa được phê duyệt, thành phố hướng đến xây dựng các Trung tâm trung chuyển hành khách đa phương thức cấp quốc gia tại khu vực Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Cảng hàng không thứ 2.
Đồng thời, hệ thống bến xe khách liên tỉnh mới sẽ được thiết lập kết hợp mạng lưới đường sắt đô thị, bãi đỗ xe trung chuyển đa phương tiện, bến xe buýt tạo thành các Trung tâm trung chuyển đa phương thức phù hợp với quá trình mở rộng và phát triển đô thị.
Cũng theo quy hoạch này, UBND thành phố từng bước chuyển đổi công năng, di dời các bến xe trong khu vực vành đai 3; bố trí quỹ đất xây dựng các điểm đỗ xe, bãi đỗ xe phù hợp nhu cầu từng khu vực, gắn với hệ thống công trình dịch vụ, giao thông công cộng, công viên cây xanh, vành đai.
Hiện nay khu vực Vành đai 3 có một số bến xe lớn như Gia Lâm, Mỹ Đình, Giáp Bát và Nước Ngầm.
Tiếp tục xây thêm cầu qua sông Hồng
Về hệ thống giao thông đường bộ, Hà Nội xây dựng đồng bộ khép kín và đưa vào khai thác toàn tuyến Vành đai 4, 4.5, Vành đai 5, mở rộng mặt cắt ngang đối với các trục hướng tâm như Đại lộ Thăng Long, Tây Thăng Long, các tuyến Quốc lộ 1A, 6, 32, 21, Trục đường Hà Đông - Xuân Mai, Trục đường kinh tế phía Nam. Quy mô bề rộng, số làn xe các tuyến đường được cải thiện đảm bảo đáp ứng theo quy chuẩn.
Hà Nội sẽ tập trung đầu tư xây dựng mới các cầu qua sông Hồng gồm cầu Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi, Mễ Sở, Hồng Hà, cải tạo mở rộng cầu
Chương Dương và các cầu qua sông Đuống, sông Đà, khơi thông kết nối hầm. Thành phố cũng sẽ ưu tiên giải pháp hầm vượt sông đa tầng (kết hợp đường bộ và đường sắt) để tiết kiệm quỹ đất giải phóng mặt bằng và bảo vệ cảnh quan.
Cũng theo quy hoạch này, Hà Nội định hướng sẽ bổ sung các tuyến đường, cầu/hầm kết nối 5 tỉnh tiếp giáp Hà Nội.
Hạn chế phương tiện cá nhân theo vành đai
Về định hướng giao thông công cộng, Hà Nội phấn đấu tỷ lệ đảm nhận của giao thông công cộng đạt 25%-30% vào năm 2035; 40%-45% vào năm 2045 và 55-60% vào năm 2065. Để đạt được mục tiêu này, thành phố sẽ thiết lập các vùng hạn chế phương tiện cá nhân vào khu vực nội đô lịch sử theo các lớp vành đai đồng bộ với các vùng phát thải thấp; hướng tới 100% phương tiện xe buýt, taxi sử dụng năng lượng xanh.
Ngoài ra, thành phố cũng dành đủ đất cho hạ tầng giao thông công cộng như bãi đỗ - trạm sạc, trạm bảo dưỡng sửa chữa xe buýt; khai thác không gian đa tầng.
Hà Nội sẽ nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo để quản lý, khai thác tối đa năng lực của hệ thống giao thông; phục vụ dự báo, xây dựng đề án, kế hoạch phát triển hạ tầng giao thông.
Suốt hàng chục năm từ ngày đất nước có hòa bình, nhiều cựu chiến binh sống sót đã vượt hàng ngàn cây số từ miền Bắc vào lại chiến trường xưa để thắp hương vọng nhớ, tìm mọi cách đón đồng đội về quê nhà.
Một ngày giữa tháng 6, chiếc xe biển đỏ của Bộ Chỉ huy Quân sự TP Đà Nẵng chở nhóm cựu chiến binh các đơn vị như Trung đoàn 31, Trung đoàn 36, Trung đoàn 141, Trung đoàn Pháo binh 575 từ các tỉnh phía Bắc tìm tới vị trí hang Đá Sập (xã Hà Nha, TP Đà Nẵng) để thăm lại chiến trường xưa, cung cấp các thông tin phục vụ đợt quy tập liệt sĩ quy mô do Quân khu 5 tổ chức.
Đứng trước dãy bia mộ tại nghĩa trang liệt sĩ xã Hà Nha, ông Nguyễn Đình Cáp (sinh năm 1947, xã Ô Diên, thành phố Hà Nội), cựu chiến binh Trung đoàn Pháo binh 575, cầm bó nhang nghi ngút khói, cúi đầu vái lạy các anh linh liệt sĩ.
