Khế là một loại trái cây nhiệt đới có kết cấu giòn và mọng nước. Loại quả này gần như có quanh năm tại Đài Loan, rất giàu vitamin A, C, phức hợp vitamin B, cùng các khoáng chất như kali và magie. Mỗi 100 gram khế chứa 34 calo và 2,8 gram chất xơ. Mặc dù giá trị dinh dưỡng cao, loại quả này lại tiềm ẩn nguy cơ gây ngộ độc, theo bác sĩ Lin Hsuan-jen, chuyên khoa thận tại Đại học châu Á, ở thành phố Đài Trung, Đài Loan, Trung Quốc.
Trong bài chia sẻ trên trang cá nhân, bác sĩ Lin cho hay vào năm 1998, Brazil là quốc gia đầu tiên ghi nhận các trường hợp bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính xuất hiện triệu chứng động kinh sau khi ăn khế. Sự việc này đã thôi thúc giới y khoa bắt tay vào nghiên cứu. Năm 2013, một nhóm nghiên cứu tại Đại học São Paulo (Brazil) đã phân lập được độc tố từ quả khế. Nghiên cứu này chứng minh rằng loại độc tố trên vừa ức chế các chất dẫn truyền thần kinh, vừa kích thích các dây thần kinh hoạt động quá mức. Điều này phá vỡ sự cân bằng của hệ thần kinh trung ương, khiến cơ thể rơi vào trạng thái hưng phấn quá độ và mất kiểm soát.
Bên cạnh đó, khế còn chứa một lượng lớn axit oxalic. Khi chất này tích tụ nhanh trong cơ thể sẽ tạo thành muối canxi oxalat lắng đọng tại các ống thận, kích hoạt phản ứng viêm thận cấp tính. Axit oxalic cũng chịu tác động từ độc tố trong quả khế, làm giảm tác dụng ức chế của nó đối với hệ thần kinh, từ đó kích ứng gây ra các cơn nấc cụt liên tục hoặc co giật, động kinh.
Ở trạng thái khỏe mạnh, thận của mọi người đều có thể dễ dàng chuyển hóa và đào thải các độc tố từ quả khế ra ngoài. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có chức năng thận kém, khả năng lọc của thận bị suy giảm, các độc tố này sẽ bị ứ đọng lại trong cơ thể thay vì được bài tiết. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có chức năng thận kém và khả năng lọc của thận suy giảm, các độc tố này sẽ không thể đào thải hiệu quả mà tích tụ lại trong cơ thể, gây tổn thương hệ thần kinh trung ương và dẫn đến trạng thái lú lẫn, co giật và động kinh liên tục.
Triệu chứng ban đầu phổ biến nhất khi bị ngộ độc khế là các cơn nấc cụt liên tục không thể kiểm soát. Khi tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn, độc tố sẽ kích ứng hệ vận động thần kinh, gây tê bì chân tay, rối loạn cảm giác, suy giảm cơ lực hoặc lú lẫn nhẹ. Một khi hệ thần kinh bị rối loạn từ mức độ trung bình đến nặng, bệnh nhân có thể rơi vào hôn mê, co giật, tụt huyết áp và sốc. Trong trường hợp nghiêm trọng nhất, nhiễm độc khế hoàn toàn có thể dẫn đến tử vong.
Bác sĩ Lin cho biết các số liệu thống kê cho thấy ngay cả những người có chức năng thận hoàn toàn bình thường, việc ăn từ 4 quả khế trở lên một lúc vẫn có thể dẫn đến suy thận cấp tính. Trong khi đó, đối với các bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính giai đoạn 3, khả năng chống độc của cơ thể bị sụt giảm nghiêm trọng. Ở nhóm này, chỉ cần tiêu thụ một lượng rất nhỏ, khoảng một phần tư quả khế, cũng đủ để kích hoạt phản ứng ngộ độc.
Hiệp hội Thận học Đài Loan khuyến cáo 4 nhóm sau đây không tiêu thụ khế gồm: bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo, người mắc bệnh thận mạn tính từ giai đoạn 3 trở lên, người đang trong quá trình hồi phục sau suy thận cấp và những người từng phẫu thuật cắt bỏ một bên thận trong vòng 6 tháng trở lại đây.
Bác sĩ nhấn mạnh có tới 23% số ca ngộ độc khế xảy ra ở những bệnh nhân tiểu đường hoặc cao huyết áp, những người vốn tin rằng chức năng thận của mình “bình thường”. Nguyên nhân là do họ có thể đã bị tổn thương thận giai đoạn đầu âm thầm mà chưa được khám và chẩn đoán ra.
