Nhiều người lâu nay cho rằng chỉ cần mua kim cương tại các thương hiệu lớn, có giấy kiểm định là an toàn. Tuy nhiên, sau khi hàng loạt giám đốc doanh nghiệp kim cương nổi tiếng bị khởi tố trong vụ án buôn lậu vừa qua, niềm tin này đang bị đặt dấu hỏi.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Khôi, DGemG, Giảng viên cao cấp, Trưởng Ban Kỹ thuật TC174: Đồ Trang sức, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ, nêu quan điểm: Vụ việc lần này không phải là vấn đề một vài doanh nghiệp mà là cả thị trường đá quý Việt Nam.
Một trong những bất cập mang tính hệ thống là cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn nhiều hạn chế. Phần lớn người dùng Việt Nam chưa có kiến thức cơ bản để phân biệt kim cương, đá quý tự nhiên với đá đã qua xử lý, cũng như các tiêu chuẩn đánh giá giá trị.
“Trong các giao dịch, người tiêu dùng gần như chỉ dựa vào chứng thư kiểm định do các tổ chức cấp và uy tín của doanh nghiệp”, ông Khôi nhận định.
Trong khi đó, nhà nước gần như thả lỏng hoạt động của các tổ chức kiểm định kim cương đá quý. Khác với vàng, hiện nay không có cơ quan nhà nước nào thống nhất cấp phép và quản lý hoạt động các tổ chức kiểm định kim cương đá quý.
Theo ông Khôi, các tổ chức kiểm định trong lĩnh vực này khi được Bộ (Sở) Khoa học và Công nghệ cấp chứng nhận hoạt động khoa học công nghệ, khi do Bộ (Sở) Công thương cấp phép. Thậm chí không cần các điều kiện cụ thể nào về cơ sở vật chất, nhân lực, trang thiết bị…
Thực tế, các tổ chức kiểm định kim cương đá quý sinh ra quá nhiều. Đơn cử như Hà Nội 13 Lab, TP.HCM 11 Lab, Yên Bái 3 Lab, Đà Nẵng 2 Lab, Cần Thơ 1 Lab…
Vụ việc vừa qua là minh chứng cho thấy các đơn vị đã cấp ra những chứng thư không đảm bảo yêu cầu cả về chuyên môn lẫn nghiệp vụ.
Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Cố vấn tài chính FIDT, cũng nhận ra bất cập lớn khi Việt Nam chưa có yêu cầu bắt buộc về tính độc lập của đơn vị giám định.
“Pháp luật không cấm doanh nghiệp bán lẻ sở hữu phòng kiểm định của riêng mình. Dù không sai luật, nhưng lại tạo ra xung đột lợi ích tiềm ẩn, bởi bên bán và bên giám định có thể thuộc cùng một hệ thống”, bà Hương nhấn mạnh.
Đây cũng là lý do nhiều quốc gia luôn coi tính độc lập của đơn vị kiểm định là yếu tố cốt lõi, tương tự như yêu cầu về kiểm toán độc lập trong lĩnh vực tài chính.
“Và rồi rủi ro cuối cùng vì vậy vẫn thuộc về người tiêu dùng. Khi niềm tin thị trường suy giảm, dù doanh nghiệp có cam kết thu mua lại nhưng quá nhiều khách hàng cùng bán trong một thời điểm, sẽ gặp áp lực thanh khoản. Khi đó, quyền lợi của người mua sẽ phụ thuộc rất lớn vào năng lực tài chính và khả năng thực hiện cam kết của doanh nghiệp”, bà Hương nói.
Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, nhiều người còn nhầm lẫn giữa giấy kiểm định và giấy tờ chứng minh nguồn gốc. Giấy kiểm định chỉ xác nhận đặc tính của viên kim cương như trọng lượng, màu sắc, độ tinh khiết…, nhưng không chứng minh viên đá được nhập khẩu hợp pháp hay có nguồn gốc như thế nào.
Trong khi đó, pháp luật hiện cũng không bắt buộc doanh nghiệp phải cung cấp hồ sơ nguồn gốc này cho khách hàng khi bán lẻ.
