Reuters ngày 16.7 đưa tin quân đội Mỹ vừa tấn công các vị trí phòng thủ và tên lửa trên đảo Greater Tunb của Iran, trước khi tiến hành đợt không kích thứ 2 nhắm vào nhiều thành phố của nước này. Trong khi đó, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran cho biết đã đáp trả bằng đợt tấn công các cơ sở quân sự của Mỹ tại Bahrain, Kuwait và Jordan.
Đáng chú ý, quân đội Mỹ còn cho biết đã bắn tên lửa Hellfire để vô hiệu hóa một tàu dầu không tải đang hướng về đảo Kharg của Iran, sau khi tàu này nhiều lần phớt lờ cảnh báo vi phạm lệnh phong tỏa do Mỹ áp đặt. Tình hình leo thang đến mức Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf tuyên bố nước này đang trong “cuộc chiến sống còn” với Mỹ.
Một quan chức Mỹ cho biết các cuộc tấn công mới nhất có thể được xem là “hoạt động chuẩn bị” nhằm làm suy yếu hệ thống phòng thủ của Iran trong trường hợp quân đội Mỹ nhận lệnh tiến hành các hoạt động quy mô lớn hơn. Hồi tháng 3, truyền thông loan tin Mỹ có thể điều quân đến bờ biển Iran để bảo vệ eo biển Hormuz. Khi đó, giới chức Mỹ cho biết Washington còn cân nhắc điều quân đến đảo Kharg của Iran. Theo ông Imran Bayoumi, cựu quan chức Lầu Năm Góc hiện làm việc tại tổ chức Atlantic Council (Mỹ), những bình luận mạnh mẽ của Tổng thống Donald Trump trong những ngày qua dường như nhằm gây áp lực lên Iran trên bàn đàm phán, đồng thời khiến Tehran khó đoán định bước đi tiếp theo của quân đội Mỹ.
Về phía Iran, ông Ghalibaf hôm 15.7 nói nước này sẽ “tự vệ trên chiến trường cũng như tại bàn đàm phán”. Đây là phát biểu công khai đầu tiên của ông sau diễn biến leo thang trong vài ngày qua. Trong thông cáo phát trên Đài IRIB ngày 16.7, phát ngôn viên quân đội Iran Ebrahim Zolfaghari tuyên bố sẽ không để Mỹ can thiệp vào việc kiểm soát eo biển Hormuz và gọi đó là “lằn ranh đỏ”. Ông Zolfaghari còn tuyên bố Iran sẽ tấn công hạ tầng khắp khu vực nếu ông Trump thực hiện lời đe dọa tấn công hạ tầng Iran.
Trước những diễn biến leo thang và vòng luẩn quẩn xung đột – đàm phán với những nút thắt khó tháo gỡ, giới quan sát lo ngại Mỹ có nguy cơ vướng vào một “cuộc chiến bất tận”. Ông Lawrence Freedman, giáo sư danh dự về nghiên cứu chiến tranh tại Đại học King’s College London (Anh), cho rằng các nhà lãnh đạo sở hữu quân đội hùng mạnh “thường dễ mắc phải sai lầm về chiến tranh ngắn hạn”. “Họ nghĩ rằng có thể giành chiến thắng nhanh chóng mà không phải gánh chịu hậu quả bất lợi”, tờ The New York Times ngày 16.7 dẫn lời ông Freedman nhận định. Tuy nhiên, ngay cả lực lượng quân sự tinh vi nhất cũng chưa đủ nếu không có chiến lược biến ưu thế trên chiến trường thành thắng lợi lâu dài về chính trị và ngoại giao.
Tổng thống Trump có thể tìm cách tuyên bố chiến thắng và kết thúc xung đột nhưng nút thắt về eo biển Hormuz có thể khiến Mỹ phải duy trì lực lượng lâu dài tại đây. Ở một khía cạnh khác, xung đột tại Iran khác với tại Iraq hay Afghanistan, nơi Mỹ duy trì hàng ngàn binh sĩ trên bộ trong thời gian dài. Một vấn đề nữa là xung đột tại Iran có thể gây thiệt hại cho kinh tế Mỹ và toàn cầu. Đây cũng là lý do hàng đầu khiến Iran quyết không từ bỏ việc kiểm soát eo biển.