Quan niệm ăn nhiều bữa nhỏ xuất hiện vì được cho là giúp ngăn ăn quá nhiều và hạn chế cảm giác đói đột ngột. Ý tưởng này nghe có vẻ hợp lý: Cơ thể được “nạp nhiên liệu” liên tục thì quá trình trao đổi chất sẽ hoạt động tốt hơn.
Tuy nhiên, theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), khi nói đến cân nặng và sức khỏe chuyển hóa, tổng lượng calo tiêu thụ và chất lượng thực phẩm quan trọng hơn nhiều so với số lần ăn trong ngày.
Chuyên gia dinh dưỡng Parul Yadav, Bệnh viện Marengo Asia (Ấn Độ) cho biết, đồ ăn vặt hiện đại thường không phải trái cây, các loại hạt hay món tự nấu mà chủ yếu là bánh quy, snack đóng gói, nước ngọt hoặc thực phẩm chế biến sẵn; dù chỉ ăn từng ít một nhưng tổng lượng calo vẫn có thể vượt mức cần thiết, khiến tăng cân thay vì giảm cân.
Ngoài ra, ăn uống vô thức ngày càng phổ biến trong cuộc sống bận rộn. Nhiều người vừa ăn vừa xem điện thoại, làm việc hoặc xem phim nên dần khó nhận biết cảm giác đói thật sự, theo Times of India (Ấn Độ).
Bác sĩ Shabana Parveen, Trưởng bộ phận Dinh dưỡng Lâm sàng - Tiết chế, Bệnh viện Artemis (Ấn Độ) nói thêm, nhiều trường hợp ăn không phải vì đói mà do căng thẳng, buồn chán hoặc thói quen hằng ngày.
Mỗi lần ăn, đặc biệt là thực phẩm nhiều đường hoặc tinh bột tinh chế, đường huyết sẽ tăng lên và cơ thể tiết insulin để đưa đường vào tế bào. Vấn đề không nằm ở insulin mà ở việc hormone này liên tục ở mức cao suốt cả ngày nếu ăn quá thường xuyên.
Theo bác sĩ Parveen, insulin cao kéo dài có thể làm giảm khả năng đốt mỡ của cơ thể, từ đó dẫn đến tăng cân và tăng nguy cơ kháng insulin. Nghiên cứu từ Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ (thuộc NIH) cũng cho thấy việc insulin tăng cao kéo dài có liên quan đến rối loạn chuyển hóa và giảm độ nhạy insulin theo thời gian.
Các chuyên gia cho rằng hệ tiêu hóa không được thiết kế để làm việc liên tục cả ngày mà không có khoảng nghỉ. Ăn liên tục có thể khiến nhiều người cảm thấy đầy bụng, nặng nề hoặc ăn mãi vẫn không thấy thỏa mãn.
Theo bà Yadav, cơ thể cần thời gian nghỉ giữa các bữa để tiêu hóa thức ăn hiệu quả hơn. Nếu lúc nào cũng ăn, nhịp sinh học tự nhiên của cơ thể có thể bị ảnh hưởng, gây đầy hơi hoặc chán ăn.
Từ đó các chuyên gia nhấn mạnh, với nhiều người khỏe mạnh, việc ăn liên tục chỉ vì “xu hướng sống khỏe” có thể không cần thiết. Bác sĩ Parveen cho rằng điều quan trọng hơn là ăn gì và ăn bao nhiêu, thay vì chỉ tập trung vào việc ăn bao nhiêu lần trong ngày. Các bữa ăn đủ protein, chất xơ và chất béo tốt sẽ giúp no lâu hơn, giữ đường huyết ổn định và hỗ trợ sức khỏe tổng thể tốt hơn.
Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát huyết áp. Tuy nhiên, với đạm - nhóm thực phẩm gần như không thể thiếu trong mỗi bữa ăn - tác động của từng nguồn đạm đối với huyết áp vẫn chưa thực sự rõ ràng.
Giờ đây, nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí của Hiệp hội Tim mạch Mỹ (JAHA) đã làm sáng tỏ vấn đề trên, khi chỉ ra nguồn đạm có lợi nhất để ổn định huyết áp, đặc biệt ở người lớn tuổi.
Để tìm hiểu tác động của đạm thực vật và đạm động vật đối với nguy cơ tăng huyết áp, các nhà nghiên cứu tại Trường Y tế Công cộng UT Health Houston (Mỹ) đã phân tích dữ liệu của 2.294 người từ 45 đến 84 tuổi, không bị tăng huyết áp ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu.