Ông Cáp nghẹn lời: "Các đồng chí ơi, đất nước hưởng hòa bình rồi! Anh em chúng tôi được về với mẹ, lấy vợ, nay có con cháu đầy đủ cả rồi mà các đồng chí vẫn nằm lại ở đây, có người không có tên, có người xương còn vất vưởng trong hang núi, làm sao chúng tôi an lòng được".
Khu vực xã Hà Nha từng là vùng tiếp giáp giữa khu giải phóng và vùng tạm chiếm của chính quyền cũ.
Năm 1969, Hà Nha là nơi tiếp nhận lương thực, đạn dược phục vụ cho chiến trường vùng cao. Đây cũng là nơi quân đội Mỹ, Việt Nam cộng hòa tập trung đánh phá gây nhiều thương vong cho bộ đội và dân thường.
Ông Lê Huy Từ (79 tuổi, quê xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên), Phó ban liên lạc Trung đoàn Pháo binh 575, cho biết ngày 25-4-1969 là mốc thời gian khiến ông tới nay vẫn ám ảnh. Thời điểm này các hang đá ở các quả đồi cao tại xã Hà Nha là nơi nương náu, đóng quân của nhiều đơn vị bộ đội ta.
Ông Từ kể khoảng 10h trưa 25-4, khi bộ đội ta nấu cơm trong hang thì vô tình để khói bốc lên qua những tán rừng già. Máy bay trinh sát của Mỹ lập tức quần đảo vòng quanh.
Chỉ ít phút sau, pháo hạng nặng dồn dập từ các hướng trút vào nơi có làn khói bốc lên. Máy bay chiến đấu F4 xé toạc bầu trời và bổ nhào xuống các vị trí hang rồi ném bom, giội tên lửa liên tục.
"Thời điểm đó bộ đội ta án ngữ trong nhiều vị trí hang. Chúng tôi ở mạn phía Đông hang Đá Sập.
Một lúc sau, lần lượt các hang bị bom xé tơi tả. Quả bom bay xuống ngay gần vị trí tôi đang ngồi nhưng không phát nổ" - ông Từ nhớ lại.
Ông Lê Huy Từ, ông Nguyễn Đình Cáp là những người sống sót, trực tiếp chứng kiến cuộc thảm sát của Mỹ vào các hang đá ở Hà Nha. Theo hai ông, cuộc tập kích của pháo binh, máy bay F4 Mỹ kéo dài từ 10h trưa và phải tới hơn 13h mới kết thúc.
Khi tiếng máy bay im bặt, các miệng hang sập tan nát, bộ đội người trúng mảnh bom, có người bị kẹt dưới đất đá và sau đó được người dân, các đơn vị tổ chức mai táng ở nhiều vị trí. Trận giội bom này của Mỹ cũng khiến ít nhất 4 chiến sĩ của Trung đoàn Pháo binh 575 hy sinh, tới nay chưa tìm được hài cốt.
Ông Từ, ông Cáp cho biết sau trận tập kích ở quanh hang Đá Sập, xã Hà Nha, hai người sống sót và chuyển qua nhiều đơn vị. Ngày hòa bình lập lại, cả ông Từ, ông Cáp về quê nhà ở miền Bắc xây dựng gia đình.
Phó ban liên lạc Trung đoàn Pháo binh 575 Lê Huy Từ nói rằng suốt 57 năm từ ngày đơn vị bị Mỹ tấn công ở hang Đá Sập đến nay, ông và những người còn sống luôn tự hứa với nhau rằng sẽ tìm mọi cách để vào chiến trường xưa, tìm lại vị trí hang nơi đồng đội đã nằm lại để tìm kiếm các hài cốt, đưa đồng đội về quê nhà.
Tuy nhiên vì hoàn cảnh khó khăn, cuộc sống nhiều lo toan nên mãi tới năm 2004 họ mới sắp xếp được chuyến đi đầu tiên.
Theo ông Nguyễn Đình Cáp, do thời gian quá lâu, thông tin chắp vá nên năm 2004 khi lần đầu cố gắng tìm đến xã Hà Nha, các cựu chiến binh không thể tìm ra được vị trí hang Đá Sập nơi chứa nhiều hài cốt liệt sĩ còn vùi trong hang.
Chuyến đi đó họ đứng giữa mênh mông núi đá, thắp hương vọng vái đồng đội và hứa món nợ lương tâm sẽ thực hiện bằng được.
Ông Lê Huy Từ cho biết liên tiếp trong các năm 2016, 2018, 2019 ông và các anh em đồng đội quay lại xã Hà Nha để cố gắng tìm hang Đá Sập nhưng không thành.
Năm 2020, thêm một lần nữa họ lại quay lại và may mắn tìm được những nữ cán bộ thu mua lương thực cấp cho bộ đội thuộc Thương Nghiệp K600.
Qua lời kể, những cựu cán bộ này cho biết đã trực tiếp cùng bà con địa phương chôn cất bộ đội hy sinh nằm ngoài miệng hang đá vào ngày 25-4-1969.