Ông Ali Vaez, Giám đốc chương trình Iran tại Tổ chức Khủng hoảng Quốc tế (Bỉ), chỉ ra Mỹ và Iran thậm chí không thể tuân thủ một thỏa thuận khung tối thiểu, trong đó tạm gác lại tất cả vấn đề chính như chương trình hạt nhân của Iran. Theo ông, nếu không duy trì được thỏa thuận đó, rào cản cuối cùng giữa các cuộc đối đầu lẻ tẻ và một cuộc chiến kéo dài sẽ bị phá vỡ.
Video đăng trên mạng xã hội hôm 6/4 và được chuyên trang quân sự Mỹ War Zone phân tích cho thấy phần đầu tên lửa đánh chặn thuộc Hệ thống Phòng thủ Tầm cao Giai đoạn cuối (THAAD) nằm tại bãi đất trống gần thành phố Suwayda, tây nam Syria.
Bộ phận này còn tương đối nguyên vẹn. Nắp che ở đầu tên lửa đã bung ra và để lộ cửa sổ của đầu dò ảnh nhiệt.
Thành phố Suwayda nằm cách biên giới với Jordan khoảng 40 km về phía bắc và Israel gần 90 km về phía đông. Mỹ dường như đang triển khai các khẩu đội THAAD tại hai quốc gia này, nhằm đối phó với các đòn tấn công bằng tên lửa đạn đạo từ Iran.
Lầu Năm Góc chưa bình luận về thông tin.
THAAD là một trong những lá chắn phòng thủ tên lửa hiện đại nhất trong biên chế quân đội Mỹ. Đây cũng là hệ thống phòng không duy nhất của Mỹ có khả năng chặn tên lửa đạn đạo từ tầm ngắn đến tầm xa ở giai đoạn cuối, khi chúng đang lao xuống mục tiêu, ở cả trong và ngoài khí quyển.
Tên lửa đánh chặn của tổ hợp THAAD có tầm bắn 200 km và trần bay 150 km, trang bị cảm biến ảnh nhiệt để bám bắt mục tiêu và phá hủy chúng bằng va chạm trực tiếp, không dùng thuốc nổ. Báo cáo ngân sách của Cơ quan Phòng thủ Tên lửa (MDA) thuộc Lầu Năm Góc cho thấy mỗi quả đạn THAAD có giá 12-15 triệu USD, tùy lô sản xuất.
Sau khi tên lửa rời bệ phóng và đạt độ cao tối ưu, bộ phận chiến đấu được gọi là "phương tiện tiêu diệt" sẽ tách khỏi tầng đẩy. Nắp che mũi, có nhiệm vụ bảo vệ đầu dò ảnh nhiệt và phần còn lại của phương tiện tiêu diệt trong quá trình tăng tốc, cũng sẽ tách ra.
"Phương tiện tiêu diệt còn nguyên vẹn cho thấy khả năng tên lửa đã gặp trục trặc, phóng xịt hoặc trượt mục tiêu. Chưa rõ ai đang nắm giữ các bộ phận này", Joseph Trevithick, biên tập viên của War Zone cho hay.
Chuyên gia Mỹ cảnh báo nguy cơ rò rỉ bí mật công nghệ nếu đầu dò tên lửa THAAD rơi vào tay đối thủ của Washington.
"Tiếp cận được đầu dò tên lửa THAAD, cũng như toàn bộ phương tiện tiêu diệt, sẽ giúp đối thủ hiểu biết thêm về năng lực của nó. Thông tin sau đó có thể được sử dụng để phát triển các phương pháp đối phó mới, cũng như kỹ thuật và chiến thuật nhằm làm suy giảm hiệu quả đánh chặn", Trevithick cho hay.
Một hệ thống THAAD hoàn chỉnh có giá khoảng một tỷ USD, gồm đài điều khiển, radar đa chức năng AN/TPY-2, thiết bị kỹ thuật và 6 bệ phóng với tổng cộng 48 đạn sẵn sàng khai hỏa, thường cần khoảng 100 binh sĩ vận hành.