Bàn về vấn đề này, ông Khôi đề xuất nhà nước cần có cơ quan cấp phép và quản lý hoạt động của các tổ chức kiểm định kim cương đá quý.
Trước hết cần rà soát lại tất cả các tổ chức kiểm định hiện đang hoạt động, kiểm tra các điều kiện về nhân sự, trang thiết bị, cơ sở vật chất, quy trình kiểm định, trách nhiệm của tổ chức kiểm định theo các yêu cầu chung của cơ quan quản lý nhà nước.
“Các tổ chức kiểm định cần hoạt động độc lập với các doanh nghiệp bán lẻ”, ông Khôi nhấn mạnh.
Cũng theo vị chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm, để đảm bảo việc mua bán kim cương, đá quý minh bạch, Việt Nam tiến tới rất cần sàn giao dịch kim cương và đá quý như ở một số nước trên thế giới như Bỉ, Ấn Độ, Israel, Singapore….
“Điều này giúp quản lý tốt hơn và chống buôn lậu. Sàn giao dịch sẽ yêu cầu quy trình kiểm định độc lập, chuẩn hóa quốc tế, chặn đứng các viên đá giả hoặc không rõ nguồn gốc”, ông Khôi đề xuất.
Trong thời gian chờ sàn giao dịch được thành lập, ông Khôi cho rằng cần một cơ chế giám sát và kiểm định độc lập. Cụ thể , thành lập một phòng giám định đạt chuẩn quốc tế tại Hà Nội và một phòng tương tự tại Tp. HCM.
Các phòng này có thể do Nhà nước thành lập giống như Viện Ngọc học và Trang sức Thái Lan (GIT – Gem and Jewelry Institute of Thailand) hoặc thành lập trong khuôn khổ Hội Đá quý Việt Nam hay Hội Mỹ Nghệ Kim hoàn Đá quý Việt Nam.
Các phòng này có chức năng kiểm định độc lập đạt chuẩn quốc tế, đồng thời kiểm tra giám sát hoạt động của các tổ chức kiểm định khác.
Nêu quan điểm, bà Hương nhấn mạnh điều quan trọng không phải là quản lý nhiều hơn, mà là quản lý đúng trọng tâm. Mục tiêu cuối cùng không phải tạo thêm thủ tục cho doanh nghiệp, mà là khôi phục niềm tin của người tiêu dùng thông qua tính minh bạch và sự độc lập trong kiểm định.
Nếu không có cơ chế kiểm tra chéo hoặc giám sát độc lập, thì những vụ việc tương tự vừa qua hoàn toàn có thể lặp lại ở các doanh nghiệp khác, bởi vấn đề nằm ở cấu trúc của hệ thống chứ không chỉ ở một doanh nghiệp cụ thể.
“Hiện việc quản lý kim cương vẫn còn phân tán giữa nhiều cơ quan và nhiều giai đoạn. Thị trường cần một cơ chế quản lý thống nhất hơn đối với hoạt động kiểm định, truy xuất và công bố thông tin”, và Hương nhấn mạnh.
Sau gần hai thập kỷ phát triển năng lượng tái tạo kể từ dự án điện gió Tuy Phong 1, nhân sự Việt Nam đã từng bước làm chủ phần lớn các khâu từ khảo sát, thiết kế, thi công đến vận hành dự án.
Theo các chuyên gia, thách thức hiện nay không còn là phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài mà là nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng, phát triển các dịch vụ kỹ thuật giá trị cao và cơ hội xuất khẩu nhân lực cho thị trường quốc tế.
Ngày 20-6, phát biểu tại hội thảo Giải pháp bảo vệ cáp ngầm dưới biển ở TP.HCM, ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió và mặt trời tỉnh Lâm Đồng, cho biết năng lượng tái tạo đang trở thành một trong những động lực quan trọng phục vụ mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam.
Theo ông Thịnh, Việt Nam sở hữu tiềm năng điện gió thuộc nhóm lớn nhất Đông Nam Á, trong khi tỉ trọng năng lượng tái tạo trong hệ thống điện vẫn còn nhiều dư địa để mở rộng. Các mục tiêu giảm phát thải và cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 sẽ tiếp tục tạo động lực cho ngành phát triển trong nhiều thập niên tới.