Lượng đạm tiêu thụ hằng ngày được đánh giá thông qua bảng câu hỏi về tần suất ăn uống, bao gồm đạm động vật như thịt, cá và đạm thực vật như đậu hũ, các loại đậu.
Trung bình, người tham gia tiêu thụ khoảng 68 gram đạm mỗi ngày, trong đó khoảng 24 gram đến từ nguồn thực vật, phần còn lại là từ động vật.
Trong thời gian theo dõi trung bình 9 năm, có 1.356 trường hợp tăng huyết áp được ghi nhận.
Kết quả cho thấy việc tiêu thụ đạm động vật không làm thay đổi đáng kể nguy cơ tăng huyết áp. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là tiêu thụ lượng đạm thực vật càng nhiều thì nguy cơ tăng huyết áp càng thấp.
Cụ thể, cứ mỗi 20 gram đạm thực vật như đậu hũ hoặc các loại đậu được bổ sung mỗi ngày, nguy cơ tăng huyết áp giảm 16%. Theo JAHA, lợi ích này duy trì ổn định ở mức tiêu thụ khoảng 30 gram đạm thực vật/ngày.
Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ, các nguồn đạm thực vật tốt bao gồm đậu hũ, sữa đậu nành và các loại đậu. Ngoài ra, các loại hạt, yến mạch cũng là nguồn đạm thực vật lành mạnh, đồng thời cung cấp chất xơ, vitamin, khoáng chất và nhiều dưỡng chất có lợi khác.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng việc tăng cường và đa dạng hóa nguồn đạm thực vật trong chế độ ăn - như đậu hũ và các loại đậu - có thể giúp giảm nguy cơ tăng huyết áp. Trong khi đó, đạm động vật vẫn có thể được tiêu thụ ở mức hợp lý mà không làm tăng đáng kể nguy cơ huyết áp cao ở người lớn tuổi.
Ngày 24-4, bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Thủy - Phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ Medic Bạc Liêu - cho biết ê kíp bác sĩ của bệnh viện vừa phẫu thuật nội soi loại bỏ triệt để tổn thương, khép lại hành trình đau đớn kéo dài cho bệnh nhân V.T.T. (54 tuổi, ngụ xã Đông Hải, tỉnh Cà Mau) sau 17 năm "sống chung" với nhân xơ tử cung.
Trước đó, bệnh nhân V.T.T. nhập viện trong tình trạng đau bụng dữ dội, vùng hạ vị căng tức và âm đạo xuất huyết. Bệnh nhân cho biết đã phát hiện nhân xơ tử cung từ 17 năm trước, đến nay bụng dưới đau nhiều nên đến thăm khám.
Ngay khi tiếp nhận, các bác sĩ đã chỉ định bệnh nhân thực hiện các cận lâm sàng chuyên sâu. Kết quả thu được bởi hệ thống MRI 3.0T tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) cho thấy bệnh nhân có đa nhân xơ phân loại FIGO 3, 4, 5; kích thước to lên tới 82x80mm đã bắt đầu thoái hóa, gây chèn ép và viêm nhiễm cổ tử cung.
Trước tình trạng trên kèm theo yếu tố nguy cơ tim mạch, các bác sĩ đã chỉ định thực hiện phẫu thuật nội soi cắt hoàn toàn tử cung và hai phần phụ. Đây là một phương pháp đòi hỏi độ chính xác cao, giúp hạn chế xâm lấn thành bụng và giảm nguy cơ biến chứng sau mổ. Nhờ đó bệnh nhân giảm đáng kể lượng máu mất trong quá trình phẫu thuật, ít đau sau mổ, hạn chế sẹo và có thể hồi phục nhanh hơn so với các phương pháp mổ mở truyền thống.
Khối u nặng 650g được lấy ra và gửi giải phẫu để xác định tính chất mô. Sau ca phẫu thuật, bệnh nhân đã tỉnh táo, cảm giác đau tức và nặng nề vùng bụng dưới thuyên giảm nhiều. Hiện bà T. đang được chăm sóc tại khoa sản - phụ khoa của bệnh viện, và dự kiến sẽ xuất viện trong vài ngày tới.
Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Thủy khuyến cáo việc duy trì thói quen khám phụ khoa định kỳ 3 tháng/lần là chìa khóa quan trọng để phụ nữ chủ động tầm soát và phát hiện sớm bệnh lý từ giai đoạn khởi phát.
Ngay khi cơ thể xuất hiện các dấu hiệu bất thường như đau bụng dưới, rong kinh hay cảm giác căng tức vùng chậu, người dân nên đến ngay các cơ sở y tế uy tín để được chẩn đoán và điều trị.