Mitsubishi Thái Lan xác nhận sẽ trình làng Mitsubishi Attrage 2026 vào ngày 1-7-2026, tiếp tục duy trì dòng sedan cỡ nhỏ đã có mặt trên thị trường hơn một thập kỷ.
Attrage lần đầu ra mắt tại Thái Lan vào tháng 6-2013, sau mẫu hatchback Mirage khoảng một năm.
Đến cuối năm 2019, mẫu sedan này được nâng cấp lớn giữa vòng đời với phần đầu xe áp dụng ngôn ngữ thiết kế Dynamic Shield. Kể từ đó đến nay, Mitsubishi chủ yếu điều chỉnh danh mục phiên bản và bổ sung trang bị.
Ở lần nâng cấp gần nhất vào năm 2023, tất cả các phiên bản Attrage đều được trang bị hệ thống chống bó cứng phanh (ABS), phân phối lực phanh điện tử (EBD), hỗ trợ phanh khẩn cấp (BA), cân bằng điện tử (ASC) và hỗ trợ khởi hành ngang dốc (HSA).
Trong khi đó, phiên bản 1.2 Smart được bổ sung thêm hệ thống cảnh báo va chạm phía trước kết hợp hỗ trợ giảm tốc (FCM-LS) và hệ thống hạn chế tăng tốc ngoài ý muốn khi người lái đạp ga mạnh (RMS-Forward).
Theo Autolifethailand, một trong những điểm đáng chờ đợi nhất trên Mitsubishi Attrage 2026 là khả năng được bổ sung 6 túi khí, bao gồm túi khí trước, túi khí bên và túi khí rèm.
Nếu điều này trở thành hiện thực, đây sẽ là nâng cấp đáng kể về an toàn trên mẫu sedan cỡ B này.
Ngoài ra, xe cũng được kỳ vọng sẽ sử dụng thiết kế vô-lăng mới tương tự các mẫu Mitsubishi đời mới.
Về vận hành, Mitsubishi Attrage 2026 được cho là chỉ tinh chỉnh nhẹ thay vì thay đổi hoàn toàn.
Xe nhiều khả năng vẫn sử dụng động cơ xăng 3 xi-lanh mã 3A92 dung tích 1.2L, sản sinh công suất 78 mã lực tại 6.000 vòng/phút và mô-men xoắn 100Nm tại 4.000 vòng/phút.
Động cơ kết hợp với hộp số tự động vô cấp INVECS III-CVT và có thể sử dụng xăng E20. Phiên bản số sàn 5 cấp đã bị Mitsubishi khai tử từ năm 2023.
Attrage tiếp tục tồn tại thông qua các bản cập nhật, chưa có thông tin về việc ra mắt thế hệ mới – Ảnh: Autolifethailand
Hiện Mitsubishi vẫn chưa công bố những thay đổi cụ thể về thiết kế, trang bị hay giá bán của Attrage 2026. Toàn bộ thông tin sẽ được hé lộ khi mẫu xe chính thức ra mắt tại Thái Lan vào ngày 1-7.
Trong bối cảnh nhiều hãng xe đã rút lui khỏi phân khúc sedan cỡ nhỏ giá rẻ, việc Mitsubishi tiếp tục duy trì và nâng cấp Attrage cho thấy hãng vẫn đặt kỳ vọng vào dòng xe này, ít nhất tại một số thị trường Đông Nam Á.
Ở Việt Nam, Attrage vẫn đang tiếp tục được phân phối với giá 380 – 490 triệu đồng, tuy nhiên doanh số chưa cao. Tháng 5-2026, Attrage đứng cuối nhóm xe cỡ B (Kia Soluto không cáo báo doanh số) với 107 xe bán ra, giảm so với mức 136 xe của tháng trước đó, doanh số lũy kế đạt 613 xe.
Phiên bản nâng cấp (facelift) của Honda City vừa được bắt gặp trên đường phố Ấn Độ mà không có bất kỳ lớp ngụy trang nào. Hình ảnh này cho thấy cái nhìn rõ rệt về định hướng thiết kế mới của hãng xe Nhật Bản dành cho mẫu sedan chiến lược trong năm 2026.