Đáng chú ý, cùng với sự phát triển của thị trường, năng lực của đội ngũ kỹ sư và doanh nghiệp trong nước cũng đã thay đổi đáng kể.
Ông Thịnh cho biết ở giai đoạn đầu, các dự án năng lượng tái tạo phải phụ thuộc lớn vào chuyên gia nước ngoài. Tuy nhiên đến nay, nhân lực Việt Nam đã có thể đảm nhận hầu hết các công việc từ khảo sát gió, phân tích dữ liệu, thiết kế, thi công đến vận hành dự án.
"Hiện nay nhân lực Việt Nam đã có thể đảm nhận hoàn toàn các công việc như khảo sát gió, phân tích dữ liệu, thiết kế, thi công và vận hành dự án. Nhiều dự án mới, trong đó có điện gió Phú Lạc, người Việt đã làm chủ hầu hết các khâu", ông Thịnh cho biết.
Ông cũng cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam đã tích lũy kinh nghiệm trong các dự án cáp điện ngầm phục vụ cấp điện cho các đảo như Phú Quốc, Phú Quý hay gần đây là Côn Đảo, tạo nền tảng để tham gia các dự án điện gió ngoài khơi trong tương lai.
Theo ông Ethan Liang, Quản lý kinh doanh khu vực của Panduit, tập đoàn Mỹ chuyên về hạ tầng điện, các thiết bị phụ trợ, như giải pháp bảo vệ cáp điện ngầm, đóng vai trò quan trọng đối với các dự án điện gió.
Ông cho rằng Việt Nam có cơ hội thu hút các nhà sản xuất thiết bị phụ trợ phục vụ ngành năng lượng tái tạo đầu tư nhà máy tại đây, nhờ triển vọng tăng trưởng dài hạn của thị trường năng lượng nội địa và khu vực.
Cùng với đó, ông Đinh Văn Nguyên, Trưởng phòng dịch vụ ngoài khơi thuộc Công ty tư vấn OWC (Tập đoàn ABL), nhận định nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đủ năng lực đảm nhận các công việc chuyên môn trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Nếu nhu cầu thị trường đủ lớn, các doanh nghiệp trong nước hoàn toàn có thể đầu tư sản xuất các thiết bị và phụ kiện phục vụ ngành.
Ông cho biết khoảng 90% nhân sự của OWC tại Việt Nam là người Việt, tham gia các hoạt động tư vấn và thiết kế cho nhiều dự án năng lượng tái tạo. Doanh nghiệp này cũng kỳ vọng phát triển văn phòng tại Việt Nam thành trung tâm điều phối hoạt động cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
"Nhân lực Việt Nam không chỉ phục vụ các dự án trong nước mà còn có cơ hội tham gia các dự án tại châu Á - Thái Bình Dương và châu Âu", ông Nguyên nói.
Phần lớn giới đầu tư coi sự thống trị của USD là một chân lý vĩnh cửu trên thị trường tài chính. Thế nhưng, lịch sử lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác. Việc đồng tiền này giữ vị thế dự trữ toàn cầu không phải là điều độc nhất mà chỉ là chương mới nhất trong một chu kỳ tiền tệ lặp đi lặp lại.
Nếu mô hình lịch sử này tiếp diễn, thế giới không chỉ chứng kiến sự thay đổi trong thương mại toàn cầu. Chúng ta có thể sắp bước vào một trong những đợt chuyển giao tài sản lớn nhất. Trong vòng xoáy biến động đó, vàng và bạc đang dần khẳng định lại vị trí trung tâm của mình.
Chu kỳ tàn lụi của những "đế chế" tiền tệ
Đồng USD không tự nhiên ngồi lên ngai vàng. Trật tự này được thiết lập từ năm 1944 tại Hội nghị Bretton Woods, khi các quốc gia đồng ý neo nội tệ vào USD và USD được bảo chứng bằng vàng. Nhưng đến năm 1971, mối liên kết cuối cùng này bị cắt đứt. Thế giới bước vào kỷ nguyên tiền pháp định, nơi hệ thống dự trữ chỉ dựa vào cam kết của chính phủ.