Hàng loạt khẩu đội THAAD của Mỹ và đồng minh Trung Đông đã hứng đòn trả đũa từ Iran, trong đó ít nhất hai "radar mắt thần" AN/TPY-2 bố trí ở Jordan và Arab Saudi đã bị phá hủy hoàn toàn. Nguồn cung tên lửa THAAD của Mỹ dường như cũng không thể bù đắp cho tốc độ tiêu hao trong chiến sự, dẫn tới nguy cơ các tổ hợp tại đây bị cạn đạn nếu xung đột tiếp tục kéo dài.
Hãng thông tấn Reuters hôm 5/4 dẫn lời quan chức Mỹ giấu tên cho biết các binh sĩ đặc nhiệm nước này đã trải qua nhiều giờ căng thẳng khi phải chờ đợi máy bay dự bị đến đón, sau khi hai vận tải cơ đặc nhiệm MC-130J Commando II gặp trục trặc kỹ thuật và không thể cất cánh từ sân bay dã chiến ở Iran.
"Nếu có khoảnh khắc nào khiến chúng tôi phải thốt lên 'trời đất ơi' thì chính là lúc đó", quan chức Mỹ cho hay, đồng thời ca ngợi giới chỉ huy vì đã đưa ra quyết định nhanh chóng giúp cứu vãn tình thế.
Nhằm giải cứu sĩ quan điều khiển vũ khí của tiêm kích F-15E bị bắn rơi tại Iran hôm 3/4, khoảng 100 đặc nhiệm Mỹ đã bí mật xâm nhập sâu vào lãnh thổ đối phương trong đêm, rồi leo lên ngọn núi cao hơn 2.000 m để tiếp cận mục tiêu. Phi công và đặc nhiệm Mỹ sau đó rút về điểm tập kết trước bình minh, sẵn sàng lên vận tải cơ để rút lui.
Hai chiếc MC-130J gặp sự cố khiến toàn bộ chiến dịch đối mặt nguy cơ đổ vỡ. Các chỉ huy sau đó ra quyết định mạo hiểm là triển khai thêm máy bay dự bị vào Iran để sơ tán quân nhân ra ngoài theo từng đợt.
Canh bạc này đã thành công và lực lượng Mỹ rút khỏi Iran an toàn. Trước khi rời đi, họ đã phá hủy tổng cộng 6 máy bay, gồm hai vận tải cơ MC-130J bị hư hỏng và 4 trực thăng, để ngăn Iran tiếp cận thiết bị quân sự nhạy cảm, theo quan chức Mỹ.
Con số này nhiều hơn thông tin ban đầu, khi New York Times nói rằng chỉ có hai vận tải cơ bị bỏ lại. Reuters không nêu lý do các trực thăng bị lực lượng Mỹ phá hủy trước khi rời đi.
Lầu Năm Góc chưa bình luận về thông tin.
Hình ảnh hiện trường do truyền thông Iran công bố cho thấy ít nhất hai xác trực thăng AH/MH-6 Little Bird, bên cạnh phi cơ MC-130J. Hai mẫu này lần lượt có giá 2-7 triệu USD và khoảng 114 triệu USD mỗi chiếc. Trực thăng Little Bird có thể nằm gọn trong khoang chở hàng của phi cơ MC-130J, nên nhiều khả năng đã được chở theo khi làm nhiệm vụ giải cứu.
Tyler Rogoway, biên tập viên của War Zone, nhận định quá trình rút quân khẩn cấp sau khi hai máy bay MC-130J gặp sự cố khiến lực lượng Mỹ không còn thời gian hoặc chỗ trống để đưa trực thăng lên máy bay dự bị. "Cũng có khả năng chúng bị hư hại trong quá trình tác chiến và bị vứt bỏ", chuyên gia Mỹ nêu quan điểm.
Trong khi đó, quân đội Iran tuyên bố lực lượng nước này đã bắn hạ hai trực thăng và một máy bay vận tải C-130 tham gia chiến dịch tìm kiếm phi công Mỹ.