Ở phiên bản mới, City 2026 áp dụng ngôn ngữ thiết kế toàn cầu mới nhất của hãng, tương tự những gì đã áp dụng trên đàn anh Accord hay mẫu xe thể thao Prelude. Tổng thể, City phiên bản mới sở hữu diện mạo thanh thoát và góc cạnh hơn bản hiện hành.
Thay đổi tập trung chủ yếu ở phần đầu xe. Cụm đèn pha LED thiết kế lại, tích hợp dải đèn ban ngày, kết hợp cùng lưới tản nhiệt mới với họa tiết lưới tổ ong xếp lớp theo phương ngang. Lưới tản nhiệt này kéo dài và nối với cụm đèn. Cản trước mới với các hốc gió sắc nét hơn và khe hút gió dưới thon gọn hơn.
Thân xe giữ nguyên, ở các bản cao nhất sẽ có bộ vành thiết kế mới. Cụm đèn hậu và cản sau cũng tinh chỉnh nhẹ để đồng bộ với tổng thể.
Ở nội thất, City 2026 không có sự thay đổi nào, theo Motorbeam. Tuy nhiên, hãng xe Nhật Bản tập trung vào bổ sung các trang bị tiện nghi để tăng sức cạnh tranh. Theo giới truyền thông Ấn Độ, City 2026 bổ sung camera 360, nâng cấp hệ thống thông tin giải trí và tăng cường các tính năng kết nối thông minh. Trong khi các tiện nghi khác vẫn giữ nguyên để đảm bảo trải nghiệm thực dụng vốn là thế mạnh của dòng xe này.
City 2026 tiếp tục sử dụng hệ truyền động như phiên bản hiện hành, máy xăng 1,5 lít hút khí tự nhiên, công suất 121 mã lực, mô-men xoắn cực đại 145 Nm. Tùy chọn số sàn hoặc CVT. Hệ thống an toàn không thay đổi với gói công nghệ hỗ trợ lái ADAS Honda Sensing nhiều tính năng.
Việc ra mắt phiên bản nâng cấp với những thay đổi tập trung vào thẩm mỹ và tính năng, cho thấy quyết tâm của Honda trong việc giữ vững thị phần sedan cỡ B trước áp lực ngày càng lớn đến từ các đối thủ.
Ngày 19-5-2026, Skoda Epiq đã chính thức được vén màn cùng giá bán khởi điểm 26.000 euro. Đây là mẫu xe thương mại đầu tiên của hãng sử dụng nền tảng khung gầm điện MEB+ thuộc Tập đoàn Volkswagen, đồng thời đóng vai trò mở đầu cho dải sản phẩm thuần điện thế hệ mới của Skoda.
Theo Skoda, phiên bản tiêu chuẩn của Epiq sẽ được định giá tương đương các mẫu SUV chạy xăng cùng cỡ như Skoda Kamiq tại nhiều thị trường. Xe dự kiến được sản xuất tại châu Âu.
Khoang cabin của Skoda Epiq sử dụng nhiều vật liệu tái chế và vật liệu nhân tạo không có nguồn gốc động vật. Ghế ngồi được hoàn thiện bằng chất liệu giả da Techtona kết hợp sợi polyester tái chế (PES) - Ảnh: Skoda
Thông số cụ thể các phiên bản:
Trong giai đoạn đầu mở bán, Skoda còn giới thiệu phiên bản đặc biệt Epiq First Edition sử dụng cấu hình pin và động cơ của bản Epiq 55 - Ảnh: Skoda
Hơn một năm sau khi ra mắt thế hệ thứ 6 tại quê nhà, Subaru đã tiến hành nâng cấp nhẹ cho dòng SUV chủ lực Subaru Forester tại thị trường Nhật Bản. Điểm thay đổi đáng chú ý nhất là sự xuất hiện của phiên bản tiêu chuẩn mới mang tên Touring.
Về thiết kế ngoại thất, Forester Touring sử dụng các chi tiết ốp cản trước và cản sau bằng nhựa đen không sơn, đồng bộ với phần ốp thân xe. Xe trang bị bộ mâm hợp kim 18inch thiết kế 5 chấu tương tự các phiên bản Sport và X-Break nhưng hoàn thiện theo kiểu hai tông màu cắt kim cương.