Được sự chỉ dẫn của các nhân chứng này, ông Từ cùng đồng đội luồn rừng và tìm tới được vị trí hang Đá Sập.
Sau hơn nửa thế kỷ, toàn bộ hang là nơi đồn trú của bộ đội đã bị các tảng đá lớn sập xuống bịt kín, cây dại mọc um tùm. Quá đau xót, họ sụp xuống khóc thương đồng đội, hứa sẽ tìm mọi cách để đưa hài cốt các anh ra bên ngoài.
Trực tiếp cung cấp thông tin cho Bộ Chỉ huy Quân sự TP Đà Nẵng và lãnh đạo Quân khu 5, các cựu chiến binh của Trung đoàn Pháo binh 575 cho biết họ biết chắc chắn có ít nhất 4 liệt sĩ đang nằm lại trong hang đá.
Ông Nguyễn Đình Cáp kể rằng hơn 20 năm qua, đều đặn đến ngày 25-4 hằng năm, anh em còn sống của Trung đoàn Pháo binh 575 đều tìm về hang Đá Sập để tổ chức lễ giỗ cho đồng đội.
Lượng đất đá lớn vùi lấp miệng hang khiến không ai có thể vào bên trong. Những người lính năm nào phải đứng ngoài ứa nước mắt nói vọng vào, mong đồng đội có thể "nghe" thấy.
"Ngày đó, mỗi người lính chúng tôi đều giữ trong tim lời thề: nếu chết thì thôi, còn sống thì về báo tin cho gia đình của đồng đội.
Mình còn sống được là quá quý! Bản thân mình có vợ, có con, nghĩ lại thương những đồng đội ra đi khi còn quá trẻ, thương những người con mất cha, những người vợ chờ chồng", ông Cáp xúc động nói.
Bộ Tư pháp vừa có báo cáo tiếp thu, giải trình bước đầu ý kiến của đại biểu Quốc hội về luật Thủ đô (sửa đổi).
Đối với việc ban hành các văn bản điều chỉnh về trình tự, thủ tục hành chính, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính (được quy định tại điều 8), đại biểu đề nghị xem xét, bổ sung cơ chế đánh giá nếu sau 1 năm thực hiện mà chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp không giảm như cam kết thì văn bản đó phải được tạm đình chỉ để xem xét sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp.
Tiếp thu ý kiến của đại biểu, Bộ Tư pháp dự kiến bổ sung vào khoản 3 điều 33 dự thảo luật về trách nhiệm của chính quyền TP.Hà Nội theo hướng: "Tổ chức đánh giá hiệu quả đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định tại điều 8 của luật này sau một năm thi hành".
Nghiên cứu để bổ sung vào điểm e khoản 3: "Hằng năm báo cáo HĐND thành phố, Chính phủ về việc thi hành luật Thủ đô".
Nghiên cứu để bổ sung vào điểm b khoản 2 điều 33 về trách nhiệm của HĐND TP.Hà Nội: "Định kỳ hằng năm báo cáo Quốc hội về việc thi hành luật Thủ đô".
Để bảo đảm tính thống nhất, Bộ Tư pháp cho biết sẽ nghiên cứu, bổ sung tương ứng vào điểm c khoản 7 điều 9 về thí điểm cơ chế, chính sách về trách nhiệm của UBND TP.Hà Nội "báo cáo đánh giá định kỳ hằng năm" hoặc theo yêu cầu của HĐND và cơ quan có thẩm quyền về tình hình, kết quả thí điểm.
Về thí điểm cơ chế, chính sách, có ý kiến đề nghị nghiên cứu quy định về cơ chế tự chấm dứt hoặc rà soát lại (sunset clause). Theo đó, nghị quyết thí điểm chính sách chỉ có hiệu lực thi hành tối đa 5 năm, sau thời gian này văn bản tự động hết hiệu lực.
Tiếp thu ý kiến, Bộ Tư pháp cho biết sẽ nghiên cứu, chỉnh lý các quy định tại khoản 2 điều 9 theo hướng việc thí điểm cơ chế, chính sách phải bảo đảm các nguyên tắc: thời gian thí điểm không quá 5 năm.
Nghiên cứu, bổ sung vào khoản 4 điều 9 về việc HĐND TP.Hà Nội phải dự kiến kết quả, tác động của thí điểm.
Nghiên cứu, bổ sung vào khoản 7 điều 9 theo hướng UBND TP.Hà Nội có trách nhiệm: "Xử lý hoặc kiến nghị xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện; tạm dừng thực hiện thí điểm và báo cáo HĐND thành phố xem xét, quyết định trong trường hợp việc thí điểm có ảnh hưởng tiêu cực vượt quá mức độ đã được dự báo".
Luật Thủ đô (sửa đổi) dự kiến được xem xét, biểu quyết thông qua tại đợt 2, kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI vào sáng 23.4 tới đây.