Lầu Năm Góc cho biết không có trường hợp thiệt mạng trong chiến dịch giải cứu. Tuy nhiên, quân đội Mỹ cũng hứng chịu nhiều tổn thất khí tài trong nỗ lực giải cứu. Bên cạnh các vận tải cơ MC-130J và trực thăng bị phá hủy, một cường kích A-10 đã bị phòng không Iran bắn rơi khi đang yểm trợ lực lượng tìm kiếm.
Hai trực thăng cứu nạn chiến đấu HH-60W Jolly Green II cũng trúng hỏa lực Iran, khiến ít nhất một quân nhân bị thương, nhưng đã hạ cánh an toàn ở lãnh thổ đồng minh của Mỹ. Chưa rõ mức độ hư hại của chúng.
Phạm Giang (Theo Reuters, New York Post, War Zone)
Đội tuyển Argentina đã đánh bại đối thủ Anh với tỷ số 2-1 trong trận bán kết World Cup hôm 15/7 tại Atlanta. Trong lễ ăn mừng sau trận đấu, các cầu thủ Argentina đã giơ cao biểu ngữ do người hâm mộ trên khán đài trao tặng, với dòng chữ "Quần đảo Malvinas là của Argentina".
Malvinas là cách người Argentina gọi quần đảo Falkland, vùng lãnh thổ nhỏ ở Nam Đại Tây Dương, thuộc quyền quản lý của Anh và là tâm điểm tranh chấp chủ quyền giữa hai nước suốt nhiều thập kỷ qua.
Với hành động này, các cầu thủ Argentina có thể phải đối mặt với án kỷ luật từ Liên đoàn Bóng đá Thế giới (FIFA) vì vi phạm các quy định cấm truyền tải thông điệp chính trị trên sân cỏ.
Bộ trưởng Thương mại Anh Peter Kyle ngày 16/7 nói hành vi của các cầu thủ Argentina "hoàn toàn không phù hợp".
"Một trong những nguyên tắc cốt lõi của World Cup là chính trị phải tách biệt với bóng đá. Giờ đây, đó là vấn đề của FIFA. Tôi kỳ vọng FIFA sẽ tiến hành điều tra một cách kỹ lưỡng", ông Kyle nói với BBC.
Falkland nằm cách bờ biển Argentina khoảng 500 km và cách Anh hơn 13.000 km. Quần đảo gồm hai đảo chính là Đông Falkland và Tây Falkland, cùng 778 đảo nhỏ, dân số khoảng 3.600 người, phần lớn có nguồn gốc Anh.
Kinh tế ở quần đảo chủ yếu dựa vào nguồn thu từ cấp phép đánh bắt cá, chăn nuôi và du lịch. Falkland được cho là sở hữu tiềm năng dầu khí ngoài khơi và giữ vị trí chiến lược trên các tuyến hàng hải hướng về Nam Đại Tây Dương và Nam Cực.
Anh tuyên bố chủ quyền đối với đảo Tây Falkland năm 1765. Pháp và Tây Ban Nha cũng từng thiết lập các khu định cư trên quần đảo trong những giai đoạn khác nhau.
Năm 1833, Anh tái khẳng định quyền kiểm soát và duy trì việc quản lý quần đảo cho đến nay. Trong khi đó, Argentina cho rằng sau khi giành độc lập từ Tây Ban Nha năm 1816, nước này kế thừa quyền quản lý quần đảo và cáo buộc London giành quyền kiểm soát quần đảo bằng hành động thực dân phi pháp.
Mâu thuẫn giữa hai bên về chủ quyền quần đảo Falkland âm ỉ suốt gần 150 năm trước khi bùng nổ thành chiến tranh vào tháng 4/1982. Sau 74 ngày giao tranh, quân đội Anh tái kiểm soát Falkland và Argentina tuyên bố đầu hàng vào tháng 6/1982.
Cuộc chiến khiến 649 binh sĩ Argentina, 255 quân nhân Anh và ba cư dân Falkland thiệt mạng. Argentina thua trong cuộc chiến, nhưng chưa bao giờ từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình với Falkland.