Bên trong khoang cabin, phiên bản Touring sử dụng ghế bọc nỉ với hai tùy chọn màu đen hoặc xám/bạch kim. Nội thất được nhấn nhá bằng các đường chỉ khâu màu xanh trên ghế và chỉ bạc tại khu vực cần số.
Bản Touring sử dụng nội thất nỉ, đồng hồ dạng analog - Ảnh: Subaru
Khác với phiên bản tiêu chuẩn tại Mỹ chỉ dùng màn hình 7inch, Forester Touring tại Nhật Bản được trang bị màn hình giải trí trung tâm kích thước 11,6inch ngay từ bản tiêu chuẩn. Tuy nhiên xe vẫn sử dụng cụm đồng hồ analog kết hợp màn hình hiển thị trung tâm 4,2inch thay vì bảng đồng hồ kỹ thuật số hoàn toàn.
Danh sách trang bị tiêu chuẩn còn bao gồm ghế lái chỉnh điện 10 hướng có nhớ vị trí, ghế phụ chỉnh điện 8 hướng, sưởi hàng ghế trước và hai ghế ngoài phía sau, cùng gương chiếu hậu gập điện.
Người dùng muốn nhiều công nghệ hơn có thể nâng cấp lên phiên bản Touring EX. Biến thể này bổ sung cụm đồng hồ kỹ thuật số 12,3inch và hệ thống hỗ trợ lái nâng cao EyeSight X - trang bị không có trên bản Touring tiêu chuẩn.
Dải sản phẩm Forester tại Nhật Bản hiện còn có các phiên bản Sport EX với điểm nhấn màu đồng, Sport EX Black Selection theo phong cách tối giản, X-Break thiên hướng dã ngoại và Premium EX cao cấp nhất với cấu hình tương đương bản Touring tại Mỹ. Trong khi đó, khách hàng Nhật Bản không được phân phối phiên bản Subaru Forester Wilderness.
Về vận hành, Subaru không thay đổi thông số kỹ thuật. Các phiên bản Touring, Touring EX, Sport và Sport EX tiếp tục sử dụng động cơ boxer 1.8L tăng áp 4 xi-lanh, cho công suất 174 mã lực và mô-men xoắn 300Nm.
Sức mạnh được truyền qua hộp số CVT kết hợp hệ dẫn động bốn bánh toàn thời gian Symmetrical AWD đặc trưng của Subaru.
Trong khi đó, các phiên bản X-Break, X-Break EX và Premium EX sử dụng hệ truyền động hybrid tự sạc S:HEV. Hệ thống này kết hợp động cơ e-Boxer 2.5L công suất 158 mã lực với mô tơ điện 118 mã lực cùng bộ pin lithium-ion dung lượng 1,1kWh.
Ngoài các phiên bản mới, Forester facelift còn được nâng cấp gương chiếu hậu thông minh với độ phân giải cao hơn và sạc điện thoại không dây tốc độ nhanh hơn. Riêng các phiên bản hybrid được bổ sung ổ cắm điện AC 100V công suất tối đa 1.500W để cấp điện cho thiết bị ngoại vi.
Hiện Subaru Forester bản nâng cấp đã nhận đặt hàng tại Nhật Bản với mục tiêu doanh số 2.200 xe/tháng. Phiên bản Touring có giá khởi điểm từ 3,85 triệu yen (khoảng 638 triệu đồng), trong khi Touring EX có giá từ 3,993 triệu yen (khoảng 661 triệu đồng).
Ở nhóm cao cấp nhất, bản Premium S:HEV EX được niêm yết tới 4,642 triệu yen, tương đương khoảng 769 triệu đồng.
Tại Việt Nam, Subaru Forester hiện sử dụng động cơ 2.5L với giá bán từ 1,299 - 1,399 tỉ đồng. Trong thời gian tới, phiên bản hybrid 2.5L nhập khẩu Nhật Bản dự kiến cũng sẽ được đưa về thị trường trong nước với mức giá có thể cao hơn đáng kể.