Tuy nhiên, không có hệ thống nào tồn tại mãi mãi. Trung bình cứ 30-40 năm, thế giới lại trải qua một cuộc chuyển đổi tiền tệ lớn. Kỷ nguyên của đồng USD hiện đã vượt xa ngưỡng thời gian đó.
Theo dữ liệu từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tỷ trọng USD trong dự trữ ngoại hối toàn cầu đã lao dốc từ đỉnh 72% năm 2001 xuống còn khoảng 57% hiện nay. Mức sụt giảm này mang tính cấu trúc, phản ánh sự xói mòn sâu sắc về niềm tin thể chế và vị thế địa chính trị.
Quá trình này gợi nhớ đến sự sụp đổ của đồng bảng Anh sau Thế chiến thứ hai. Khi đó, tỷ trọng dự trữ của đồng tiền này bốc hơi từ 81% xuống dưới 3% trong vài thập kỷ, cuốn trôi tài sản của những người nắm giữ do lạm phát và phá giá.
Khoảng trống quyền lực và bước đi của các "cá mập"
Điều khiến giới tài chính lo ngại là thế giới hiện không có một đồng tiền thay thế xứng tầm. Các cuộc chuyển đổi trong quá khứ vẫn giữ lại một phần liên kết với tài sản cứng. Ngày nay, toàn bộ hệ thống dựa hoàn toàn vào tiền giấy. Đồng nhân dân tệ dù được nhắc đến nhiều nhưng mới chỉ chiếm khoảng 2% dự trữ toàn cầu.
Nếu đồng tiền mạnh nhất thế giới tiếp tục suy yếu, một cuộc khủng hoảng niềm tin sẽ lan rộng sang cả euro, yên Nhật hay bảng Anh. Bởi lẽ, tất cả đều vận hành trên cùng một nền tảng cam kết của chính phủ phát hành.
Nhận thức rõ rủi ro này, các ngân hàng trung ương đang âm thầm hành động. Theo Hội đồng Vàng Thế giới (World Gold Council), các tổ chức này đã ồ ạt mua vào hơn 1.000 tấn vàng mỗi năm trong giai đoạn 2022-2024. Tốc độ gom hàng gấp đôi thập kỷ trước cho thấy họ không hề lướt sóng ngắn hạn.
Giới chức tiền tệ đang tìm kiếm một "lá chắn cấu trúc", một loại tài sản không đi kèm rủi ro vỡ nợ từ bất kỳ bên thứ ba nào.
Sức bật của kim loại quý trong trật tự mới
Khi hệ thống tiền tệ rạn nứt, dòng vốn không biến mất mà sẽ chảy về những tài sản hữu hạn. Vàng nhiều khả năng sẽ hưởng lợi kép. Kim loại quý này không chỉ tăng giá khi USD yếu đi mà còn có cơ hội trở thành mỏ neo trung lập cho hệ thống tài chính mới.
Một mô hình giả định của quỹ VanEck từng chỉ ra rằng, nếu vàng hấp thụ hoàn toàn vai trò dự trữ của USD, mức định giá có thể đạt những con số khổng lồ. Dù chỉ là kịch bản cực đoan, dữ liệu này cho thấy dư địa định giá lại của vàng là rất lớn. Khảo sát năm 2025 của World Gold Council cũng khẳng định 95% ngân hàng trung ương dự kiến tiếp tục tăng dự trữ vàng.
Trong khi đó, bạc đóng vai trò như một phiên bản khuếch đại biến động. Lịch sử lạm phát đình trệ thập niên 1970 từng chứng kiến giá bạc bứt tốc từ dưới 2 USD lên gần 50 USD mỗi ounce, vượt xa biên độ tăng của vàng.
Bên cạnh yếu tố tiền tệ, bạc còn nắm giữ lợi thế độc tôn nhờ nhu cầu công nghiệp khổng lồ. Kim loại này là vật liệu cốt lõi trong sản xuất xe điện, pin mặt trời và công nghệ cao. Lực đẩy kép này giúp bạc có thể bứt phá cực mạnh khi thị trường bước vào chu kỳ tăng giá mới.
Luận điểm đầu tư vào kim loại quý không nhất thiết dựa trên việc xác định chính xác thời điểm đồng USD suy giảm vai trò trong hệ thống tài chính toàn cầu mà nó dựa trên quy luật tất yếu của các chu kỳ tài chính.
Những nhà đầu tư chiến thắng trong các cuộc chuyển giao lịch sử không bao giờ đợi đến khi khủng hoảng tràn ngập trên các mặt báo. Cửa sổ cơ hội tích lũy tài sản luôn lặng lẽ mở ra từ rất lâu trước khi đám đông kịp nhận biết.
Công ty TNHH Hàng không Mặt trời Phú Quốc (Sun PhuQuoc Airways) vừa tăng vốn điều lệ từ 7.300 tỷ đồng lên 13.300 tỷ đồng, đồng thời nâng số lượng thành viên góp vốn lên 10 sau khi xuất hiện thêm 5 pháp nhân góp vốn mới.
Trong đó, Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Mặt Trời Sài Gòn, Công ty TNHH Công viên Châu Á, Công ty TNHH Tập đoàn Sun World và Công ty TNHH Mặt Trời Vũng Tàu cùng nắm giữ 4,95% vốn điều lệ mỗi doanh nghiệp.
4 pháp nhân này đều thuộc hệ sinh thái của CTCP Tập đoàn Mặt Trời (Sun Group).
Song song đó, Công ty TNHH Lan Anh - Phú Quốc sở hữu 19,5% vốn điều lệ, qua đó trở thành thành viên góp vốn lớn nhất tại Sun PhuQuoc Airways. Doanh nghiệp này được biết có liên hệ với hệ sinh thái Sun Group khi Công ty TNHH Mặt Trời Phú Quốc đang nắm giữ 29,48% vốn điều lệ, còn CTCP Mặt Trời Hà Nam sở hữu 23,24% vốn tại Lan Anh - Phú Quốc.
Ngoài 5 pháp nhân trên, cơ cấu sở hữu của Sun PhuQuoc Airways còn có sự góp mặt của các cá nhân, bao gồm ông Trịnh Hải Đông sở hữu 15,96% vốn điều lệ, ông Huỳnh Phan Hoàng Nhật Thiên nắm 14,82% và ông Nguyễn Xuân Hậu sở hữu 18,47%.
Bên cạnh đó, Công ty TNHH Đầu tư Tập đoàn Mặt Trời nắm 10,7% vốn điều lệ, công ty TNHH Mặt Trời Phú Quốc sở hữu 0,737%.
Sun PhuQuoc Airways được biết đến là “tân binh” trong ngành hàng không, được thành lập vào cuối tháng 1/2025. Trong giai đoạn cuối năm 2025, Sun PhuQuoc Airways cũng đã tăng vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng lên 7.300 tỷ đồng.
Sự gia nhập và đầu tư mạnh của tập đoàn này diễn ra trong bối cảnh ngành hàng không Việt bước vào thời kỳ tăng trưởng nóng trở lại. Không chỉ Sun Group, "đại gia" Masterise cũng gia nhập, cùng loạt tân binh như LOTHA Airlines, Crystal Bay Airlines...
Sự sôi động của thị trường còn được tiếp sức bởi những điều chỉnh quan trọng về mặt pháp lý. Luật Hàng không dân dụng (sửa đổi) chính thức có hiệu lực từ năm 2026 được kỳ vọng sẽ tạo ra khung hành lang thông thoáng, phù hợp với tốc độ phát triển hạ tầng hiện nay.
Các siêu dự án như Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cùng kế hoạch mở rộng sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất đang đóng vai trò là thỏi nam châm thu hút các dòng vốn lớn.
Giới chuyên môn nhận định, với đà tăng trưởng hai con số và sự xuất hiện của các định chế tài chính mới, hàng không Việt Nam đang đứng trước thềm bứt phá, sớm lấy lại quy mô vận chuyển như thời điểm trước đại dịch và hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm kết nối hàng đầu khu vực.